Làng Xóm Việt NamPhần 13
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
cũng có thể kể những điều cấm đoán và trừng phạt những kẻ gian phi v.v...
Tạp lệ có rất nhiều ở các làng và cũng thay đổi tùy theo từng làng.
Một mẫu hương ước
Trong hoàn cảnh hiện tại, tìm lại một hương ước cổ xưa thực là một việc khó khăn, nhất là ngày nay việc lưu trữ văn khố lại bị coi nhẹ, và những hồ sơ cũ từ thời tiền chiến, không mấy hồ
sơ còn được bảo tồn.
Để bạn đọc có một ý niệm sơ lược về hương ước xin ghi lại dưới đây những đoạn trích lục trong tập hương ước của làng Đề
Điều tỉnh Bắc ninh (Hà Bắc) đã được phan Kế Bính đăng trong Đông Dương Tạp chí năm 1914 khi khảo về Việt nam phong tục:
Về mục kỷ niệm
Tiết thứ I Khắc bia
Trong dân làng, không cứ đàn ông đàn bà, kẻ quí người tiện, ai có ân nghĩa gì với dân, thì dân có bia kỷ niệm, lúc còn sống thì dân kính trọng, lúc mất rồi thì dân khắc tên vào bia để dân nhớ ân nghĩa mãi về sau.
Tiết thứ II Việc ân
ân: Ai có ân đức với dân, như xuất của nhà ra lập trường học, cho trẻ con trong làng học chữ, học nghề hoặc cúng ruộng cho dân làm học điền, hay là xuất của làm việc công ích cho dân, cùng là học được nghề gì trọng về dạy dân cho có nghề nghiệp hoặc dân làng chẳng may gặp phải khi tai biến lưu ly mà xuất tài xuất lực, giúp đỡ cho dân lại hội lại làm ăn như cũ. Vậy các việc như thế là ân.
Tiết thứ III Việc nghĩa
Nghĩa: Dân làng thảng hoặc đêm hôm có cướp đến phá làng ăn cướp, dân ai có sức đánh cướp giữ làng, chẳng may bị chết vì việc dân, vậy như thế là nghĩa.
Tiết thứ VI Sửa lễ
Cứ lệ mỗi năm một lần tháng giêng vào ngày đình đám xong rồi, dân xuất tiền công sửa lễ, và cắm cờ tàn, bài trí ở bia kỷ
niệm cho tráng lệ như ngày đình đám, rồi đồng dân đọc bài văn kỷ niệm, để trước nữa là nhớ những người có ân nghĩa với dân, sau nữa là kinh khuyến lòng người trong chốn hương đảng.
Về mục tự trị
Tiết thứ III Đánh nhau
Phàm người trong dân xã, không cứ quí tiện, giàu nghèo, phải ăn ở với nhau cho tử tế hẳn hoi, trên kính dưới nhường. hoặc ai có điều gì không nên không phải trình dân, để dân phải xử cho, 214
Diện hình và Tổ chức
chớ sinh tình ngạnh hoán đánh chửi lẫn nhau, để cho người ta chê cười, thì cả đôi bên đều phải phạt.
Tiết thứ IV Thưa kiện
Người trong dân, hoặc ai có điều gì bất bình mà thưa kiện nhau, thì phải trình dân trước, chớ không được thiện tiện lên ngay quan. hễ dân xử không xong thì mới được lên quan. Nếu ai không tuân thế thì phải nộp một đồng bạc(1) nộp vào công quĩ bản xã.
Tiết thứ VIII Đàn ông
Đàn ông con trai trong làng, không cứ con nhà quí tiện giàu sang, ai cũng phải lấy luân lý mà sửa mình, có nghề nghiệp mà làm ăn. Nếu người nào du thủ du thực, không chịu làm ăn, bất nhân bất nghĩa, trái đạo làm người thì phải phạt truất ngôi hương ẩm.
Tiết thứ IX Đàn bà
Đàn bà con gái trong dân, người nào góa bụa hay chưa chồng, ai mà trăng hoa ong bướm, làm cho mất giá người đi, khán thủ tuần phiên bắt được thì phải phạt một đồng bạc. Người nào thất tiết hoang thai thì phải phạt như tiền nộp cheo. Bao giờ lấy chồng lại phải nộp tiền lan nhai(2) theo như dân khoán.
........
Tiết thứ XII Trộm cắp
Trong hương ẩm, ngoài đồng tiền hoặc có kẻ gian phi trộm cắp của công dân hay của tư gia một tí gì thức khinh vật trọng như là tiền bạc, phục dụng, vật dụng và các giống súc vật, cùng 1. Giá tiền năm 1914, khi ông Phan Kế Bính viết tập Việt Nam Phong Tục trong Đông Dương tạp chí.
2. Tiền nộp cheo cho làng khi nhà trai đến rước dâu.
là cây cối tre măng, thanh bông hoa quả, lúa má hoa màu v.v...
Những kẻ gian phi trộm cắp ấy bắt được quả tang hễ người trong dân thì phải phạt truất ngôi hương ẩm, người ngoài thì dân giải lên trình quan.
.......
Tiết thứ XIV Tụ tập
Trong dân nhà nào tụ tập những kẻ gian phi, gá chứa cờ bạc hay làm điều phi pháp phạm cấm, mà khán thủ tuần phiên ẩn nặc không trình hương chính, lý trưởng thì khán thủ tuần phiên và các người làm điều phi pháp phạm cấm ấy đều có lỗi phải phạt.
Tiết thứ XV Khách lạ
Trong dân làng nhà nào có khách lạ ở chơi cách đêm, thì phải trình cho khán thủ biết. Nếu không trình, hễ khán thủ tuần phiên đi tuần soát thấy thì nhà ấy phải phạt.
Người lạ ở cách đêm thực là người làm ăn lương thiện thì được, nếu du đãng thì không cho ở.
Về mục tuần phòng
........
Tiết thứ III Thưởng, phạt
Dân làng hoặc đêm hôm có cướp đến phá làng ăn cướp, người nào can đảm đánh cướp bắt được một tên, thì dân thưởng năm đồng bạc, nếu bắt được hai tên thì thưởng mười đồng, hễ nhiều thì cứ số năm đồng mà thưởng lên.
Người nào nhút nhát trốn chạy, bỏ chỗ mình giữ thì phải truất ngôi hương ẩm.
Tiết thứ IV Hậu đãi
Những khi cướp đến phá làng ăn cướp, người làng đánh cướp giữ dân. Người nào bị thương thì dân trông nom, điều dưỡng cho tới khi khỏi. Những tiền phí tổn dân chịu cho cả.
Diện hình và Tổ chức
Người nào bị chết thì dân làm ma cho trọng thể như ba hạng trong dân khoán, và khắc tên vào bia kỷ niệm, đã nói ở trên tiết thứ hai về mục kỷ niệm, lại cấp cho vợ con 15 đồng bạc, và cho con hay cháu một chân nhiêu nam, chung thân miễn trừ tạp dịch.
Trên đây là mấy điều trích lục trong quyển hương ước xã Đề
Kiều, rất tiếc hồi đó ông phan Kế Bính không cho in toàn bản hương ước này để ngày nay chúng ta có đủ tài liệu nghiên cứu.
chúng tôi đã có ý tìm kiếm nguyên bản hương ước của một xã nào về thời trước, nhưng chưa gặp may mắn tìm kiếm được, do đó trong khi chờ đợi chúng tôi xin chép lại những tiết mục trên của hương ước xã Đề Kiều.
Đây chỉ là hương ước của một xã, và không phải hương ước xã nào cũng giống xã nào, mỗi xã đều có những tục lệ riêng, và những tục lệ này được ghi vào hương ước.
nhiều xã trong mục thưởng phạt có nhắc đến công lao của những người tòng quân, những người chữa cháy, những người đắp đê cứu lụt, chứ không phải chỉ nói riêng đến những người đánh cướp như ở xã Đề Kiều.
Qua bản trích lục hương ước trên ta nhận thấy rằng tuy đây là lệ làng, nhưng lệ làng vẫn căn cứ vào phép nước, và nếu phép vua có thua lệ làng, đó chỉ ở trong những phạm vi tục lệ đặc biệt nhất là về tế tự.
Xã thôn có tự trị của xã thôn, nhưng không phải vì sự tự trị
này mà xã thôn không tuân phép nước.
Lệ làng nhằm vào sự bảo vệ an ninh cho làng, lo cho làng thịnh vượng và gìn giữ những thuần phong mỹ tục, và đó chính là những điều phép nước đã đề ra.
dự PhòNg và tư CấP
Người dân quê hay lam, hay làm nhưng vì nghiệp nông vất vả lại thêm gặp những năm mưa không thuận gió không hòa, mùa màng thu hoạch kém, nên tại nhiều làng thường xảy ra nạn đói kém.
Nghĩa SươNg
Để chống với nạn đói kém này, các làng xã đã dự phòng một kho lúa riêng, gọi là kho nghĩa sương và khi cần tới, đem lúa trong kho tư cấp cho người túng thiếu.
nghĩa sương là kho chứa thóc của dân làng. Thóc này do dân làng góp vào và cũng chỉ được dùng cho dân làng. những năm bị thiên tai, hán hạn hoặc lụt lội, mất mùa, dân làng khổ sở, lúa nghĩa sương được đem xuất ra chẩn cấp cho những người nghèo.
Kho nghĩa sương từ trước vẫn có, và năm Tự Đức thứ 18, nhà vua có chuẩn cho các thôn xã mỗi làng đặt một kho này, và giao cho người nào có đủ bảo đảm làm chủ thủ, chủ bộ hoặc còn gọi là sương chính để giữ kho, và cắt tuần phiên canh phòng.
Thóc nghĩa sương do dân làng nộp vào, và số thóc nộp được ấn định theo luật lệ.
Diện hình và Tổ chức
Mỗi mùa, khi lúa chín gặt xong, đã được phơi khô quạt sạch, các chủ ruộng phải nộp vào kho nghĩa sương một phần bốn mươi số lúa của mình.
Tổng cộng tất cả số lúa do dân làng nộp được chia làm ba phần, hai phần nộp vào kho nghĩa sương, còn một phần đem phân chia cho các tuần phiên trong làng.
Dân làng phải nộp lúa vào kho nghĩa sương, số lúa nộp này coi như trả tiền công cho làng vì làng phải canh giữ đồng ruộng để mùa màng không bị gặt trộm và làng cũng đã gìn giữ an ninh cho các chủ ruộng. Hơn nữa dân làng phải có bổn phận đối với những người cùng túng, nộp lúa nghĩa sương để làng giúp đỡ họ.
Lúa nộp phải chia cho tuần phiên một phần ba vì chính tuần phiên là những người chịu trách nhiệm về lúa thóc ở ngoài đồng.
Số lúa tuần phiên được hưởng coi như tiền công của họ.
nhiều nơi thay vì trả lúa cho tuần phiên, làng đã trả tiền và tất cả số lúa đều nộp vào kho nghĩa sương, như vậy kho lúa luôn luôn dư dật. Tuy nhiên không phải số lúa dự trữ trong kho không có giới hạn nào, thường mỗi làng chỉ dự trữ một số lúa tối đa là bao nhiêu, trên số tối đa này, dân làng sẽ đem bán lấy tiền gửi ngân hàng, hoặc kho bạc hàng tỉnh.
Tại nhiều nơi, dân làng nhờ các chủ có nhiều ruộng vào bậc phú hào cho kho nghĩa sương vay tiền hoặc vay thóc, người chủ
thủ phải làm giấy biên nhận.
Tiền có thể đem mua thóc tích vào nghĩa sương lúc dân làng mới gặt xong cần tiền đem bán, và đến khi dân làng cần mua thóc vào những vụ giáp hạt, kho nghĩa sương lại bán thóc ra, thóc bán theo giá hạ hơn giá chợ, tiền lời thuộc kho nghĩa sương, như vậy kho nghĩa sương vừa sinh lời lại vừa giúp đỡ được dân làng: khi dân làng bán, kho mua theo giá chợ, dân làng không
phải bán rẻ thóc; khi dân làng cần mua lại mua trở lại và không phải chịu giá đắt.
Số lúa bán ra có giới hạn, và bao giờ trong kho cũng phải có sẵn một số lúa dự trữ tối thiểu do điều ước nghĩa sương của làng ấn định, và số dự trữ này để dành chỉ cấp phát cho dân làng nghèo đói vào những năm mất mùa hoặc có dịch lệ.
Tiền vay của các nhà phú hào, kho nghĩa sương phải thanh toán sau ba năm. Thóc cũng vậy, sau ba năm phải trả lại cho các chủ ruộng số thóc vay, hoặc tiền thóc tính theo thời giá.
các nhà phú hào, tiền dư của để, tuy là cho kho nghĩa sương vay, nhưng chính thật là đã làm một việc nghĩa để giúp đỡ dân làng.
Thóc ở kho nghĩa sương, ngoài các số thóc của chủ ruộng, thóc vay của các nhà phú hào, còn là thóc do các ruộng công nộp vào.
Ở nhiều xã có lệ trích ra một phần mười tổng số ruộng công để làm ruộng nghĩa sương, thí dụ như làng có 100 mẫu ruộng công, 10 mẫu được dành làm ruộng nghĩa sương. Thóc lúa thuộc các ruộng nghĩa sương, khi gặt được đều đem nộp hết vào kho.
Ruộng nghĩa sương do cả làng chung lưng đấu sức cùng làm.
Thường thì ban Hội đồng làng yêu cầu các chủ ruộng giúp đỡ
mỗi người mấy công cày, mấy buổi trâu, mấy buổi làm cỏ hoặc cấy hoặc làm bất cứ các công việc gì khác thuộc về các thửa ruộng này. cả đến tiền phân tro, các chủ ruộng cũng kẻ nhiều người ít giúp ruộng nghĩa sương.
Việc quản trị kho lúa nghĩa sương chủ thủ phải có sổ sách phân minh và phải tuân theo mọi tục lệ của làng cùng tất cả
những điều gì ấn định trong điều ước nghĩa sương.
Sổ sách này ghi rõ số thóc của dân làng nộp, số thóc của ruộng công, số thóc mua vào khi dân làng bán và số thóc bán ra khi dân làng mua. Số tiền lời của mỗi vụ phải được liệt kê rành rẽ.
Diện hình và Tổ chức
Mỗi năm dân làng tính sổ một lần để biết rõ số chi thu xuất nhập.
Thường thóc nghĩa sương chỉ dùng để nuôi binh lính, tư cấp cho kẻ nghèo đói.
Số chi thu xuất nhập này, Hội đồng làng phải hội tính và lập thành hai quyển sổ, đem trình quan tỉnh để lấy sự phê duyệt.
phê duyệt xong, một quyển lưu lại tỉnh đường tức văn phòng của vị tỉnh hiến như Bố chánh, Tuần phủ, Tuần Vũ hoặc Tổng đốc tùy theo từng tỉnh. Quyển thứ hai, tỉnh đường trao trả cho dân làng để Hội đồng làng giữ hoặc giao cho chủ thủ.
Tỉnh đường luôn luôn theo dõi các kho nghĩa sương tại các xã để kiểm soát việc sử dụng và để ngăn chặn mọi sự gian lận có thể xảy ra được.
những năm mất mùa, muốn xuất lúa nghĩa sương để lo việc cứu trợ những người nghèo túng, hoặc cho các chủ ruộng vay làm mùa, dân làng phải trình cho tỉnh đường rõ.
Thóc nghĩa sương của làng nào, dân làng ấy sử dụng, chỉ trợ
cấp cho dân nghèo trong làng cũng như chỉ cho các chủ ruộng kém sung túc ở trong làng vay làm mùa.
những chủ ruộng vay thóc nghĩa sương làm mùa hoặc phải chịu một số lãi rất nhẹ, hoặc được dân làng cho vay không lời.
Thóc nghĩa sương không ai được xâm phạm tới một cách bất chính, nếu có sự xâm phạm, người xâm phạm phải chịu lỗi, và nếu người nào cố ý lấy thóc lúa nghĩa sương, dân làng có quyền cáo với quan trên để bắt hoàn lại. nếu người lấy thóc không chịu hoàn lại, dân làng có quyền tịch sản để lấy cho đủ số thóc bị xâm phạm.
Kho nghĩa sương rất ích lợi đối với dân làng. nhiều làng không có ruộng công, nhưng dân làng cũng cố lập ra kho nghĩa sương để có một số thóc dự trữ cứu trợ dân làng của những giúp các
chủ ruộng có thóc làm mùa khi cần thiết. Bất cứ ai trong làng, đàn ông hoặc đàn bà giúp đỡ được bao nhiêu thóc lúa cho dân làng, dân làng đều chứa vào kho và đều có sổ sách phân minh.
Dù không có ruộng công, nhưng khi dân làng quyết tâm gây dựng kho nghĩa sương những xã này cũng có đủ thóc lúa cần dùng, chẳng kém chi các xã khác.
Với kho nghĩa sương, tinh thần hòa đồng tương trợ của người dân quê Việt nam càng được chứng tỏ. nghĩa tương bảo, tương phù trì và giúp đỡ lẫn nhau trong những năm đói kém, cũng như
những khi hoạn nạn, thật là những điều hay trong thuần phong mỹ tục của ta vậy.
ĐIều ướC NghĩA SươNg
nghĩa sương được lập nên, phải có những điều ước để bảo đảm việc quản trị, cũng như để ấn định lệ thu xuất. Điều ước nghĩa sương mỗi làng mỗi khác, sự khác biệt tùy theo xã giàu nghèo, nhưng những điểm chính về mục đích, về điều hành căn bản thì thường có sự tương tự như nhau tại các xã.
Trong Việt Nam Phong Tục, phan Kế Bính tiên sinh có lục sao lại điều ước nghĩa sương của xã Đề Kiều tỉnh Bắc ninh (Hà Bắc).
Xã Đề Kiều, nhất xã tứ thôn, gồm các thôn: Thượng Thôn, Hạ Thôn, châu Mỹ, và Điện Tiền. Điều ước nghĩa sương của làng áp dụng chung cho cả bốn thôn này.
Để bạn đọc tiện việc tra cứu, xin lục lại dưới đây bản điều ước nghĩa sương nói trên:
Điều thứ 1. Nghĩa sương của bản xã, chung cả bốn thôn: Thượng Thôn, hạ Thôn, Châu Mỹ, Diện Tiền. Cứ chiếu điền bạ ra ai cầy cấy ruộng công hay ruộng tư trong bản xã, phải góp vào nghĩa sương mỗi sào một đấu thóc, mỗi mẫu mười đấu, mỗi năm thu một lần. (Đấu thì cứ cân trung bình một cân sáu lạng vào một đấu).
Diện hình và Tổ chức
Thóc nghĩa sương chỉ dùng vào việc công nghĩa trong dân xã, như là năm mất mùa đói kém thì chẩn thải, khi dịch lệ mua thóc phát cho người nghèo. Bấy giờ tùy của với người nhiều ít mà chi độ, nhưng số thóc ở nghĩa sương ba phần phải lưu lại một phần để dành, trừ hai việc ấy ra, thời không được tiêu về việc khác.
Điều thứ 2. Đặt một người sương chính, bốn người thủ bạ và một người thủ quỹ để trông nom biên chép và giữ thóc nghĩa sương. Chức Sương chính phải chọn người công kiệm tùy dân xã, xem ai đáng thì bầu. Chức thủ bạ phải kén người cẩn thận, thì cả bốn thôn, mỗi thôn phải bầu một người, Chức thủ quỹ
phải chọn người phân minh có vật lực.
Dân bầu sáu người chức dịch ấy để thay mặt dân xã coi việc nghĩa sương, thì cứ hai năm dân xã lại họp bầu lại một lần.
Điều thứ 3. Cứ vụ đông thu hoạch xong rồi, thì thu thóc nghĩa sương. Cả bốn thôn, ruộng thôn nào thì thôn ấy cứ chiếu điều bạ mà giao cho thủ bạ thu lấy thóc cứ đất nghĩa sương theo lệ
mà thu, thu thiếu thì phải bồi, thu quá lệ thì có lỗi, được bao nhiêu thu vào sổ vào bản thôn cho minh bạch rồi giao thóc cho thủ quỹ giữ. Thủ quỹ nhận thóc thì phải biên vào sổ chính và ký biên nhận vào các sổ của các thôn người ta giao cho, để rồi sau đối sổ cho dễ tính toán.
Thóc nghĩa sương chỉ để thủ quỹ giữ đến bốn trăm thúng trở
lại thôi (20 đấu vào một thúng), còn ngoài số ấy trở lên thời dân xã sẽ họp làm giấy, giao thủ quỹ bán thóc lấy bạc đem gửi ngân hàng, hay là kho tỉnh, bao giờ dân xã phải cần đến tiền, thời lại họp, làm giấy, giao thủ quỹ lĩnh bạc về để chi dụng.
Điều thứ 4. Khi nào phải chi tiêu về hai việc như đã nói trên điều thứ nhất, và những khoản tiêu vặt như là mua sổ sách giấy bút, các đồ dùng khác, thuê người giúp đỡ, cùng là chi phí về
những ngày dân xã họp, thì bốn người thủ bạ làm giấy, kể ra
từng khoản cho minh bạch, lấy chữ ký sương chính, đem đến thủ quỹ lĩnh thóc mà chi dụng.
Thủ quỹ xem giấy xét thực, có đủ chữ ký bốn thủ bạ và sương chính, khai chi tiêu về việc nghĩa sương, thì mới được phát. Nếu mà sai thì thủ quỹ phải đền.
Còn như sương chính và bốn thủ bạ, nếu không phải chi tiêu về việc nghĩa sương mà mạo khai mạo ký thì phải đền, mà dân xã sẽ lại nghị phạt nữa.
Sáu người chức dịch chỉ được làm giấy phát thóc từ một tới 200 đấu mà thôi, ngoài số ấy trở lên thì phải có cả dân xã họp mới được. Những kỳ họp thì sương chính và thủ bạ phải có giấy thông báo dân xã trước mấy hôm, kê ra những việc gì sẽ bàn định, và họp vào ngày nào.
Điều thứ 5. Sổ thu và phát thóc nghĩa sương mỗi năm phải khám hai lần, bất kỳ lúc nào, dân xã bầu hai người đến khám hễ thiếu số hay là mục nát thì thủ quỹ phải bồi và dân xã còn nghị phạt nữa.
Cứ mỗi năm một lần, dân xã họp để bàn định và tính sổ nghĩa sương hoặc khi có việc gì cần, thì sáu người chủ dịch phải thông báo để dân xã lại họp mà bàn định.
lệ họp từ các cụ tới dân đinh 18 tuổi đều được dự bàn, khi bàn định điều gì, phần nhiều người thuận thì được. Ai muốn bàn nói điều gì, cứ ngày dân xã họp thì đến mà bàn nói, nếu ngày ấy không đến thì sau không được nói lại.
Trong khi dân xã họp nghĩa sương, chỉ được bàn định việc nghĩa sương cho có ích lợi mà thôi, còn tịnh cấm không cho ai được nói về việc khác ăn uống rượu chè.
Bao giờ của nghĩa sương có thừa được nhiều, thì dân xã xem việc gì công ích, trình quan xin phép mà làm, để cho dân xã sẽ
được công ích về sau.
Diện hình và Tổ chức
Điều thứ 6. Công việc nghĩa sương hệ trọng và khó nhọc, cho nên dân xã phải bầu những ông công liêm tử tế làm việc giúp dân. Vậy mỗi năm một lần cứ đến Tết lớn, lấy thóc biếu những ông chức dịch như thế này:
Biếu ông sương chính 60 đấu, bốn ông thủ bạ và ông thủ
quỹ, mỗi ông 40 đấu.
Ông thủ quỹ lúc thu phát phải cho công minh, không được thu đầy phát vơi, nếu mà có tai tiếng thì ông thủ quỹ có cữu.
Còn việc giữ thóc thường phải phơi phóng khó nhọc thiếu lại phải đền, nên phụ cấp ông thủ quỹ mỗi năm là bao nhiêu, để
phụ vào chỗ hao hụt, nhưng hãy để bao giờ công việc làm đến, thì mới biết chừng sẽ định được.
Điều ước này viết ra làm 7 bản, một bản lưu tại tòa Công sứ, một bản lưu tại tòa Tổng đốc, một bản lưu tại phủ nha, còn bốn bản thì mỗi thôn giữ một bản làm bằng.
Bản điều ước nghĩa sương trên đây đã được cả dân xã Đề
Kiều ký kết, có lý trưởng áp triện và đã được sự duyệt y của các quan tỉnh Tổng đốc và công sứ.
Bản điều ước này soạn thảo vào khoảng năm 1914, nghĩa là sau khi người pháp đã cai trị nước Việt nam ta hơn ba chục n ăm, nên trong có nói đến nhà ngân hàng và kho bạc hàng tỉnh.
Xưa kia, thóc nghĩa sương, khi quá số dự trữ, được đem bán, tiền lưu tại quỹ làng, và không hề bao giờ xảy ra truyện thâm lạm, - tinh thần đạo đức của dân tộc ta đã ngăn cản việc làm tội lỗi này, nhất là sự thâm lạm lại nhằm vào tiền sẽ dùng trong việc phúc đức, cứu trợ những người túng thiếu trong các trường hợp mất mùa và dịch lệ.
Bản điều ước trên, nêu ra như một bản mẫu, nhưng mỗi nơi có một tình thế riêng, bản điều ước sẽ tùy hoàn cảnh mỗi làng được thay đổi để hợp với dân làng và không trái với tục lệ trong làng.
Mục đích cốt yếu của nghĩa sương như trên đã trình bày, là những kho trữ súc, hoặc trích một phần lúa thuế, hoặc lấy lúa nghĩa quyên của tư nhân bỏ vào để đến thời cơ cận thì đem lúa ấy giúp cho dân nghèo. (1) Số lúa thu của các chủ ruộng tuy tính theo đấu nhưng thường vào khoảng một phần bốn mươi số
thu hoạch.
Bởi vậy, trong điều ước nghĩa sương bao giờ cũng có nói rõ về số thóc sẽ được nộp vào cũng như cách sử dụng số thóc này.
Với kho nghĩa sương, dân làng quê vừa dự phòng lại vừa tư
cấp, dự phòng cho cả làng và tư cấp cho những người cùng túng.
tư CấP
Qua kho nghĩa sương, ta thấy dân quê chú trọng rất nhiều tới vấn đề xã hội. Thực vậy, nền luân lý cổ truyền của ta lấy việc phúc đức làm trọng, mọi người ai cũng nghĩ tới sự làm lành và giúp đỡ
người khác. Rất nhiều câu ca dao đã nói lên cái tinh thần tương thân tương trợ và đã khuyến khích người ta trong các việc cứu tế: Sướng gì hơn sướng làm lành,
Cho bao nhiêu của để dành bấy nhiêu.
*
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
*
Thấy ai đói rét thì thương,
Rét thương cho mặc, đói thường cho ăn.
*
Miếng khi đói, gói khi no.
*
1. Đào Duy Anh. - Sách đã dẫn.
Diện hình và Tổ chức
Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một loài.
*
Với tinh thần tương thân tương trợ, các công cuộc xã hội của ta tại các làng quê xưa rất là thịnh, và cách tổ chức sự cứu trợ
rất thích hợp với hoàn cảnh kinh tế và chính trị của đất nước ta.
Rất tiếc những công cuộc xã hội ấy, khi người pháp cai trị
nước ta, họ sợ những tổ chức cứu trợ và tương tế sẽ là những mầm để dễ gây sự chống đối họ, họ đã làm cho dần dần tiêu tán đi hết. Và để thay thế những tổ chức cũ của ta, họ đã dùng các cơ quan xã hội Thiên chúa giáo, trước là để giúp cho đạo mới này dễ dàng phát triển ngõ hầu họ lợi dụng tôn giáo cho chính trị, sau là để dễ bề kiểm soát và lấy sự cứu trợ làm một ân huệ đối với dân chúng.
Tất cả những cơ quan xã hội do người pháp lập hoặc giúp Thiên chúa giáo lập ra không đủ thay được những tổ chức của ta, phần nhiều xưa lấy thôn xã làm gốc, và do đó sự cứu trợ rất là phiến diện vì người pháp trong việc cứu trợ chỉ lấy bề mặt, không tìm bề sâu, còn hội Truyền giáo Thiên chúa tuy đã mở
được nhiều cơ sở để cứu giúp những trẻ con đau ốm trẻ con mồ
côi, cùng những người giàu yếu tật nguyền, nhưng đấy chỉ là một phần rất nhỏ, so với sự cứu giúp tất cả những người nghèo túng trong dân xã thôn quê thời trước.
Việc cứu giúp và tương trợ của ta xưa được thực hiện dưới nhiều hình thức, và dưới đây là sơ lược những hình thức thông thường tại khắp các nơi trên đất nước Việt nam đã được áp dụng từ đời vua Gia Long trở về sau.
Nghĩa sương, tỉnh huyện. Kho nghĩa sương đã được trình bày ở trên, nhưng chỉ nói đến kho nghĩa sương tại các xã. các tỉnh, các phủ huyện cũng có các kho nghĩa sương để cứu giúp dân nghèo trong những năm đói kém.
Bình chuẩn sương. Đây cũng là những kho lúa tương tự như
kho nghĩa sương, mới được lập từ đời Tự Đức, nhưng thóc ở
những kho này do nhà nước xuất tiền ra mua rồi đến những năm mùa màng kém, đem bán lại cho dân theo giá mua.
Dưỡng tế sở. Đây là những nơi lập ra để nuôi dưỡng giúp đỡ
người cùng túng tật nguyền. Dưỡng tế sở cũng như những kho bình chuẩn sương được lập tại khắp nơi để có thể cung ứng được cho dân chúng ở khắp các làng xã.
các tổng lý phải tìm những người cùng khổ tật nguyền đưa họ
đến ở dưỡng tế sở để họ được nuôi nấng và săn sóc thuốc men.
Trên đây là mấy tổ chức cứu tế do nhà nước chủ trì, nhưng đáng kể hơn là những tổ chức cứu tế và tương tế tại các làng xã.
CÔNg ĐIềN Cứu TRợ
các làng dành một số công điền để giúp các cô nhi quả phụ gọi là cô nhi điền, quả phụ điền. Lại có trợ sưu điền để lấy hoa lợi giúp cho những kẻ nghèo khổ có tiền đóng sưu thuế. nhiều làng cũng dành một số công điền lấy hoa lợi dùng để chẩn cấp cho những người bần cùng, hoặc cho những người nghèo túng vay mà không lấy lãi.
hộI TươNg Tế
Về phương diện cá nhân, dân xã có nhiều hội tương tế dưới nhiều hình thức. các hội này còn được gọi là hội tư cấp.
Hội tư cấp chia ra làm nhiều cách.
Chơi họ (còn gọi là hụi). Mươi mười hai người họp nhau chơi họ. những người này góp tiền mỗi tháng để lần lượt cho một người lấy, như vậy người lấy có thể có được một số tiền lớn để
làm vốn buôn bán. Thường có một người làm cái họ chịu trách nhiệm thu tiền của những người khác để giao cho người đến lượt lấy họ. người được lấy họ hoặc là người gắp thăm trúng, hoặc là người chịu dành cho các người khác một số lời nhiều hơn cả.
Diện hình và Tổ chức
hội hiếu do nhiều người trong làng họp nhau để tương trợ
nhau trong việc hiếu.
những người này, mỗi năm một người làm chủ hội.
Trong hội, ai có tứ thân phụ mẫu qua đời thì báo cho người chủ hội. người chủ hội thông báo cho tất cả các hội viên để
cùng đóng góp giúp tang chủ. Việc đóng góp hoặc bằng tiền hoặc bằng thóc gạo, số đóng góp của mỗi hội viên được ấn định trước từ khi lập hội. cũng có nơi, các hội viên chơi hội bánh chưng bánh dầy. Trong trường hợp này, các hội viên góp tiền hoặc gạo cho chủ hội, chủ hội phải lo đủ số bánh chưng bánh dầy làm sẵn mang tới nhà tang chủ.
Hội viên các hội hiếu, ngoài tiền gạo hoặc bánh góp cho tang chủ, để tỏ lòng kính trọng bậc phụ mẫu các hội viên, hàng hội thường có tế. các hội viên phải mặc tang phục để tế. Hôm đưa ma, các hội viên đều mặc áo trắng đi đưa.
hội hỉ cũng do nhiều người trong làng tổ chức để khi một hội viên có việc hôn nhân hay vui mừng khác, trong hội cùng nhau góp tiền để giao cho đương sự hoặc để sắm lễ vật đi mừng.
Làm nhà, cưới vợ, gả chồng cho con, thi đỗ đều là những việc hỉ. Khao tuổi thọ, khao quan viên, mua được nhiêu xã, được thưởng phẩm hàm v.v... cũng là những việc hỉ.
cũng như hội hiếu, số tiền mỗi hội viên phải đóng bao nhiêu cũng phải theo lệ định trước. Hội cũng có một người chủ hội như hội hiếu. người có việc hỉ đưa trầu tới người chủ hội. người chủ hội thông báo cho các hội viên, ấn định ngày đi mừng để
hội viên góp tiền.
có nhiều khi hiếu, hỉ được nhập vào một hội, việc hiếu thì bất kỳ lúc nào, ai có tứ thần phụ mẫu mệnh chung đều lấy được ngay, còn việc hỉ thì thường có lệ ấn định mỗi năm chỉ có một số người được lấy, thí dụ bốn hoặc năm người chẳng hạn, như vậy chỉ có
Dân làng đi chợ
(Ảnh Nguyễn Cao Đàm)
bốn hoặc năm người có việc trước, trình với hội trước thì được lấy những người có việc hỉ sau phải đợt tới năm sau. Việc hiếu thì không kể lần lượt, nhưng việc hỉ có khi kể lần lượt, mỗi người chỉ
được lấy một lần, cho đến khi hết lượt hội viên mới được lấy trở lại.
hội ăn Tết. Đây cũng là một số người góp tiền nhau chơi hội, đóng cho người chủ hội mỗi tháng một số tiền để đến Tết, người chủ hội gói bánh chưng, mua lợn, bò, đong gạo, tùy theo từng hội, phân phát cho các hội viên. Đây cũng là một cách dự