Làng Xóm Việt NamPhần 19
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
hơn. Ăn uống được là bao mà
cô đào hay không.
phải đi bộ bốn năm cây số rồi
Trong lúc ca nhi và hát xong
đói rồi mệt, rồi phải ngậm
một khổ thì một quan viên xã
miệng nín tiếng trong hàng ba
khách đang ngồi ăn bỗng buông
bốn tiếng đồng hồ.
đũa buông bát, vớ lấy một chiếc
dùi nhỏ để cạnh gõ một tiếng
nữa. Vì nơi đây không được nói
kẻng nhỏ. Nghe tiếng kẻng đó
một tiếng nào cả nên người ta
ca nhi lập tức ‘‘dạ” to một tiếng.
phải dùng hiệu kẻng để thay thế
Nét mặt cô ả và anh kép đàn
ý muốn của mình.
cùng hớn hở hẳn lên, vì đó là
Tiếng kẻng thứ ba vừa dứt,
tiếng kẻng thưởng tiền, thưởng
các mâm rượu được dọn đi,
cô đào hát hay, thưởng anh kép
trầu nước được bưng ra. Sau đó
đàn ngọt. Ngoài ra, tiếng kẻng
các quan viên xã khách đồng
thưởng tiền đó cũng còn có một
loạt đứng cả dậy. Chiếc ngai thờ
ý nghĩa khác. Nó để thay cho lời
của làng này được cung kính
nói của quan viên xã khách bảo
rước ra khỏi đình làng chủ, đặt
với quan viên xã chủ rằng cuộc
lên cổ kiệu đòn rồng để đi trong
gặp gỡ đã khá lâu, chúng tôi
một bầu không khí im lặng trở
sắp sửa xin cáo lui.
về làng cũ.
Các quan viên xã chủ hiểu
Khi đã rời khỏi làng chủ
ý nghĩa của tiếng kẻng vừa gõ.
tới giữa cánh đồng, các quan
Lập tức họ sai sắp sẵn các thứ
viên làng khách mới thở phào
tăm nước để khách dùng sau
nhẹ nhõm và bắt đầu bô bô nói
cuộc rượu. Có lẽ vì muốn chóng
chuyện ồn ào như để bù đắp lại
về hơn, ông quan viên xã khách
mấy tiếng đồng hồ giữ mồm giữ
lúc này lại cầm dùi gõ thêm
miệng vừa qua. Trong thâm
hai lần kẻng nữa. Theo sự giao
tâm người nào cũng cảm thấy
kết từ trước giữa đồng dân hai
thư thái như vừa thoát khỏi một
làng, một khi đã gõ đủ ba lần
cuộc thử thách gay cấn. Họ định
kẻng thưởng tiền như thế có
bụng sang năm dân làng bạn
nghĩa là cuộc rượu đã mãn rồi,
rước Chạ sang bên họ, họ cũng
chúng tôi xin phép rước Chạ
sẽ kiểm soát các quan viên làng
chúng tôi về làng, và làng chủ
bạn thật ngặt nghèo như họ vừa
không thể tìm cách giữ lại được
phải trải qua vậy.
Diện hình và Tổ chức
tết làNg
xuân là của cả muôn người, và xuân đến với Tết, nên đâu đâu người ta cũng đón Tết lúc xuân sang, nhưng phong vị Tết mỗi nơi một khác. nếu ở thành thị, Tết đến với sự
xa hoa xán lạn, với cảnh nhộn nhịp tưng bừng, thì ở làng quê Tết đến một cách êm ái thắm dịu hơn.
Và Tết đến, tục lệ hàng năm cũng trở lại với mọi người. có Tết là có bánh chưng xanh, có vại dưa hành có câu đối đỏ, có chè lam, có ngũ vị, có cành đào, có hoa cúc, có cây nêu, có tam cúc...
Tết về nhớ bánh chưng xanh,
Nhớ tràng pháo chuột nhớ tranh lợn gà.
Nhớ cành đào thắm đầy hoa
Nhớ giây phút đợi giao thừa nghiêm trang.
Nhớ ngũ vị, nhớ chè lam,
Nhớ cây nêu, nhớ khánh vang tiếng sành.
Nhớ tam cúc tẹt, nhớ... mình!
Nhớ cân mứt lạc, nhớ khoanh giò bì...(1) 1. Bàng Bá Lân. Thơ B.B.Lân
Mấy câu thơ trên của thi sĩ Bàng Bá Lân đã gợi lại biết bao hình ảnh Tết làng quê nơi đất Bắc, những hình ảnh này so với Tết làng quê miền Trung, miền nam, tuy có khác nhưng đó chỉ
là đại đồng tiểu dị.
người Việt nam ở đâu thì cũng vẫn những phong tục ấy, nhất là những phong tục liên quan về xuân và Tết, thì ngàn xưa tới nay, từ miền Bắc qua các miền Trung, miền nam không bao giờ thay đổi.
Vẫn sửa soạn hân hoan đón Tết xứng đáng với vẻ tưng bừng của ngày xuân mới, rồi giây phút thiêng liêng của một năm mới đến với lễ giao thừa.
Và trước đó, nào sắm Tết, nào đi chợ Tết, nào bán hàng Tết, nào lo quần áo Tết, lo câu đối Tết, và nhất là lo tranh, pháo Tết cho con trẻ. người ta bận rộn cho đến ba mươi Tết, và ngày hôm nay người ta càng bận rộn hơn vì còn phải lau quét lại bàn thờ
lần chót, trước khi cúng mời các cụ về hưởng Tết.
Trước Tết và sau Tết, có bao nhiêu tục lệ đã chi phối đời sống người dân quê, và những tục lệ này đều được mọi người cố công gìn giữ tuân theo dù trong hoàn cảnh nào.
NhữNg Sự Sửa SoạN trướC tết
Tết đến sau ngày ba mươi tháng chạp, nhưng ở nhà quê ngay từ đầu tháng này người ta đã thấy cái không khí của Tết.
Mọi người đã nghĩ đến những hàng Tết và những phiên chợ
Tết. những phiên chợ của tháng cuối năm này như nhộn nhịp hơn với hàng lá dong để gói bánh chưng, với hàng bánh ngũ sắc, hàng đường, hàng mật nhiều hơn những phiên chợ quanh năm.
Rồi ngày Tết càng gần đến, chợ làng càng tấp nập và thêm nhiều hàng mới: hàng tranh pháo, hàng bánh chưng, hàng hoa tươi hàng đồ mã với mũ ông công và đặc biệt nhất là hàng ông đồ bán chữ...
Diện hình và Tổ chức
ngày Tết càng gần, cảnh chợ Tết càng tưng bừng.
Đây là những ngày người ta sửa soạn Tết và người ta nghĩ
đến bổn phận của mọi người trong ngày Tết.
người ta đong sẵn gạo nếp để gói bánh chưng, người ta mua sẵn lá dong mang về hoặc đem luộc rồi quấn vào các cột nhà, hoặc cứ để nguyên để khi gói bánh có được màu xanh của lá.
người ta mua vàng hương để ngày Tết cúng tổ tiên, và những người thuộc ngành thứ phải mua đồ lễ trong đó có vàng hương để gửi Tết tới nhà gia trưởng.
Bố mẹ phải lo Tết thầy học cho con. các con bệnh cũng phải sắm cái gì để biếu Tết ông lang.
Lại bánh mứt ngày Tết, mỗi thứ mua sẵn một ít trước là để
cúng tổ tiên, sau là để gia đình cùng thưởng thức lúc đầu xuân.
các vị gia trưởng phải lo đến bàn thờ gia tiên. phải lau chùi quét dọn cho sạch sẽ. những đồ thờ, bình hương đỉnh đồng, đài rượu, đài đèn đều được đem đánh bóng nhoáng.
những đôi liễn mới được treo ra, những đôi câu đối đỏ được dán lên cột. Lại còn hoa Tết, lại cành đào ngày Tết để trừ tà.
những anh chàng rể cũng không quên biếu Tết bố mẹ vợ, nhất là những chàng rể chưa cưới.
người ta bận rộn, người ta nghĩ đến Tết và những ngày trước Tết mấy hôm, nhà nhà trong làng bắt đầu gói bánh chưng. Xóm này, xóm kia tiếng lợn bị chọc tiết kêu eng éc.
nhà quê có tục đụng lợn để gói bánh, gói giò ngày Tết. Ba bốn gia đình chung nhau tiền mua một con lợn, ngày gần Tết đến đem mổ thịt chia nhau lấy thịt gói bánh, giã giò và làm cỗ Tết.
Lại có những người chơi hội (họ, hụi) giò, bánh chưng ngày Tết. Mươi mười hai người, thường là các bà, họp nhau, một người đứng chủ hội, những người kia đóng tiền cho chủ hội mỗi tháng một số tiền. người chủ hội dùng tiền này sinh lời, rồi Tết đến, cho mua gạo lợn mổ thịt gói bánh giã giò trao cho các chân hội
viên. Số tiền đóng thường cũng không nhiều nên số bánh chưng, giò mỗi người chỉ có vào khoảng hai chục chiếc bánh và hai cân giò. Lối chơi hội giò bánh như trên rất bành trướng tại các làng quê, nhất là ở những làng thợ thuyền và buôn bán, vì với hội giò bánh này, ngày Tết đến người ta yên trí có bánh chưng với giò.
Việc sửa soạn Tết cho đến ngày ba mươi Tết vẫn chưa xong, vì còn nhiều gia đình, đêm hôm ba mươi còn đang ninh nồi bánh chưng sôi sình sịch.
làNg Sửa SoạN tết
Từ trên mới trình bày các tư nhân trong làng sửa soạn Tết, gia đình nào lo cho gia đình nấy, nhưng ngoài cái Tết riêng của mỗi gia đình, dân làng còn phải nghĩ đến cái Tết chung của cả làng.
cái Tết chung đây, tức là Tết ở đình làng và ở chùa làng.
TạI ĐìNh làNg
Ông cai đám và ông thủ từ phải lo lau dọn bàn thờ ở đình, bắt tuần phiên cắm cờ ở sân đình và ngày ba mươi Tết, một cây cờ đại trên một cột cờ rất cao, và một số các cờ ngũ hành ở trước cửa đinh .
nếu làng có mở hội xuân, các tuần phiên lại được lệnh làng đi chặt tre để sửa soạn cây đu của hội làng.
TạI ChùA làNg Và Sự TíCh Cây Nêu
Đây là ở đình, còn chùa thì nhà sư trụ trì cũng lo lau dọn bàn thờ. Trước sân chùa có dựng một cây nêu, trên cây nêu có ngọn phướn, chiếc khánh sành lủng lẳng, chạm vào nêu vang leng keng và một bó vàng.
các tư gia cũng có trồng cây nêu, nhưng không có ngọn phướn.
ngoài cây nêu ra, trước sân chùa, ngoài cửa tam quan còn có rắc vôi bột vẽ cung tên để đuổi ma quỷ.
Diện hình và Tổ chức
nhiều tư gia cũng rắc vôi bột vẽ cung tên như ở chùa.
Việc trồng cây nêu và rắc vôi bột vẽ cung tên do sự tích sau: nguyên ngày xưa có một thời quỷ sứ quấy nhiễu dân gian nhiều quá. Dân gian thấy vậy kêu với đức phật, phật liền giáng lâm bắt lũ quỷ sứ.
Quỷ sứ van lạy xin tha và từ sau xin chừa không dám quấy nhiễu đất của phật.
Quỷ sứ hỏi dấu hiệu của nhà phật để biết đường tránh. Đức phật bảo nơi nào có cột phướn cây nêu và có rắc vôi trắng đó là đất phật.
Từ đó, Tết đến tại chùa có trồng cây nêu ngọn phướn và rắc vôi bột vẽ cung tên để đuổi ma quỷ. Trong dân gian, theo lời phật dạy cũng trồng cây nêu và cũng rắc vôi bột, nhưng để dọa lũ quỷ sứ, vôi bột khi rắc lại vẽ thành hình cung tên.
ngoài việc lau dọn bàn thờ tại đình chùa, ban kỳ mục phải sắm sửa đồ lễ cúng giao thừa và để cúng trong mấy ngày Tết.
nếu dân làng mở hội xuân, ban hội đồng phải lo trù liệu mọi sự sửa soạn cho hội xuân này.
mấy tụC lệ Của Ngày 30 tết
ngày 30 Tết là ngày cuối cùng của năm. người ta đã sửa soạn Tết cho đến ngày hôm nay, và sáng ngày có nhiều nhà còn bận rộn vì nồi bánh chưng luộc chưa xong, vì bàn thờ trang hoàng chưa hết. người ta vội vàng hấp tấp cố làm gấp những việc còn đang dở dang để trước ngày Tết mọi việc phải xong.
ngoài chợ làng, trên đường làng, sáng ngày ba mươi Tết vẫn còn mọi sự nhộn nhịp và người người như vội vàng sợ thời gian trôi quá mau, nhưng chỉ nhộn nhịp cho đến quá trưa, từ quá trưa về chiều chợ làng đã vắng vẻ và đường làng cũng thưa người qua lại. có còn bóng người chăng? Đó chỉ là những người đi
gửi Tết trễ tràng, đang rảo bước mang vàng hương và đồ lễ tới nhà gia trưởng, hoặc một vài em nhỏ đang cùng nhau đốt một vài chiếc pháo để cùng vui nốt buổi chiều cuối năm.
cuối năm trời thường lạnh, có khi lại phơn phớt mưa phùn, cảnh chiều ba mươi có một màu sắc đặc biệt. phải chăng trời đất luyến tiếc năm cũ, hay tạo hóa thương hại cho mấy người du tử ở phương trời đang vội vàng trên đường về quê mẹ để hưởng sự xum họp gia đình của mùa xuân.
Trên sông nước trong khoang thuyền chở vội, giữa bọn người về tết chuyện ba hoa, Một lũ khách lạnh lùng ôm khăn gói
Mắt mơ màng theo tiếng pháo xa xa.(1) Anh Thơ
ngày ba mươi Tết qua đi, và năm mới sẽ sang nhưng trong ngày này, người dân còn nhiều tục lệ mà họ không muốn bỏ, có tục lệ ngày nay vẫn còn và có những tục lệ chỉ còn là những hình ảnh xa xăm.
RướC CáC Cụ
Dân Việt nam ta thờ phụng tổ tiên, và đối với chúng ta, tổ
tiên luôn luôn gần gũi con cháu, nhất là trong những ngày giờ
vui buồn của gia đình.
Tết cũng là một dịp để gia tiên về cùng con cháu và chính cũng để đón tiếp hương hồn tổ tiên mà mọi người đã sửa soạn bàn thờ, lo sắm Tết, lo gửi Tết.
Tại nhiều làng, như làng Đáp cầu, huyện Võ Giàng tỉnh Bắc ninh (Hà Bắc), chiều ngày ba mươi Tết người ta có tục rước tổ
tiên về thờ. người gia trưởng mang vàng hương tới các ngôi mộ
1. Cô Anh Thơ. - Bức tranh quê.
Diện hình và Tổ chức
khấn mời hương hồn người nằm trong mộ về hưởng Tết. nhân dịp này, người ta đắp lại cho cao nấm mộ, cuốc hết những cây dại mọc bên mộ để rễ những cây này khỏi xâm phạm tới hài cốt. người ta cắm một nắm hương trên mộ. Đây là một dịp để
con cháu săn sóc lại phần mộ gia tiên, quanh năm bận rộn vì sinh kế, ít khi có thì giờ để con cháu lưu ý tới mồ mả tiền nhân.
CúNg gIA TIêN
nhiều nơi khác, rước các cụ, người ta không ra hẳn mộ, mà người ta chỉ thắp hương khấn vái ở bàn thờ trong nhà. Đó là lệ
cúng cơm chiều ba mươi Tết.
Lúc này, cỗ bàn đã có, bánh trái đã xong, gia trưởng cúng khấn để mời hương hồn các cụ về ăn Tết với con cháu.
Lẽ tất nhiên, trước khi cúng gia tiên, người ta phải có lễ cúng Thổ công, vị đệ nhất chi chủ, để xin phép ngài cho hương hồn nội ngoại tổ tiên gia chủ về ăn Tết.
SúC SắC SúC Sẻ
Tối hôm ba mươi Tết, ngày xưa tại các làng xã, những trẻ em nghèo họp nhau thành từng bọn, rủ nhau đi chúc Tết, tuy mới có là chiều ngày ba mươi. Mỗi bọn các em có một chiếc ống đựng tiền, thường là ống tre. các em tới từng gia đình và các em cùng nhau hát, vừa hát vừa lắc ống tiền: Súc sắc súc sẻ,
Nhà nào còn đèn còn lửa,
Mở cửa cho chúng tôi vào.
Bước lên giường cao,
Thấy đôi rồng ấp;
Bước xuống giường thấp
Thấy đôi rồng chầu;
Bước ra đằng sau,
Thấy nhà ngói lợp;
Voi ông còn buộc,
Ngựa ông còn cầm;
Ông sống một trăm,
linh năm tuổi trẻ.
Vợ ông sinh đẻ,
Những con tốt lành,
Những con như tranh,
Những con như rối.
Tôi ngồi xó tối,
Tôi đối một câu.
Đối rằng: Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Nêu cao pháo nổ bánh chưng xanh.
các em vừa súc sắc súc sẻ vừa hát trong lúc gia đình chủ nhân chăm chú nghe, và sau câu hát đầy lời chúc tụng trên, gia đình nào cũng tặng các em một số tiền. Tục cho rằng, các em đến đem sự may mắn lại. Không gia đình nào để các em ra không.
cũng có gia đình lại cho các em cả bánh mứt. các em dùng tiền này chia nhau để mua pháo ngày xuân.
ĐêM BA MươI TếT
Trời tối quá! Bên ngoài trời tối quá!
Những cây nêu tiếng khánh khẽ khua thầm, Những cung vôi trong sân như mờ xóa, Những giấy điều trước cửa dán đên thâm.
*
* *
Quanh bếp ấm nồi bánh chưng sùng sục, Thằng cu con dụi mắt cố chờ ăn.
Đĩ nhớn mơ chiếc váy sồi đen rức,
Bà lão nằm tính tuổi sắp thêm năm.
*
* *
Diện hình và Tổ chức
Bỗng tiếng pháo đẹt đùng xa nổ báo
Ngoài đình trung làng đã tế giao thừa.
Cả nhà vội giật mình không ai bảo
Cùng đứng lên thăm bánh chín hay chưa. (1) Bài thơ trên của nữ thi sĩ Anh Thơ đã tả đúng cái cảnh đêm ba mươi Tết ở làng quê, với một đôi tục lệ của dân Việt nam.
chiều ba mươi Tết có những tục lệ của buổi chiều, thì đêm ba mươi Tết lại có những tục lệ riêng của ban đêm, những tục lệ
đã lưu truyền từ ngàn xưa trong tín ngưỡng của dân ta, mà trong đó nhiều tục thật có lắm điều hay hay.
ĐòI Nợ TếT
Ta có câu:
Khôn ngoan đến cửa quan mới biết,
giàu có ba mươi Tết mới hay!
người khôn ngoan đến cửa quan, trước những lời vặn hỏi của nha lại và của chính vị quan sẽ đủ lý lẽ để trả lời, đủ bình tĩnh để không lúng túng, còn người giàu kẻ nghèo, ai muốn rõ ai, ngày ba mươi Tết có thể biết được, vì ta có tục đòi nợ Tết.
cái tục này thật là tai hại đối với những người làm ăn kém may mắn, mang công mắc nợ. Thật là khổ sở, nếu Tết đến mà chưa lo được đủ tiền trả nợ. chủ nợ sẽ thằng thúc họ cho đến tận lúc giao thừa.
người ta sở dĩ đòi nợ cho đến Tết là vì ngày hôm sau là ngày đầu năm, người ta kiêng không dám hỏi nợ người bị hỏi nợ như vậy sẽ bị giông quanh năm, và có thể sẽ làm ăn không phát đạt được. Đòi nợ ngày mồng một Tết, không những con nợ
không trả, mà có khi con nợ còn mắng cả chủ nợ vì đã không biết kiêng cho mình.
1. Cô Anh Thơ. Sách đã dẫn.
Hơn nữa, món nợ năm này bước sang năm sau đã biến thành món nợ cũ, và nợ cũ lẽ tất nhiên khó đòi hơn những nợ mới cho vay.
Ai đã từng sống ở các làng quê, hẳn đã thấy đêm ba mươi Tết, có nhiều người cầm đèn chống gậy đi vào các xóm để tìm các con nợ.
ĐóN gIAo ThừA
Giao thừa là giờ phút giao tiếp giữa hai năm cũ và mới. Đêm hôm ba mươi Tết người ta không đi ngủ sớm. người ta thức để
chờ đợi giây phút thiêng liêng của một năm: giây phút giao thừa.
Trong lúc này có nhà còn đang ninh nồi bánh chưng sình sịch và trẻ con còn đang quây quần quanh bếp ấm để chờ nồi bánh chín.
Trên giường thờ, nhà nào cũng khói hương nghi ngút với đèn nến soi tỏ rõ những đồ thờ, những nghìn vàng mặt gương lấp lánh, những cành hoa giấy sặc sỡ ngũ sắc, và những đồ lễ bày trên những chiếc mâm bồng đã được lau chùi trông như mới. nén hương sào dài ngất nghểu cắm giữa bình hương và dưới chân nén hương sào là một vòng hương vòng mắc trên một chiếc trụ
đang cháy tỏa một mùi thơm ngát.
năm mới sắp sang, mọi người hồi hộp chờ đợi với bao nhiêu niềm hi vọng. người ta được thêm một tuổi, và với giờ phút giao thừa, năm cũ sẽ ở lại cùng với tất cả mọi sự không hay, và năm mới đến sẽ mang nhiều điều tốt lành lại.
Trong đầu óc, có người nhẩm tính lại quãng đời một năm qua với những sự làm ăn hoặc dễ dàng hoặc vất vả, và người ta mong năm sau làm ăn sẽ tiến phát bằng năm bằng mười năm cũ.
Giờ phút lặng lẽ trôi với trời tối đen như mực, và ở miền Bắc, với cái rét lạnh điểm thêm những hạt mưa phùn cuối năm lớt phớt. cũng những giọt mưa này, nhưng qua giao thừa đó sẽ là những giọt mưa xuân đem sinh khí lại cho cỏ cây và muôn vật, đem màu tươi lại cho muôn hoa...
Giờ phút giao thừa thật là được nghiêm trang chờ đợi.
Diện hình và Tổ chức
TốNg Cựu NghINh TâN
Giây phút thiêng liêng chờ đợi đã tới! Đã đến giờ giao thừa, bắt đầu từ giờ Tý.
Từ các nhà tư, đến xóm, ngõ, đình, chùa, nơi nơi đều có lễ
trừ tịch. Trừ tịch là giây phút cuối cùng của năm cũ, và cũng sắp là giây phút đầu tiên của năm mới.
người ta làm lễ trừ tịch để bỏ đi hết những điều xấu dở cũ kỹ
của năm cũ và để đón những điều mới mẻ tốt đẹp của năm mới.
Lễ trừ tịch còn mang tên là lễ giao thừa, vì lễ cử hành vào đúng lúc giao thừa.
Đây là lễ tống cựu nghinh tân, tiễn cũ và đón mới. cũ đây, ngoài những điều xấu dở cũ kỹ, người ta còn tiễn đưa vị đương niên hành khiển đại vương của năm cũ, và mới đây, ngoài những điều mới mẻ tốt đẹp, người ta còn đón rước vị tân đại vương hành khiển của năm mới.
Tục ta tin rằng mỗi năm có một ông hành khiển coi việc nhân gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc lại cho thần kia, cho nên cúng tế để tiễn ông cũ và đón ông mới. (1) Tại tư gia, làm lễ giao thừa, người ta bày hương án cúng ở
giữa sân. Đồ lễ gồm bánh trái, trong đó phải có bánh chưng, trầu rượu, vàng hương. người đứng cúng là gia chủ.
cúng lễ xong người ta đốt một tràng pháo. Tiếng pháo mang sự vui mừng lại, tăng sự hân hoan cho ngày Tết, và tiếng pháo cũng trừ được ma quỷ. Theo các sách cũ chép lại thì giống ma núi gọi là Sơn tiêu, thường phạm tới người làm cho đau ốm, người ta đốt pháo để chúng tránh xa.
chính ra, người ta đốt pháo từ chiều ba mươi Tết, ngay sau khi cúng gia tiên.
cúng lễ giao thừa xong, các gia chủ cũng cúng khấn Thổ
1. Phan Kế Bính. - Sách đã dẫn.
công, vị thần cai quản trong nhà, mà chủ nhà phải cúng lễ mỗi khi có sự cúng bái gì.
Tại các thôn xóm, các vị thủ chỉ thôn hoặc trưởng xóm làm lễ
giao thừa tại điếm sở, hoặc tại nơi công quán. Trong lúc cúng lễ
có đánh trống đốt pháo. có nơi, tuy là thôn xóm, nhưng người ta có tế giao thừa với nghi thức đầy đủ của một buổi tế.
Tế giao thừa xong, dân thôn xóm cũng có lễ cúng Thổ thần hàng thôn hoặc hàng xóm.
Tại đình làng cũng có lễ hoặc tế giao thừa. Ở đây ông Tiên chỉ hoặc ông Thủ từ làm chủ lễ. cùng với lễ giao thừa dân làng cũng làm lễ cúng đức Thành hoàng bản xã.
Tại các chùa cũng có lễ cống cựu nghinh tân.
Giờ phút này, tiếng chuông, tiếng trống, tiếng pháo vang lên, nơi này như trả lời cho nơi khác, nhất là tiếng pháo nổ khắp tứ
phía trong làng. nhà giàu, nhà nghèo cũng có đốt một bánh pháo trước là để tống cựu nghinh tân, sau là để mừng xuân.
ĐI lễ ĐêM BA MươI TếT
Sau khi cúng giao thừa ở nhà xong, người dân quê có tục đi dự lễ giao thừa tại thôn xóm, tại đình làng. Rồi người ta vào lễ
thần tại đình, và lễ phật tại chùa. cũng có nhiều người đi lễ các đền miếu trong làng. người ta đi lễ để cầu phật, Thần phù hộ
cho một năm may mắn cho bản thân và cho cả gia đình.
KÉN hướNg XuấT hàNh
ngoài trừ trường hợp đi dự lễ giao thừa tại thôn xóm hoặc đình làng, trong khi đi lễ các đền miếu hoặc chùa chiền, người ta thường kén hướng và kén giờ để xuất hành. Kể từ lúc giao thừa, người ta đã bước sang năm mới, xuất hành người ta kén hướng để cầu mong sự may mắn quanh năm.
có nhiều người, dự lễ giao thừa tại thôn xóm xong, họ trở về
Diện hình và Tổ chức
nhà để ngày hôm sau hoặc mồng hai, mồng ba Tết, hôm nào tốt ngày mới kén hướng xuất hành.
háI lộC
Đi lễ đêm ba mươi Tết, lúc trở về ta có tục hái một cành cây hoặc một cành hoa về cài vào cửa, tục gọi là hái lộc, cành hoa hoặc cây này gọi là cành lộc. Hái lộc là có ý xin lộc của Trời Đất, phật Thần ban cho. có người mang cành lộc về cắm vào bình hương bàn thờ thay vì cài ở trước cửa.
cành lộc thường là cành đa, cành đề, cành si, trước các đình đền chùa miếu thường có các cây cổ thụ này. Và những cây này thuộc loại cây sống lâu, hái cành lộc ở các cây này, người ta mong lộc của Trời phật Thần Thánh ban cho sẽ được lâu bền.
hươNg lộC
có nhiều người trong lúc xuất hành đi lễ, thay vì hái cành lộc, lại xin lộc bằng cách đốt một nén hương sào hoặc một bó hương nhỏ đứng khấn vái trước bàn thờ, rồi mang hương đó về
cắm tại bàn thờ gia tiên hoặc bàn thờ Thổ công.
ngọn lửa tượng trưng cho sự phát đạt. Lấy lửa từ các nơi thờ
tự mang về, tức là xin lộc của phật Thánh để phật Thánh phù hộ cho làm ăn được phát đạt quanh năm.
Trong lúc mang nắm hương từ nơi thờ tự trở về, nhiều khi gặp gió, nắm hương bốc cháy, đó là một điềm tốt báo trước sự
may mắn quanh năm.
xông nhà
Thường cúng giao thừa ở nhà xong, người gia chủ mới đi dự
lễ giao thừa tại thôn xóm hoặc đình hay đi lễ đình chùa nhưng có nhiều người lại ra đi từ trước giờ trừ tịch để dự lễ giao thừa tại thôn xóm hoặc đình làng, hay đi lễ đình chùa, rồi mới trở
về lễ giao thừa ở nhà.
những người này muốn tự xông nhà lấy.
Xông nhà tức là vào nhà một người nào hay chính nhà mình trước nhất trong một năm khi chưa có người nào khác tới.
Tục ta tin rằng người xông nhà dễ vía mang sự dễ dàng may mắn lại cho gia đình mà người đó tới xông nhà.
nếu không xông nhà ấy, người ta phải nhờ một người khác trong thân bằng cố hữu tốt vía để sáng sớm ngày mồng một Tết đến xông nhà trước khi có khách khác tới chúc Tết.
người xông nhà thường đốt một bánh pháo để mừng nhà chủ, và trong trường hợp chính người nhà tự xông nhà lấy, người ta cũng tự đốt một bánh pháo để đón sự may mắn đầu năm. Xác pháo đỏ tượng trưng cho nhiều điều tốt đẹp, vì màu đỏ chỉ sự
vui mừng.
tụC lệ Ngày NguyêN ĐáN
Sau lễ giao thừa, hoặc sau khi đi lễ về, người ta đã sống với năm mới. người chờ đợi sáng ngày mồng một với một giấc ngủ
ngắn ngủi của đêm giao thừa.
Mồng một tới, và đây là ngày thứ nhất của Tết nguyên Đán, Tết gọi như vậy là vì nguyên bắt đầu, đán là buổi sớm mai. Tết nguyên Đán mở đầu cho một năm mới và tất cả mọi cảnh vật đều mới mẻ với xuân sang.
ChúC TếT
Tại các làng quê, ngày mồng một Tết có tục chúc Tết tại đình làng. Sáng hôm đó, tại đình các vị chức sắc, các nhân viên trong hội đồng kỳ mục cùng nhau tề tựu để làm lễ đức Thành hoàng, và sau đó mọi người chúc Tết ông Tiên chỉ và chúc Tết lẫn nhau. Ông Tiên chỉ làm lễ đức Thành hoàng và đọc bản văn chúc Tết:
Diện hình và Tổ chức
Năm cũ đã qua,
Năm mới đã đến,
Bước vào đình trung.
Tôi xin kính chúc:
Trước tôi chúc Thánh cung vạn tuế, tại thượng dương dương, bảo quốc hộ dân, lưu ân tích phúc.
Tôi lại chúc ký lão sống tám chín mươi, thọ tăng thêm thọ.
Tôi lại chúc quan viên trùm lão, niên tăng phú quý, nhật hưởng vinh hoa.
Tôi lại chúc quan lại binh viên ta đốt pháo xông tên, công thành danh toại.
Tôi lại chúc đồng trang thượng hạ, già sức khỏe, trẻ
bình yên, nhờ đức vua, nhà no người đủ, các xướng Thiên Thu Vạn Tuế.(1)
Với bản văn chúc Tết, sau khi chúc Thánh cung vạn tuế, tức là chúc đức Thành hoàng bản xã, ông Tiên chỉ đã chúc Tết tới hết mọi tầng lớp trong dân xã.
Bản văn đọc xong, ông Tiên chỉ lễ trước bàn thờ, sau đó các chức sắc quan viên lần lượt vào lễ. Đồng thời một tràng pháo nổ mừng xuân.
cúng lễ và chúc Tết ở đình xong, mọi người lại ra về, ai về thôn xóm người nấy, vì ở thôn xóm cũng có cuộc chúc Tết của hàng thôn, hàng xóm, và những phường nghề nghiệp hoặc buôn bán, các phường viên cũng chúc Tết ông Trùm hoặc bà Trùm của phường.
Hàng thôn, hàng xóm, mọi người họp nhau ở điếm sở hoặc ở nhà công quán, hoặc ở nhà ông Thủ chỉ nếu thôn xóm không nơi điếm sở hoặc nhà công quán.
1. Nguyễn Văn Ngọc. Tục ngữ phong dao - Nhà xuất bản Bốn Phương. Saigon, 1957-1958.
Tại nơi đây, thường một người đứng lên chúc Tết Ông Thủ
chỉ hoặc Ông Trùm:
Thiều quang đãng dật
Thực khí nhân huân,
Ngũ lão ban đồng kiên lão,
Tam đa chúc hiệp hoa phong,
Tam đạt tôn chữ Sỉ làm đầu.(1)
Ai cũng mừng ông Trùm tuổi thọ.
Sách có chữ rằng:
“Tuế hữu tứ thời Xuân tại thủ,
Nhân kiêm ngũ phúc Thọ vi tiên”.
Mừng ông Trùm đầy Phúc lộc kiêm tuyền lại gồm chữ “hương trung thượng thọ”
Tước lộc thế mà danh lợi thế,
Dẫu nghìn năm còn tiếng thơm dai.
Thảnh thơi thọ vực xuân đài,
Đâu đâu cũng hoan hài ca vũ.(2)
Với lời chúc tụng đầy tốt đẹp trên, ông Thủ chỉ hoặc ông Trùm, tự lấy làm sung sướng và cũng có lời chúc lại bà con trong thôn xóm hoặc các phường viên.
chúc Tết xong, thường ông thủ chỉ, hoặc ông Trùm mời mọi người uống chén rượu mở hàng thưởng xuân.
Khi mọi người kéo nhau tới nhà ông Thủ chỉ, hoặc ông Trùm thường có lệ đốt một bánh pháo mừng. Tại các nơi điếm sở công quán, cũng giống như ở đình, người ta cũng đốt một bánh pháo sau khi cúng để mừng Tết lẫn nhau.
1. Thời gian thong thả Cỏ cây, người người tươi thắm. Tuổi già được đầy đủ
năm điều Phú, Quý, Thọ, Khang, Ninh Tam đa chúc nhau thêm phong phú Ba điều đạt (Phúc, Lộc, Thọ) thì Sỉ (Thọ) đứng đầu.
2. Nguyễn Văn Ngọc. Sách đã dẫn.
Diện hình và Tổ chức
Đường làng
(Ảnh Nguyễn Cao Đàm)
Chợ làng
(Ảnh Trần Lê Sinh)
chúc Tết ở đình và thôn xong, mọi người đều trở về nhà để
lo cái Tết của gia đình mình.
Tại các gia đình, sớm ngày mồng một Tết, người ta lo cúng gia tiên và cúng Thổ công. Sau buổi cúng đầu năm này, con cháu chúc Tết ông bà cha mẹ.
các cụ ngồi ở nhà thờ để con cháu tới lạy mừng chúc Tết.
Mỗi người lạy các cụ hai lạy rưỡi rồi chúc các cụ một năm mạnh khỏe bình yên khang thái. nhận lễ và lời chúc Tết của con cháu, các cụ hân hoan sung sướng. Xin nói thêm, trong lúc này, các cụ ăn mặc trịnh trọng với những bộ quần áo đẹp nhất của ngày Tết, các con cháu cũng vậy.
chúc Tết các cụ, con cháu thường dâng các cụ một món quà Tết như bánh trái hoặc một món tiền đặt trong một phong giấy hồng. Tiền này gọi là tiền mở hàng, đem may mắn lại cho các cụ quanh năm.
con cháu chúc Tết các cụ xong, các cụ cũng chúc Tết lại con cháu những điều tốt đẹp, nào là nhất bản vạn lợi, nào là làm ăn phát đạt bằng năm bằng mười năm ngoái, nào là vạn sự như ý, nào là sinh đẻ con trai v.v... Và các cụ cũng mở hàng lại cho con cháu một món tiền gọi là tiền mừng tuổi, người giàu thì mừng tuổi nhiều, người nghèo cũng mừng tuổi tượng trưng một vài đồng tiền, miễn sao có sự mừng tuổi để con cháu gặp được may mắn tốt đẹp.