Gián quyền hoặc bãi quyền người thừa hưởng hương hỏa (tiếp)Partie 48

À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.

Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.

Tiền Chủ

Tiền chủ là người ở trước tiên một ngôi nhà, rồi sau chết ở ngôi nhà này.

Ngôi nhà, qua thời gian, theo mọi sự biến chuyển truyền từ gia chủ nọ tới gia chủ kia. Ai có tiền thì tậu nhà, không có tiền lại bán. Ở dương thì vậy, nhưng tại cõi âm, người tiền chủ vẫn nhớ ngôi nhà của mình, vẫn thỉnh thoảng đi lại thăm nom, coi những chủ sau không phải đích là chủ ngôi nhà.

Gia chủ không muốn bị vong hồn người tiền chủ quấy rối, lập bàn thờ

tiền chủ.

Vị trí bàn thờ Tiền chủ

Bàn thờ tiền chủ thường là một cây hương xây ở ngoài sân. cây hương gồm một trụ cao hơn đầu người, mé trên xây rộng ra thành một bàn thờ, trông giống như một chiếc ỷ hoặc chiếc ngai, có thành ở đằng sau và hai bên. Trên bàn thờ này có đặt một bình hương.

Không có bài vị, vì không ai biết tên tiền chủ là gì. Khi cúng chỉ cần khấn bản gia tiền chủ là đủ.

Có nhiều người đi xem bói, được thày bói gieo quẻ nói cho biết họ tên tiền chủ khi cúng có khấn thêm, nhưng bao giờ cũng khấn rõ là tiền chủ ngôi nhà. có những thầy bói liều lĩnh, đã nói mò tên tiền chủ lại còn nói bậy cả

ngày chết của tiền chủ để khách hàng của mình hàng năm về làm giỗ một tên người vu vơ vào một ngày không chắc chắn! Đấy chẳng qua là sự quá tin nhảm nên những thầy bói liều lĩnh nhảm nhí mới có đất đứng!

Người ta cúng tiền chủ vào những ngày rằm, mồng một, giỗ tết. Đồ lễ

cúng giống như đồ lễ cúng Thổ công.

Đôi khi trong nhà có điều gì lục đục, người ta cũng cúng khấn tiền chủ để

cầu sự bình yên.

CÁC VỊ THẦN KHÁC

ngoài các vị thần kể trên được dân chúng lập bàn thờ cúng lễ tại trong nhà, gia đình Việt nam còn thờ nhiều vị thần khác nữa.

Đức Thánh quan

Đây là Quan Vân Trường đời Tam Quốc, một người theo sử sách lúc sinh thời rất trung trực và lúc chết đã hiển thánh. Trên bàn thờ có tượng hoặc bức tranh của ngài. Bức tranh thường vẽ ngài ngổi giữa, bên phải là Quan Bình, con nuôi ngài, và bên trái là Châu Xương gia tướng trung thành của ngài.

Đằng trước bức tranh là bát hương với các đài để trầu rượu, chiếc mâm bồng để các đồ lễ khi cúng vái. Lại có đèn nến và có cả ống hương.

Thần Hổ

Thần hổ tức là vị chúa tể của loài hổ. Thường người ta thờ thần Bạch hổ, hoặc thần Ngũ hổ, tức là năm thần hổ năm sắc. Bàn thờ thường thiết lập ở

một căn nhà riêng, nhiều khi là một chiếc ban xây ở ngoài sân, hay chiếc miếu xây ở ngoài vườn đối với gia đình ở gần chân núi.

Cúng Thần hổ cũng cúng vào những ngày sóc vọng hoặc trong nhà có công việc gì cáo với gia tiên. Cúng Thần hổ ngoài trầu rượu phải cúng mặn, phải dùng thịt sống hay trứng sống làm đồ lễ.

Sơn Thần

Những gia đình ở vùng núi non, có bàn thờ Sơn thần, tức là thờ vị thần núi. Đành rằng núi nào cũng có miếu thờ Sơn thần, nhưng để tiện việc cúng lễ, và cũng mong được Sơn thần phù hộ, người ta thờ ngay Sơn thần tại nhà.

Bàn thờ Sơn thần được thiết lập tại các chiếc bàn riêng, thường xây ở vườn về phía bàn thờ. Bàn thờ không có bài vị, chỉ có bình hương và các đồ thờ

khác.

Những chiếc ban thờ được xây nên, thường mé trên thờ Sơn thần và mé dưới thờ Thần hổ.

Mộc Tinh

Đây là tinh của những cây lớn mọc ở những vườn rộng, nhất là những cây cổ thụ. Nhiều gia đình, sau khi tậu được một dinh cơ, nhà ngói cây mít, vườn rộng, và trong vườn lại có vài cây thuộc loại cổ thụ, dọn đến ở gặp phải một vài việc

không tốt đẹp, như trong nhà có người đau ốm, của cải mất mát, liền cho là tại những cây cổ thụ có thần, và vị thần vì chủ nhân chưa biết tới mình nên ra uy để chứng tỏ sự hiện diện của mình. Gia chủ liền lập miếu thờ ở gốc cây.

Tục còn tin rằng, những cây to xanh tốt thường có hồn ma trú ngụ, muốn Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

được yên cần phải có cúng lễ.

Việc này kể ra thật là huyền hoặc nhưng vẫn được nhiều người tin, việc tin này không có hại gì tới cuộc sống hàng ngày của mọi người, và có nhiều người hay biết đây chỉ là một sự mê tín, nhưng cũng không ngăn cản người trong nhà, cho rằng việc quỷ thần là việc thiêng liêng, có không, không có khôn lường, không muốn vì sự ngăn cản của mình mà phải nhận lấy trách nhiệm siêu hình đối với gia đình.

Các vị thần tại gia, được mọi người thờ cúng và tin tưởng nếu kể ra thì cũng còn nữa. các vị này có thể thay đổi tùy địa phương, như Sơn thần được thay bằng Hà Bá hoặc Long thần đối với những vùng ven sông, còn sự tôn kính thờ ở đâu cũng vậy.

CÁC VỊ THẦN TẠI CÁC NƠI THỜ TỰ CÔNG CỘNG

Đạo thờ thần của Việt Nam, không phải chỉ thờ riêng các vị thần linh tại nhà, mà ngoài các nơi thờ tự ở các tư gia, còn có các nơi thờ tự công cộng để tôn thờ các vị thần linh chung của thôn xã hoặc của toàn quốc. Ngoài các vị thần được thờ phụng tại các nơi thờ tự, còn có nhiều thần linh, tuy vẫn được dân chúng tôn kính cúng lễ nhưng không có nơi thờ tự hẳn, như thần mưa, thần gió, thần sấm sết v.v...

Cần tránh sự lẫn lộn, Thần đạo với Lão đạo. Trong sự thờ phụng, có một số thần thánh của đạo Lão, thần thánh này do sự biến thể của đạo Lão tạo nên vì sự tin tưởng của bình dân Việt Nam như Thái Thượng Lão Quân, Trương Thiên Sứ, chư vị thần thánh này sẽ được đề cập tới khi chúng ta tìm hiểu đạo Lão ở Việt Nam.

Ở đây chỉ nói việc thờ cúng theo thần đạo, nghĩa là việc thờ cúng những thần linh bất tử hoặc những sức mạnh vô hình đã được tổ tiên chúng ta thờ

phụng vì lòng tôn kính, chứ không phải ảnh hưởng của đạo Lão.

Thành Hoàng

Trong việc thờ cúng công cộng, các thôn xã đều lấy việc thờ phụng đức Thành hoàng bản thổ làm quan trọng. Thành hoàng ở một thôn, một xã cũng như Thổ công ở một nhà. ngài là một vị thần linh cai quản toàn thể thôn xã, che chở cho dân trong thôn, trong xã chống mọi ác thần, giúp đỡ cho thôn

xã được thịnh vượng.

Trong Việt Nam phong tục, phan Kế Bính có viết: Mỗi làng phụng sự một vị Thành hoàng, có làng thờ hai ba vị, có làng thờ năm bảy vị tức gọi là Phúc thần.

phúc thần tức là vị thần giáng phúc cho dân gian.

phúc thần chia làm ba hạng:

*

Thượng đẳng thần,

*

Trung đẳng thần,

*

Hạ đẳng thần.

THƯỢNG ĐẲNG THẦN

Đây là những thần Danh Sơn, Đại Xuyên như Tản Viên Sơn thần, Tô Lịch gian thần cùng những bậc thiên thần như phù Đổng Thiên Vương, Đông Hải Đại Vương v.v... các vị thiên thần có những sự tích linh dị, tung tích ẩn hiện khôn lường, và theo lời các cụ kể lại, thường khi hiển hiện để phù dân giúp nước, bảo vệ một khu vực nào, chống lại ngoại xâm như phù Đổng Thiên Vương hoặc báo trước một tai họa cho dân chúng tránh như Liễu Hạnh công chúa.

Thượng đẳng thần còn gồm các vị nhân thần đã có công với quốc gia dân tộc như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, nguyễn Trãi v.v... Khi sinh thời các vị

này đã từng cứu sự an nguy của quốc gia, giết giặc lập công, lúc chết được nhà vua và nhân dân nhớ ơn lập đền thờ. các vị hoặc được nhà vua sắc phong hoặc do dân gian tôn kính thờ phụng.

Các vị Thượng đẳng thần, trải qua nhiều triều đại, và mỗi triều đại đều có thể có sắc phong riêng.

Các vị nhân thần được liệt vào hàng Thượng đẳng thần có thể là nam như

Trần Hưng Đạo, Lý Ông Trọng, hoặc nữ như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, bà Lê Chân v.v...

TRUNG ĐẲNG THẦN

Trung đẳng thần là những vị thần do dân làng thờ cúng từ trước, có vị

dân làng biết rõ tên mà không hiểu công trạng, hoặc có vị quan tước mà không rõ họ tên, hoặc có vị chỉ có danh hiệu và đã tỏ ra linh dị. Các vị Trung đẳng thần này thường có công với dân làng, lại đã từng gặp những kỳ nhà vua sai kỳ tình đảo vũ có ứng nghiệm, nên được triều đình liệt vào hạng được thờ phụng và ban sắc phong để dân làng rước về thờ. Vì những lý do nêu Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

trên, biết tên mà không rõ công trạng, biết quan tước mà không rõ tên, chỉ

có danh hiệu mà thiếu chính danh nên chỉ được phong làm Trung đẳng thần.

HẠ ĐẲNG THẦN

Ngoài các vị Thượng và Trung đẳng thần còn nhiều các vị chính thần khác được dân xã thờ phụng, có tên hoặc hiệu nhưng không rõ sự tích ra sao, được triều đình phong làm Hạ đẳng thần. Lẽ tất nhiên các vị thần này được dân xã công nhận là linh dị và có công với dân chúng.

Các Hạ đẳng thần, qua các triều đại có thể được nâng lên hàng Trung đẳng thần.

YÊU THẦN, TÀ THẦN

Ngoài ba bậc thánh thần trên, có nhiều nơi thờ các vị thần thật là kỳ quái, gọi là yêu thần, là tà thần. Có nơi thờ thần bán lợn, có nơi thờ thần trẻ con, thần ăn xin, thần chết nghẹn, thần tà dâm, thần rắn, thần rết v.v...

Những vị thần được thờ đều là những người trước đây đã chết gặp giờ

linh, ra oai, ra phép khiến cho dân xã địa phương,

vì sợ mà lập đền thờ. Được thờ rồi có khi các vị thần này cũng đã giúp đỡ

cho dân chúng.

Xin kể ra đây mấy thí dụ:

* Làng Lộng Khê, huyện phụ Dực, tỉnh Thái Bình thờ thần ăn trộm.

* Làng Đông Thôn, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông (Hà Sơn Bình) thờ

thần trẻ con.

* Làng Thư Lang tỉnh Hà nam (Hà nam ninh) thờ thần ăn mày.

* Làng cổ Muế tỉnh Hà Đông (Hà NỘÌ) thờ thần gắp phân.

* Làng Đông Vệ, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh phú) thờ thần gắp phân.

* Làng Khắc niệm Thượng, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc ninh (Hà Bắc) thờ

thần cụt đầu.

* Làng phúc Vạn, Hưng Yên (Hải Hưng) thờ tại miếu cây đa đầu làng một con ngựa cái đen.

Làng không có Thần

Không phải làng nào cũng có Thành hoàng, nhiều làng vì lý do này hoặc lý do khác không có Thành hoàng.

có những làng trước đây cũng đã có thần, nhưng theo sự tin tưởng, vị

thần này đã được rời đi cai quản một nơi khác hoặc được đem lên dự vào hàng thiên thần; lại cũng có nhiều những vị thần bị truất phế, có thể do một đạo sắc của nhà vua, có thể do một ác thần đánh bạt đi, rồi sau dân làng, cầu khẩn các vị Thượng đẳng thần khác tới trị vị ác thần, vị ác thần phải bỏ đi, mà vị thần cũ chưa triệu trở lại được. cũng có những làng mới lập nên chưa có thần.

Trong trường hợp này dân làng tạm thờ vị Thổ thần bản thổ để chờ đời có một vị Thành hoàng.

Thần lập ra làng xã

Trong các nhân thần, nhiều làng thờ ngay người đã có công lập ra làng xã làm Thành hoàng.

* Ông nguyễn cẩn lập ra làng Đông Lâm, tỉnh Hải Dương (Hải Hưng) được dân làng này thờ phụng.

* Ông nguyễn công Trứ lập ra làng ở hai huyện Kim Sơn (Hà nam ninh) và Tiền Hải (Thái Bình) được nhiều xã lập đền thờ.

Lúc đầu dân các xã chỉ vì nhớ ơn người thành lập nên làng xã thôn ấp mà tôn thờ, nhưng sự thờ phụng về sau được chính thức hóa bởi sắc phong của nhà vua, theo lời kêu xin của dân làng và lời đề nghị của các vị đại thần hàng tỉnh.

Thần sống

Các vị thiên thần không kể, các nhân thần thường chỉ được người ta thờ

phụng khi đã chết; tuy vậy cũng có nhiều người được dân làng một thôn xã nào tôn thờ ngay từ lúc sống. Việc nghe tưởng như vô lý, nhưng sự thật đã có như vậy.

Hoàng cao Khải khi lập ra ấp Thái Hà, tỉnh Hà Đông (nay là Hà nội) đã được dân ấp này lập đền thờ. Đành rằng đây chỉ là một sự bắt buộc của Hoàng, lúc đó Hoàng đang có thế lực, nhưng sợ thờ Hoàng ngay lúc sinh thời đã là một sự kiện, và sau khi Hoàng chết, dân Thái Hà ấp vẫn tiếp tục việc thờ phụng.

Có thể việc thờ Hoàng ngay từ khi còn sống do một thiểu số được Hoàng xúi dục và đã chịu ơn Hoàng, đứng lên chủ trương và được dân ấp nghe theo, vì dù sao Hoàng cũng đã làm được đôi ba việc có lợi cho dân ấp này.

Việc dân ấp Thái Hà thờ Hoàng cao Khải nhiều người biết.

Dưới đây tôi xin đơn cử một thí dụ thứ hai về việc thờ thần sống.

Việc này xảy ra tại Khai Quang, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh phú) tôi đã hân hạnh quen biết vị thần sống này.

Làng Khai Quang ở sát ngay gần tỉnh lỵ Vĩnh Yên về phía Nam. Làng có một ngôi đền, dựng bên quốc lộ số 4, từ Hà Nội đi Hà Giang, về mé tay phải, cách Vĩnh Yên vào khoảng ba cây số. Đền dựng lên trên một thửa đất, chung quanh có cây cối, trông mặt ra quốc lộ.

Xưa nay đền vẫn thờ vị Thành hoàng, rất tiếc tác giả không được rõ thần tích của vị này.

Hồi đó vào khoảng năm 1938 hoặc 1940, tại thị xã Vĩnh Yên (Vĩnh phú) ở

xóm Dinh có ông Nguyễn Đình Cận, người hiền lành làm nghề nuôi dê vắt sữa.

Hàng ngày ông chăn đàn dê ở khu rừng Khai Quang, nói là rừng thì không đúng hẳn, vì Khai Quang thuộc về trung du, ruộng đất lúa không tốt mấy, có nhiều đồi, và trên những ngọn đồi này có những cây nhỏ rất tiện cho dê ăn.

Chăn dê, ông thường đi qua quốc lộ số 4 nơi có đền thờ của làng Khai Quang. Người ta thuật lại rằng, mỗi lần ông đi qua ngôi đền lại đổ nhào về

phía đằng trước.

Lần đầu tiên, người thủ từ trông coi đền thấy ngai đổ, cho là có con vật gì chạy qua, đụng chạm mạnh nên ngai đổ xuống. Rồi năm bảy lần như vậy, người thủ từ không khỏi không chú ý và lấy làm lạ. Ông ta về sau cứ để ý thấy mỗi lần ông Cận dắt dê đi qua ngai trong đền lại đổ.

Ông tường trình cùng hương lý mọi sự. Hương lý cùng các cụ họp bàn và làm lễ khấn xin đức Thành hoàng báo mộng để cho dân làng biết lý do việc ngai đổ.

Việc cầu xin của dân làng đã ứng nghiệm. Ông tiên chỉ đã được thần linh báo mộng. Thần nhân đây chính là vị Thành hoàng của làng Khai Quang.

Thần nhân báo mộng đã được Thượng đế triệu về Thiên đình giữ chức vụ

khác, còn tại xã Khai Quang sẽ có ông Nguyễn Đình Cận thay thế. Ông Nguyễn Đình Cận được chỉ định làm Thành hoàng xã Khai Quang và dân làng phải đón ông cận về thờ để tránh mọi sự không tốt đẹp có thể xảy ra được vì thiếu vị Thành hoàng. Chính vì vậy mà mỗi khi ông cận đi qua đền làng thì ngai thần đổ, trong lúc đó vì Thần hoàng cũ phải chạy vội vã ra đón vị Thành hoàng mới, ngai đổ chỉ là một điểm báo cho dân làng Khai Quang biết.

Ông tiên chỉ thuật lại giấc mộng cho hương chức trong làng hay. Sau nhiều buổi họp với các bô lão, dân làng vẫn chưa quyết định. Trong khi đó mỗi khi ông nguyễn Đình cận lùa đàn dê đi qua đền làng, chiếc ngai thần lại cứ đổ ra đằng trước.

Các vị hương chức đã bàn đi bàn lại về việc này. Tự nhiên làng rước một anh chăn dê về thờ còn ra thể thống gì nữa. Các làng lân cận sẽ chê cười, và một anh chăn dê thì giúp đỡ bảo vệ làm sao được cho dân làng chống lại ma quỷ cũng như bất cứ cái gì khác.

Dân làng chần chừ. Giữa lúc ấy, trong làng xảy ra rất nhiều biến cố: cháy nhà, lục súc chết, các vị tai mắt trong làng ốm đau, giếng làng bỗng nhiên bị

lấp v.v...

Các vị bô lão và các vị hương chức phải cùng nhau cấp tốc hội họp. Rồi cho người đi xem bói. Quẻ bói ứng ra là động vì làng không có một vị thần linh cai quản.

Lần này dân làng phải quyết định. Dân làng mua cơi trầu và đồ lễ, cử một phái đoàn lên tỉnh gặp ông nguyễn Đình cận. Thấy những người này tới với những đồ lễ, ông nguyễn Đình cận ngạc nhiên. Mọi người trình bày sự thể

và xin ông cận nhận làm Thành hoàng cho xã Khai Quang. Ông cận giẩy nẩy người từ chối, ông tự cho mình không có phúc đức và tự làm thần như vậy sẽ phải tội với trời đất. Phái đoàn dân xã Khai Quang năn nỉ, nhất định xin ông vui lòng giúp đỡ dân làng nhận cho chức Thành hoàng. Ông cận vẫn một mực từ chối. Phái đoàn phải đi về nhưng sau trở lại và mời thêm các cụ

già tới kêu nài với ông cận. Thấy mọi người cố sức nài nỉ, ông cận muốn được yên thân cho xong truyện, phải bằng lòng nhận lời cầu khẩn của dân làng Khai Quang.

Dân làng xin ông tên họ ngày sinh tháng đẻ về lập bài vị thờ.

Thật lạ lùng! Từ ngày đó làng Khai Quang trở lại bình yên. Ông cận vẫn giữ việc chăn dê và vẫn lùa đàn dê đi qua đình làng Khai Quang, nhưng kể

từ ngày dân làng lập bài vị thờ ông, khi ông đi qua, ngai thần không bị đổ

nữa.

Dân làng Khai Quang muốn mời ông về làng để phụng dưỡng và xin ông bỏ nghề chăn dê nhưng ông không chịu. Ông cứ đi chăn dê và cứ sống theo nghề riêng của mình, mặc những lời cầu khẩn của xã Khai Quang.

Làm Thành hoàng xã Khai Quang ông cận luôn luôn được dân làng mang Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

lễ vật tới dâng.

Mỗi khi trong làng có cúng tế, lại có người mang lễ vật tới dâng ông từ

hôm trước để xin ông ngày hôm sau, nằm ngủ vào lúc làng tế lễ.

Ông cận làm Thành hoàng làng Khai Quang như vậy cho đến năm 1945.

Việc này, chính các viên công sứ và tuần phủ tỉnh Vĩnh Yên đều lưu ý tới và lấy làm lạ. Lúc đầu bọn họ cho là ông cận bày đặt ra để mưu toan cho việc chính trị gì, nhưng sau khi dò xét kỹ lưỡng, họ đã mất hết lòng nghi ngờ và chỉ cho đây là một việc thần bí không giải thích được.

Ngày nay có thể ông nguyễn Đình cận vẫn còn sống nhưng việc thờ

phụng ông tại làng Khai Quang với mọi biến chuyển của thời thế không biết có còn không?

Tứ Bất Tử

Trong các vị nhân thần được dân chúng Việt nam thờ phụng và được tôn lên hàng Thượng đẳng thần, có bốn vị được coi là Tứ bất tử. các vị này, theo lời tục truyền và thần tích, đã không chết và đã biến về Trời.

Tứ bất tử là:

*

Chử Đồng Tử

*

Liễu Hạnh Công Chúa

*

Tản Viên Sơn thần

*

phù Đổng Thiên Vương

Chử Đồng Tử người làng Chử Xá, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc) là con trai ông Chử Cù Vân thường được người ta tôn là Chử Đạo Tổ. Chử

Đồng Tử đã kết duyên với Tiên Dung công chúa, con gái vua Hùng Vương sự

tích được kể rõ ràng trong Nam Hải dị nhân của phan Kế Bính.

Liễu Hạnh công chúa là người làng Văn Cát, huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định, ái nữ của Lê Thái Tông. Bà là người văn hay chữ tốt đã được triều đình sắc phong là công chúa.

Tản Viên Sơn thần là con rể vua Hùng Vương thứ XVIII, chính là Sơn Tinh, vốn là người xã Thái Châu, phủ Hưng Hóa, tỉnh Sơn Tây (Hà Sơn Bình).

Phù Đổng Thiên Vương, tức là người đã đánh phá giặc Ân về đời vua Hùng Vương thứ VI, người làng phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc).

Bốn vị trên là Thượng đẳng thần. Theo tục truyền thì các vị đều hóa thân biến mất, không ai bị chết như người thường và sau khi biến đi rồi, thường

thỉnh thoảng lại có người bắt gặp trở lại trần gian để giúp đỡ dân chúng hoặc chỉ đường dẫn lối cho chính quyền dẹp giặc.

Những việc các ngài hiện thân trở lại, tuy chỉ là điều huyền hoặc, nhưng dù sao các ngài đều là những vị thần được dân gian biết đến rất nhiều. Hằng năm mỗi khi đền thờ các ngài có mở hội, dân chúng thập phương kéo đến lễ bái rất đông. Sự tích của các ngài đã được nhiều sách chép tới, riêng về

phù Đổng Thiên Vương với công trạng dẹp giặc Ân, giết tướng giặc là Thạch Lĩnh, càng được nhiều người truyền tụng.

NHỮNG NƠI THỜ TỰ CÔNG CỘNG

Tất cả các vị thần được tôn thờ tại thôn xã, dù Thượng, Trung, Hạ đẳng thần hay Yêu thần, Tà thần đều có nơi thờ phụng do dân chúng lập nên. Có nơi thờ phụng mới có sự cúng tế, để chư vị thần linh phối hưởng.

Các vị thần có thể được thờ cúng tại đình, đền, phủ, miếu, điện, nghè v.v...

Các vị thần của Lão giáo được thờ phụng tại các điện.

Đình

Mỗi làng đều có một ngôi đình. Đây là nơi dân làng thờ đức Thành hoàng và cũng là nơi để dân làng hội họp khi có việc làng, việc làng gồm cả mọi việc về hành chính, xã hội và tôn giáo. Những cuộc tế lễ chung của dân làng đều cử hành tại đình, những hội hè đình đám đều bắt đầu tổ chức ở đình.

Đức Thành hoàng thường ngự tại đình, chứng kiến đời sống của dân xã, bảo vệ cho mọi người, phù hộ cho làng được thịnh vượng. Ngài thông cảm với nếp sống của dân chúng, cùng dân chúng ghi nhớ mọi kỷ niệm của làng xã.

Luật lệ thói tục, đạo đức đều được ngài duy trì. những người hiền lương được phù hộ, những kẻ gian ác bị trừng phạt. Dân làng nhất nhất tuân theo luật lệ, vì tôn trọng luật làng nhưng cũng vì sợ bị thần linh quở phạt. các vị

hương chức trong làng, mỗi khi muốn mở hội hoặc tổ chức việc gì đều cúng thần xin phép trước.

Thành hoàng ở đây chính là vị chỉ huy tối cao không những riêng về phần thiêng liêng mà còn có thể nói cả một phần về đời sống thực tế của dân làng nữa. ngài đã đoàn kết dân xã, và chính sự đoàn kết của dân xã là cái sức mạnh về phần thực tế của ngài.

Ở trong nhà, con cháu đối với tổ tiên ra sao, thì ở trong xã dân làng đối với vị Thành hoàng như vậy.

Thờ cúng tổ tiên, con cháu lập từ đường thì thờ phụng Thành hoàng, dân làng bao giờ cũng phải thiết lập một ngôi đình. ngôi đình thường lập ở nơi cách biệt dân xã, thường ở đầu làng.

KIẾN TRÚC ĐÌNH

Đình là một nơi thờ tự, kiến trúc đình phải phù hợp với việc thờ cúng, hơn nữa với việc hội họp của dân làng khi có cúng lễ.

Tuy đình thường xây ở một nơi cách biệt dân chúng, nhưng không phải quá xa đến nỗi dân làng không đi tới được, cách biệt nhưng tiện đường đi và ở nơi trung tâm.

Phan Kế Bính trong “Việt Nam phong tục ’ cho rằng, đình chỉ là nơi thờ

vọng Thành hoàng và còn để làm nơi công sở cho dân hội họp, còn chỗ đức Thành hoàng bằng y là miếu, miếu sẽ được nói tới sau.

HƯỚNG ĐÌNH

Trong việc xây đình, người ta rất thận trọng kén hướng và tránh mọi điều kiêng kỵ, vì nếu đình mà động tức là động tới tất cả dân làng, sự an cư và thịnh vượng của dân làng chịu ảnh hưởng rất nhiều ở hướng đình.

Toét mắt là tại hướng đình

Cả làng toét cả một mình em ru?

Đình động nghĩa là có điều gì phạm tới đình: hướng không thuận, đạo nhà hoặc góc ao đâm thẳng vào mặt đình, đằng trước đình theo địa lý có vật gì án ngữ.

Trong một cuốn sách[9] viết về nhà cửa Việt Nam về phương diện thờ tín ngưỡng, ông Chapuis có thuật lại một cuộc xung đột giữa hai làng Mai Xá Chánh và Mai Xá Thị huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị vì ngôi đình làng Mai Xá Thị. Dân làng Mai Xá Chánh thấy hướng đình làng Mai Xá Thị sẽ xây có một đao đình về đình làng họ và có thể gây tai họa cho họ nên phản đối. Việc này về sau chính quyền địa phương phải gởi quân đội về mới giải quyết được.

Đình thường làm theo hướng Nam trừ trường hợp đặc biệt vì lý do phong thủy đình mới theo hướng khác, như tại các xã Thanh Bình xã Nam phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên xây theo hướng Đông, đình các xã Khuông Phò và Phước Yên cùng tỉnh xây theo hướng Tây và đình các xã Thủy

[9} La maison annamite au point de vue religieux.

Lập, Cổ Thái Âp và Hạ Lạc cùng tỉnh xây theo hướng Bắc. Những hướng này đã hợp với những ngôi đình này.

Thường đình hay được kiến trúc theo kiểu hình đinh (J) ngược tức là chữ

T quốc ngữ hoặc theo kiểu chữ công (I).

Đình thường chia làm hai phần cách biệt: đình trong và đình ngoài ĐÌNH TRONG

Còn gọi là hậu cung hay nội điện là chỗ thâm nghiêm nơi thờ đức Thành hoàng. Trong cùng là cung cấm nơi an phụng thần vị, ở đây thường có tượng hoặc bài vị của ngài đặt trong long ngai hoặc long khám.

Trước nơi an phụng thần vị là bàn thờ. Trên bàn thờ ngoài các đồ thờ, tam sự, ngũ sự hoặc thất sự bằng đồng, đài rượu của trầu v.v... còn có hòm sắc đựng sắc phong, kinh sách và thần tích.

Trước bàn thờ là một hương án, trên cùng có bình hương và các đồ thờ

khác. Hai bên bàn thờ và hương án là tả nội gian và hữu nội gian.

Để ngăn bàn thờ với tả, hữu nội gian, hai bên có hai hàng tự khí gồm cờ

quạt, tàn lọng, đồ bát bữu, đồ lỗ bộ, ngựa bóng, ngựa bạch hoặc voi.

Gần nơi cung cấm trong đình, thường ở hai bên có một cờ một biển, gọi là cờ vía, biển vía để chức tước của vị Thành hoàng.

Đồ bát bữu là tám thứ đồ quý, thường gồm:

1-

Đàn sáo

2-

Lẳng hoa

3-

Thư kiếm

4-

Bầu rượu

5-

Túi thơ

6-

Thư bát

7-

Khánh

8-

Quạt

Đồ lỗ bộ thường gồm:

2 thanh mác trường 2 ngọn cờ tiết mao 2 dùi đồng 2 phủ việt 2 biển tĩnh túc và hồi tỵ

có khi gồm:

2 biển tỉnh túc và hồi tỵ 2 phủ việt

4 gươm trường

1 tay văn và 1 tay võ

Và cũng có khi gồm:

1 cờ tiết mao

2 long đao

1 bán nguyệt 1 xà mâu

1 tứ nhi và 1 đinh ba

Đồ lỗ bộ thay đổi tùy từng xã.

Tại sao lại gọi là đồ lỗ bộ? Lỗ là cái mộc. Trong đám rước thời cổ xưa, đi đầu các nghi trượng là cái mộc, rồi đến các thứ khác. Vì cái mộc đứng đầu bộ nên gọi là lỗ bộ.

Cờ tiết mao là hai lá cờ tượng trưng chức sắc của vị tôn thần. Tiết là lá cờ

của nhà vua trao cho để làm tin, còn mao là lá cờ kết bằng lông mao, biểu hiện ân điển của nhà vua. những xã thờ các vị thần được sắc phong của các triều đại, trong đồ lễ bộ, thay vì các binh khí, dùng hai lá cờ tiết mao để nêu uy tín của thần linh xã mình.

Biển tĩnh túc là tấm biển trên có khắc hai chữ tĩnh túc nghĩa là yên lặng cung kính. Trong đám rước thần, cũng như ở nơi thờ tự, mọi người phải giữ

im lặng để tỏ lòng cung kính thần nhân.

Biển hồi tỵ là tấm biển trên có khắc hai chữ hồi tỵ nghĩa là tránh đi. Theo tục ta ngày xưa, khi ra quân, những người tang tóc hoặc tàn tật đều phải tránh. Đám rước là biểu tượng sự hành quân nên có biển hồi tỵ để những người có tang có tật tránh đi. Tay văn là nắm tay cầm bút Tay võ là nắm tay nắm chặt

Hai tay văn võ nói lên sự kiện toàn văn võ của thần linh và cũng nói lên bộ hạ của ngài gồm đủ văn võ. còn các thứ khác đều là khí giới hành quân.

Ở về hai bên tả hữu

nội gian, thường có bàn

thờ Thổ công, bàn thờ các

bộ hạ của Thành hoàng,

hoặc bàn thờ của Hậu

thần.

Trước các bàn thờ này

là chỗ ngồi của các vị đại

lão, quan viên và chức sắc

khi có việc làng.

Một ngôi đình quê

Có khi nơi đây để xếp

các kiệu cùng các đồ nghi

trượng dùng trong việc rước sách như chiêng trống v.v...

Kể các đồ thờ, đáng chú ý là ngựa hồng, hoặc ngựa bạch đặt ở hai bên bàn thờ. Ngựa to bằng thật, đặt trên bộ có bánh xe với đủ yên cương. Ngựa này chỉ mang ra trong khi rước thần để đi theo ngay sau kiệu. Có làng thờ cả

những cỗ voi to bằng thật.

ĐÌNH NGOÀI

Ở trong hậu cung là nhà đại bái chia làm ba khoảng. Chính giữa là trung đình để làm nơi tế tự.

Trong cùng trung đình về phần hậu cung có bày thêm hương án với đồ

thờ.

Trước hương án này là nơi hành lễ khi tế tự. Có trải chiếu, và trong lúc việc làng, các người có ngôi thứ cao có thể được ngồi ở đây. còn tùy tục lệ, có nhiều làng, nơi đây chỉ dùng để lễ bái, không ai được phép vào ngồi.