Gián quyền hoặc bãi quyền người thừa hưởng hương hỏa (tiếp)Partie 56
À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.
Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.
Trải qua bao nhiêu cuộc thịnh suy, đạo phật ở Việt Nam hiện nay với một số tín đồ rất đáng kể, đã có thể gọi là có những cơ sở vững chắc để quảng bá đạo pháp cũng như để dìu dắt tín đồ trên con đường hiểu đạo thờ phật.
Nguồn gốc đạo Phật
Đạo phật do ở đạo Bà la môn mà ra. Nguyên nhân trước khi có đạo phật, từ mấy nghìn năm, tại Ân Độ, dân chúng chia ra làm bốn bậc:
-
Bà la môn, do bọn thầy tu làm chủ coi riêng việc tế tự.
-
Lý đế lợi, do các quý tộc làm chủ nắm giữ chính quyền.
-
Phệ xá, hạng bình dân.
-
Thủ đà, hạng nô lệ.
Trong bốn bậc trên, hạng Bà la môn đứng đầu và hạng Thủ đà là hạng khốn khổ nhất và chịu sự đè ép của ba hạng trên.
Bọn thầy tu của đạo Bà la môn đặt ra điều này lệ khác, làm nhiều việc tệ
hại khiến cho hai hạng Phệ xá và Thủ đà chịu nhiều sự thiệt thòi và kém cạnh.
Trước mọi sự tệ hại ấy, và trước sự đau khổ chung của người đời vì bốn ách sinh, lão, bệnh, tử đạo Phật ra đời, do đức Thích ca Mâu Ni sáng lập. Đức Thích ca về sau được môn đồ suy tôn là Phật Tổ Như Lai.
Sự tích Đức Phật
Đức Phật chính tên là cổ Đàm (Gotama) tự là Tất Đạt Da, họ Thích ca, ngài là con vua nước ca Duy Vệ tên là Tĩnh Phạm Đồ Đâu Gia, và bà mẹ là Tĩnh Diệm.
Theo sách Phật thì Phật mẫu nằm mê thấy Người Vàng đầu thai rồi sinh ra Ngài. cũng có sách lại nói là bà Tĩnh Diệm đã chiêm bao thấy bạch tượng sáu ngà biến thành hào quan soi vào bụng bà, và bà đã thụ thai trong mười tháng mới sinh ra đức Phật. Đức Phật ra đời theo lối cạnh sườn bên phải của Phật mẫu và có một bông sen nảy ra để đỡ Ngài lên. Để tắm cho Ngài có hai con rồng phun nước và để trông nom Ngài đã có bách thần. Ngài da vàng, tóc dựng ngược. Mới sinh ra Ngài đã đi bẩy bước, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất và thét: “Trên thì trời, dưới thì đất, duy có ta là quý hơn cả”.
Truyện này đượm vẻ hoang đường, chắc hẳn là do các môn đồ thêu dệt ra.
Phật sinh vào ngày 15 tháng Tư trước đức chúa Giêsu 644 năm, tính đến năm Tân Mùi 1991 là 2535 năm.
Trước khi tu hành đức Thích ca cũng đã ba lần lấy vợ và đã sinh được một con trai là La Hầu La.
Năm Ngài 29 tuổi, sách Trung Hoa chép là 19 tuổi, nhân một hôm thấy một người già yếu tàn tật vào ăn xin, Ngài mới suy ra mọi sự khổ não ở đời.
Rồi Ngài lại thấy người đau ốm, chết tróc và sinh nở, nên Ngài bỏ nhà vào rừng rồi đi tu ở núi Đàn Đặc và núi Toàn Sơn, sau đến tu ở xứ Xá Vệ, mặc áo cà sa ngồi tĩnh niệm dưới gốc cây bồ đề đến bảy năm mới tìm ra được lẽ
huyền diệu của đạo và tự xưng là Bồ đà, nghĩa là tâm tính sáng suốt. Từ đó Ngài đi truyền đạo. Về sau Ngài mất ở xứ câu Thì. Lúc mất Ngài có bảo môn đồ là Ngài lên cõi Nát bàn, nghĩa là nơi thế giới cực lạc.
Kinh Phật
Sau khi Ngài mất, các môn đồ Ngài soạn các lời di ngôn của Ngài góp lại thành sách gồm 42 chương, chia làm ba quyển, gọi là kinh Tam Tạng, nghĩa là ba quyển kinh chứa những lời phật dạy:
-
Kinh tạng gồm những lời luân thường đạo lý
-
Luật tạng gồm những lời giới cấm
-
Luận tạng gồm những lời nghị luận
Theo kinh phật, trong đạo phật hai chữ Hư, Vô kiêm hết. Bởi vậy nên có câu rằng: “Hết thảy đều không có gì hết, chỉ có cái nhân duyên mà sinh ra.
Nay dẫu tạm có nhưng bản tính vẫn là không. Người đời càn dỡ giữ lấy cho làm của mình có, cho nên đức Như Lai ra đời, lấy một chữ Vô mà phá cái hoặc ấy”.
Câu này đủ nói hết triết lý đạo phật.
Đạo phật chia trong cơ thể có sáu gốc: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân mình và ý tưởng. Sáu gốc này kinh phật gọi là Lục côn.
Lục côn chịu ảnh hưởng của sáu ngoại động lực là Lục Trần, tức là sáu cái bụi:
Mắt chịu ảnh hưởng của sắc đẹp (Sắc)
Tai chịu ảnh hưởng của tiếng hay (Thanh)
Mũi chịu ảnh hưởng của mùi thơm (Hương)
Lưỡi chịu ảnh hưởng của vị ngon (Vị)
Thân mình chịu ảnh hưởng sự đụng chạm (Xúc)
Ý tưởng chịu ảnh hưởng của tưởng tượng (Pháp)
Người theo Phật chống lại sự chi phối của Lục Trần và mình phải tự chủ
được mình mới mong độ được chúng sinh. Trong kinh Phật lại có năm điều cấm gọi là Ngũ Giới:
-
Không sát sinh
-
Không trộm cắp
-
Không gian dâm
-
Không vọng ngôn
-
Không dùng rượu thịt
Những người tu hành Phật giáo phải học phép Tọa Thiền. Tọa Thiền nghĩa là ngồi nhắm mắt, ngoảnh mặt vào vách hoặc vào bàn thờ Phật, lòng thanh thản lâng lâng, không nghĩ ngợi gì.
Phép Tọa Thiền giúp cho người tu hành đạt tới bốn bực:
-
Sơ thiền, không lo lắng gì
-
Nhị thiền, không khổ não gì
-
Tam thiền, rất vui sướng
-
Tứ thiền, không phải vòng luân hồi (Métempsychose)
Luân hồi, theo Hán Việt Từ điển của Đào Duy Anh, nghĩa là xoay vần không thôi. Phật giáo cho rằng người ta lần lượt sống chết trong khoảng lục đạo, xoay vần như cái bánh xe không khi nào thôi.
Lục đạo tức là sáu con đường đi tới chỗ ở theo kinh Phật: Thiên đạo, nhân đạo, a tu la đạo[18], quỷ đạo, súc sinh đạo và địa ngục đạo.
Thiên đạo là con đường tới cõi Trời Nhân đạo - tới cõi Người A tu la đạo
- tới cõi Thần phật Quỷ đạo - tới cõi quỷ Súc sinh đạo - tới cõi loài vật Địa ngục đạo - tới địa ngục
Người nào kiếp trước làm nhiều tội ác thì khi chết xuống Âm phủ sẽ bị tội rồi lại phải đầu thai vào kiếp súc vật, hoặc phải đày đọa nơi cõi quỷ hoặc địa ngục. Những người làm nhiều điều lành sẽ lại được trở lại kiếp người hoặc được lên cõi Trời, cõi phật.
Tóm lại trong đạo phật có hai điều quan trọng là sự khổ não và cách giải thoát sự khổ não đó.
Khổ não là bởi sự luân hồi, hễ thoát khỏi vòng luân hồi thì khỏi khổ. Ai diệt được lòng dục trói buộc ở trần thế, sẽ thoát được vòng luân hồi, lên được Nát Bàn là cõi Hư Vô, là nơi Thế giới cực lạc.
Quảng bá Phật giáo
Đạo phật lúc đầu chỉ thịnh hành ở Ấn Độ, sau mới lan truyền sang Trung Hoa, Việt Nam và các nước Á Đông khác.
Theo các sách chép lại thì khi đức phật đã tịch, môn đồ của Ngài là Ma Kha ca Diệp hội họp tất cả các đồ đệ của Ngài vào khoảng 500 người để thảo về đạo lý của phật. Đó là cuộc hội tụ thứ nhất của phật giáo. Sau đó đạo phật
[18] Atula là tên một vị thần trong nhà Phật.
càng được nhiều người theo và dần dần phổ biến quảng bá trong quần chúng.
Cách đó một trăm năm, một tín đồ phật giáo là Gia sa đa lại họp đệ tử ở
Đôn-sá-lị, vào khoảng 700 người. Với cuộc hội giáo thứ hai này của đạo phật, đạo càng được lưu truyền sâu rộng hơn ở lưu vực sông Hằng Hà.
Đời vua Mao-lị-gia ở trung tâm Ấn Độ, với sự giúp đỡ của hoàng gia, đạo Phật được quảng bá khắp toàn cõi Ân Độ. Đến đời vua Kê Ma, vào thời vua Noãn Vương nhà chu ở Trung Quốc, đạo Phật trở thành quốc giáo của Ân Độ, và nhà vua sau một cuộc hội giáo, hội giáo lần thứ ba, ở kinh đô, ra lệnh cho toàn thể dân chúng phải theo đạo Phật. Nhà vua cũng lại cử các giáo sĩ
ra ngoại quốc để truyền đạo, và do đó đạo Phật được lan rộng khắp thế giới.
Đạo Phật tới Trung Hoa và Việt Nam
Tại Trung Quốc về đời Hán Võ Đế, sau khi người Ban Siêu đi sứ nước Tây Vực trở về, người Tàu mới biết tới đạo Phật.
Đến đời vua Minh Đế nhà Hán, Thái Tịch được cử làm sứ thần sang Tây Trúc cầu kinh. Khi trở về, Thái Tịch có đưa theo hai tăng nhân là Nghiệp Ma Đằng và chúc Pháp Lan. Được kinh rồi, nhà vua sai lập chùa Bạch Mã ở Lạc Dương để thờ Phật.
Kinh Phật về sau được sang Hán tự, và truyền cho dân chúng học.
Đời vua An Đế nhà Tấn có người Pháp Hiển qua chơi Ân Độ, chu du hơn ba mươi rồi từ Tích Lan vượt bể Nam Hải về Tàu, tới đâu cũng thấy Phật giáo thịnh hành.
Đến nhà Lương, vua Vũ Đế, hai người Phổ Văn và Tuệ Sinh được cử sang phía Bắc Ấn Độ đem Phật kinh về nước.
Đạo Phật ngày càng quảng bá, cho đến đời vua Thái Tôn nhà Đường, có thầy Đường Tăng tức là nhà sư Huyền Trang, đi qua lối Tây Tạng, sang Ân Độ thỉnh kinh và có mang về được 650 bản kinh Phật. Đạo Phật lúc này đã thịnh đạt ở Trung Hoa lắm rồi.
Tới đời vua Đường cao Tôn, lại có nhà sư Nghĩa Đô sang Ân Độ mang về
được 400 bản kinh nữa. Đạo Phật lại càng phát triển hơn.
Nước Việt Nam ta khi đó nội thuộc nước Tàu, chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Tàu, nên bao nhiêu tôn giáo của Tàu ta đều theo hết, Khổng giáo, Lão giáo cũng như Phật giáo.
Theo sử sách chép thì vua Đinh Tiên Hoàng là người mến đạo phật cho nên mới phong hòa thượng Khuông Việt làm thái sư.
Sau vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Đại Hành vẫn dùng Khuông Việt và nhà vua lại sai sứ sang Tàu để cầu kinh Tam Tạng.
Đó là lúc sơ khai của đạo phật tại Việt Nam.
Đến đời nhà Lý thì phật giáo đã thịnh hành tại nước ta lắm rồi. Những người thâm thúy về đạo phật như Từ Đạo Hạnh, Khổng Lộ, Mẫn Giác, Lư Ân đều là những bậc danh nho, chùa chiền được xây tại khắp trong nước. Rồi dân chúng tô tượng đúc chuông, sùng bái đức phật Thích ca.
Đạo phật thịnh cho đến đời nhà Hậu Lê mới sút kém, nhưng nói vậy không phải đạo phật không còn ảnh hưởng với dân chúng nữa. Đạo phật vẫn được dân chúng theo và tin, nhưng song song với đạo phật, đạo Nho và đạo Lão cũng được truyền bá trong dân chúng.
Phật giáo từ hậu Lê trở về sau
Nhà Hậu lê trọng Nho giáo, Phật giáo bị phái Nho công kích, và triều đình không săn sóc tới nữa, do đó, đạo phật chỉ còn lại ở trong dân chúng.
May thay, trong thời kỳ này, tại miền Bắc, thuộc ảnh hưởng của chúa Trịnh; Phật đi vào con đường suy giảm, thì ở miền Trung, thuộc ảnh hưởng chúa Nguyễn, phật giáo lại bắt đầu thịnh đạt. chính chúa Nguyễn Hoàng đã cho xây chùa Thiên Mụ vào năm 1601 tại Thuận Hóa.
Các chúa Hiền Vương, Ngãi Vương và nhất là Minh Vương rất sùng đạo Phật.
Khi Pháp sang đô hộ Việt Nam, Phật giáo đi vào chỗ suy kém. Người Pháp đã tận tình nâng đỡ Thiên chúa giáo, nên ép đạo Phật.
Đi vào chỗ suy kém, nhưng Phật giáo không bao giờ bị diệt vong tại Việt Nam vì tín đồ đạo Phật, mặc mọi hoàn cảnh hình thức bên ngoài, luôn luôn tin ở đạo, và đạo càng bị chèn ép thì lòng tin tưởng của tín đồ lại càng mạnh hơn.
Bởi vậy cho nên, tuy Phật giáo không có một hệ thống tổ chức nào mà vẫn vững bền với số tín đồ rất đông, có thể ước lượng tới 85%, vì người theo đạo Phật chỉ biết có Phật. Ở đâu có chùa là có Phật, và tín đồ chỉ cần đi chùa lễ Phật, và đọc kinh để tìm hiểu giáo lý và những điều Phật dạy.
Phật giáo từ trước năm 1960 ở Việt Nam
Năm 1931, một hội Phật học đầu tiên xuất hiện ở Sài Gòn: Hội Nam Kỳ
nghiên cứu Phật học. Kế đó, năm 1932 ở Trung Việt và năm 1934 ở Bắc Việt đều có hội Phật học.
Các hội Phật học này đều do các tăng già và cư sĩ thành lập với mục đích:
-
Chỉnh đốn thiền môn.
-
Vãn hồi quy giới.
-
Giáo dục học tăng.
-
Phổ thông lý thuyết nhà Phật bằng chữ quốc ngữ.
Phong trào này được phát động rất mạnh mẽ.
Ngày 6-5-1951, một hội nghị Phật giáo toàn quốc họp ở Huế gồm trên 500 đại diện vừa tu sĩ vừa cư sĩ. Hội nghị đã có những quyết nghị quan trọng để thống nhất các hội cư sĩ, cải cách nội bộ Phật giáo và quy định lễ nghi.
Đại Hội cũng phê chuẩn việc Thượng Tọa Tố Liên, đại biểu Phật giáo Bắc Việt đã ký tên cho Phật giáo Việt Nam gia nhập hội Phật giáo thế giới.
Năm 1952, phái đoàn phật giáo Tích Lan (Xơ Ri Lan ca) khi tới dự Hội nghị
tại Đông Kinh (Tôkiô - Nhật) có mang theo một Ngọc Xá Lợi phật Tổ để tặng nước Nhật, khi dừng tại Sài Gòn, phật giáo nơi đây đã tổ chức buổi lễ cung nghinh long trọng có hàng trăm ngàn người dự.
Năm 1955, phật giáo toàn quốc thành lập hội phật giáo thống nhất. Đây là một bước tiến lớn của phật giáo Việt Nam, vì đạo Phật tuy du nhập vào Việt Nam cách đây gần hai chục thế kỷ, nhưng sự thống nhất cho tới ngày đó vần chưa được thực hiện.
Tổng Hội phật giáo ra đời nhờ ở cuộc hội nghị năm 1951 tại Huế, có tất cả 53 đại biểu tăng già và cư sĩ Trung, Nam, Bắc tới dự Hội nghị họp ở chùa Từ Đàm.
Hội nghị đã biểu quyết việc thống nhất phật giáo, thành lập một viện Tăng thống dưới quyền điều khiển của đức Tăng thống.
Sự thống nhất sẽ thực hiện làm hai giai đoạn:
Đầu tiên Tổng Hội gồm sáu đơn vị, ba xuất gia, ba tại gia cho ba miền Bắc, Trung, Nam.
Sau đó, sự thống nhất sẽ thực hiện thật sự bằng cách xóa bỏ các đơn vị
và chỉ còn duy nhất Hội phật giáo Việt Nam.
Năm 1956, một Hội nghị phật giáo toàn quốc đã được triệu tập tại Sài Gòn, một ban quản trị trung ương đã được bầu lên, và hòa thượng Thích
Tịnh Khiết đã được bầu làm hội chủ.
Trong thời gian đi tới sự thống nhất, tại Việt Nam, hội Tăng già đã mở
được ba phật học đường để đào tạo tăng ni, hai cho tăng ở chùa Ân Quang, chợ Lớn và chùa phước Hòa, Trà Vinh, và một cho ni ở chùa Dược Sư, Gia Định.
Ba phật học đường, từ năm 1954 đến cuối năm 1957 đã đào tạo được 130
vị trụ trì tăng và 30 vị ni.
Ngoài ra, hội Tăng già Việt Nam cũng lại đã sáng lập ra hội phật học với mục đích đoàn kết các tu sĩ và các phật tử tại gia, chấn chỉnh để tu theo chính pháp của đức Như Lai và thực hành điều từ bi.
Hội cũng tìm cách loại bỏ những điều dị đoan mê tính và chú trọng vào việc truyền bá giáo lý.
Phải công nhận thời kỳ 1930-1960 là thời kỳ Phật giáo Việt Nam hưng thịnh, và các tổ chức bắt đầu có quy cũ, lại có thêm nhiều tổ chức Phật tử: thanh niên, sinh viên, học sinh, v.v...
các vị Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni và cư sĩ đều lo thi hành đạo pháp và giữ vững đạo đức. Số thiện nam, tín nữ càng ngày càng đông.
Thời kỳ 1960 - 1963
Trong thời kỳ này, Phật giáo đã đi vào một khúc quanh của lịch sử: Phật giáo bị Ngô Đình Diệm đàn áp với chính sách kỳ thị tôn giáo.
Để bóp bẹp tinh thần mộ đạo Phật của nhân dân Việt Nam, Ngô Đình Diệm đã thẳng tay đàn áp, bắn giết, thủ tiêu, cướp của phá chùa khiến cho bao nhiêu thượng tọa, đại đức, tăng ni cũng như bao nhiêu Phật tử đã hy sinh tính mệnh để bảo vệ Phật pháp.
Tinh thần đấu tranh gian khổ này đã gióng lên những tiếng chuông khiến cả thế giới xúc động nên quyết tâm ủng hộ Phật giáo đồ việt Nam đến thắng lợi cuối cùng.
Chính sách kỳ thị tôn giáo ngấm ngầm thi hành từ trước đã công nhiên bộc lộ nhân ngày lễ Phật Đản 15 tháng 4 năm Quý Mão tức là ngày 7-5-63.
Ngô Đình Diệm đã ra lệnh triệt hạ Phật kỳ, và buổi chiều ngày lễ đã xảy ra việc nổ súng vào Phật giáo đồ, giết chết tám người, trong số đó có sáu trẻ
em, còn số bị thương rất đông.
Phật giáo đã tranh đấu, đã hy sinh.
Kết quả chính quyền Ngô Đình Diệm, đã phải sụp đổ vào ngày 1-11-63.
Sau ngày đó, các hội và các phái phật giáo đã đoàn kết thành Giáo hội phật giáo Việt Nam thống nhất với bản hiến chương ngày 20-11 âm lịch Quý Mão.
Việc thống nhất của phật giáo ở miền Nam đã thực hiện, sau đó đã có nhiều âm mưu phá hoại. Dù sao thì phật tử bao giờ cũng là phật tử, họ đã tin theo phật thì dù có sự phá hoại nào, các tổ chức phật giáo có thể tan vỡ, nhưng phật giáo cũng sẽ chỉ mạnh thêm hơn ở trong lòng các tín đồ.
Đại Thừa và Tiểu Thừa
Hiện nay tại Việt Nam, cả hai phái Nam tông và Bắc tông đều được dân chúng tín ngưỡng, và con người phật giáo gặp chùa là lễ phật, không phân biệt Tiểu thừa hay Đại thừa.
Việc phân biệt thường chỉ có các tu sĩ phân biệt với nhau.
Tuy phân biệt Đại thừa và Tiểu thừa, nhưng cả đôi bên vẫn theo tôn chỉ
đạo phật.
Bên Đại thừa còn gọi là Đại Thặng thì chủ trương theo cái tinh thần trong lời phật dạy mà tiến hóa, còn bên Tiểu thừa thì mọi việc đều theo một mực lời phật dạy trong các kinh.
Chỗ khác nhau ở hai phái Đại, Tiểu thừa là ở đó: Đại thừa tự cho là hiểu ý sâu xa của phật, còn Tiểu thừa tự cho là theo đúng lời phật dạy.
Phái Tiểu thừa từ lúc đầu vẫn dùng sách Tam Tạng viết bằng tiếng pali, và truyền về phía Nam các nước Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Ai Lao v.v... đo đó được gọi là Nam Tông.
Còn phái Đại thừa truyền về phía Bắc, các nước Népal, Tam Tạng, (Tây Tạng) (Trung Hoa) Mông cổ, Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản v.v...
do đó được gọi là Bắc Tông.
Sở dĩ hai phái nầy còn gọi là Đại Thặng và Tiểu Thặng, vì thặng là cỗ xe chở người, ý nói chở người đến Nát bàn. Tiểu thặng là cỗ xe nhỏ, ai tu đạo thì tự cứu lấy mình, còn Đại thặng là cỗ xe lớn, người tu đạo không những tu để cứu mình mà còn để cứu chúng sinh: tự giác, giác tha.
Phật giáo Tiểu thừa chỉ thờ có đức Thích ca Mâu Ni như một ông thầy lập giáo, các vị Phật và bồ tát khác không được thờ. Người tu hành thì mặc áo vàng và sáng sáng đi khất thực.
Theo Phật giáo Đại thừa, Đức Thích ca Mâu Ni dần dần đi vào trong lý tưởng, biến thành một vị Phật như các vị Phật trong thần thoại.
Nếu trong các chùa Phật giáo Tiểu thừa chỉ thờ có đức Thích ca thì trong các chùa Phật giáo Đại thừa, ngoài đức Thích ca còn có thờ thêm chư Phật và chư Bồ Tát. Những tu sĩ Phật giáo Đại thừa mặc áo nâu, áo xám, làm lấy mà ăn, không đi khất thực.
Thực ra đạo Phật không phải chỉ có hai tông phái Đại thừa và Tiểu thừa mà còn có nhiều tông phái khác nhau, mỗi tông phái đều cố tìm một con đường để đi đến chân lý, nhưng cái tinh thần duy nhất của Phật giáo vẫn ở
trong tất cả các tông phái: trông thấy rõ cái khổ ở trần gian và tìm cách giải thoát ra ngoài trần gian.
Việc phân chia ra nhiều tông phái của Phật giáo không phải là một điều lạ, vì bất cứ trong giáo đoàn nào, khi giáo chủ còn tại thế, tư tưởng của các môn đệ chưa chắc đã là tư tưởng chung, nói chi là khi giáo chủ đã qua đời.
Điều đáng kể là làm sao các tông phái còn giữ nguyên được cái tinh thần của giáo chủ và không có sự bài xích nhau. Điểm đáng kể nầy, trong Phật giáo phải nhận rằng có, vì nhiều tông phái khuynh hướng tuy khác biệt, nhưng tinh thần vẫn là tinh thần của đạo Phật, và sự bài xích nhau để phân hóa làm hai ba tôn giáo khác nhau cho tới nay không có.
Chùa chiền
Nói tới phật giáo không thể không nói tới những nơi thờ phụng đức Phật.
Cho tới ngày nay, dân ta một phần lớn theo đạo phật, và bất cứ ở đâu, trong thời bình, ta cũng được nghe thấy chuông chùa văng vẳng thu không lúc tinh sương cũng như buổi chiều tà.
Tại khắp nơi, ta đều thấy có những ngôi chùa, mỗi làng ít nhất xưa kia, cũng phải có một ngôi chùa, có khi mỗi thôn xóm đều có một ngôi chùa.
Ngày nay ở các thành phố thường có nhiều chùa ở rải rác khắp các khu và ở
các thôn ấp cũng đều có chùa thờ phật.
Theo tự điển Việt Nam phổ Thông của Đào Duy Tập, chùa là nơi thờ phật thường có tăng ni ở. Khi nói chung về chùa, ta thường nói chùa chiền.
Chùa là nơi phụng sự phật cũng như Đình, Đền là nơi thờ thần thánh, Văn miếu văn từ, văn chỉ là nơi thờ đức Khổng Tử và các vị tiên hiền.
Nếu mỗi làng không kể tới những làng Thiên chúa giáo có một vài ngôi Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
đình và đền thì cùng với những đình đền ấy, mỗi làng cũng có một ngôi chùa thờ phật, và những làng to có khi có tới hai ba ngôi.
Kiến trúc chùa
Nếu đình thường được xây cất ở nơi thuận tiện cho dân làng lui tới, thì chùa thường được thiết lập ở nơi cao rộng trong làng, thường ở trên một khu gò, nếu không thì cũng ở một khu đất được tân cao.
Nhiều làng cất chùa ở những nơi danh lam thắng tích thật là rộng rãi đẹp đẽ như chùa Hương thuộc làng Yến Vỹ, tỉnh Hà Đông (Hà Sơn Bình), hoặc chùa Thầy thuộc làng Thụy Khuê tỉnh Sơn Tây: những làng không có núi cao hoặc nơi danh thắng, chùa thường được cất ở giữa quãng đồng không để
được thanh tịnh.
Nhiều làng ở vùng trung du thường xây chùa ở ven sườn núi hay trong hang núi như chùa Trầm, làng Long châu tỉnh Hà Đông, chùa Điều, làng Thị
cầu (Hà Bắc), chùa Lim, làng Lũng Giang tỉnh Bắc Ninh, v.v...
Trước cửa chùa thường có một sân đất, hai bên sân có hai hàng phỗng đá, hoặc hai hàng chó đá. Ở góc sân, gần cổng chùa, hay có một cây đa cổ
thụ với những rễ phụ lủng lẳng, nhiều khi có buộc những bình vôi.
Từ sân đất thường bước lên một hàng bực tới nhà tam quan.
Tam quan là một căn nhà ba gian có ba cửa khá rộng lớn, và ba cửa này đều coi như ba cửa chính, thường đóng quanh năm, trừ những ngày hội hè, sóc vọng hoặc tết nhất. cạnh tam quan về mé bên tay phải, thường có thêm một cổng bên, cổng này luôn luôn mở trong những ngày thường. có chùa tam quan có gác để làm gác chuông, nhưng ở nhiều chùa khác, gác chuông lại ở trên cổng bên. Trên gác chuông có treo quả chuông lớn của chùa.
Tăng ni lên gác thỉnh chuông phải leo một cầu thang, có khi xây bằng gạch, có khi chỉ là một chiếc thang gỗ.
Tam quan ngụ ý nghĩa ba điều cần xem xét cho rõ trong đạo Phật: a) Không quan là xét sự vật gì đều không có thực tính và thục tướng tức là không cả;
b) Giả quan lại xét nhận chư pháp biến hóa vô thường tức là giả cả; c) Trung quan là xét theo cái lẽ không phải không mà cũng không phải giả, mà ở giữa có lần cả không và giả, đó là chỗ chính yếu ở con đường vào cửa phật.
Nhà Tam quan thường dùng làm nơi cho các hào mục hội họp khi cần
bàn tính tới việc chùa.
Khỏi Tam quan là một lớp sân rộng lát gạch.
Qua lớp sân là nhà thờ Phật, gồm chính điện và nhà Bái đường.
Ở hai bên sân là hai dãy nhà hành lang, một bên dùng làm nhà hậu để
thờ những người mua hậu tại chùa, và đến ngày giỗ hậu, nhà chùa cũng làm giỗ tại đó; còn một bên là để khách khứa tới có chỗ ngồi chơi, gọi là nhà phương trượng. cũng có chùa bên nầy chỉ dùng một gian làm nơi tiếp khách, còn dùng bên kia làm nơi trụ trì, nghĩa là chỗ ở của tăng ni.
Đằng sau nhà thờ Phật có thờ chư vị và có nhà thờ Tổ, tức là nhà thờ
những tăng ni tu hành ở chùa rồi chết đi được nhà chùa tô tượng để thờ.
chung quanh chùa ở hai bên và mé đằng sau thường có vườn. Tại vườn có mộ pháp của tăng ni.
Chính điện
Chính điện là ngôi nhà thờ Phật.
Theo định nghĩa ở trên, chùa là nhà thờ Phật, nhưng sự thực tại một ngôi chùa như vừa kể ra, có nhiều lớp nhà và chỉ có một ngôi nhà dành cho việc thờ Phật tức là nhà Thiên Hương, danh từ này do những đỉnh trầm với những bát hương luôn tỏa khói ngạt ngào mà gọi nên.
Tại nhà Thiên Hương, bao gì cũng có tượng đức Thích ca Mâu Ni.
Tại các chùa theo phái Tiểu thừa, nơi chính điện chỉ có tượng Phật Thích ca, ngoài ra không có pho tượng nào khác, trái lại tại các chùa theo phái Đại thừa ngoài tượng Phật Thích ca còn có thờ các vị bồ tát, nghĩa là những người tu đã gần thành Phật và thiết tha một lòng cứu độ chúng sinh và các vị thần thánh, theo kinh điển Phật giáo, phần nhiều đã qui y Tam bảo và đã phát nguyện hộ trì Phật pháp.
Vào một ngôi chùa theo phái Đại thừa ta nhận thấy:
a) Trên cùng, trong cùng giáp vách gần mái chùa là tượng Tam Thế, đây là pho tượng nhỏ, khuôn khổ bằng nhau, hình dáng giống nhau ngồi trên tòa sen, tượng trưng cho chư Phật mười phương ở ba đời: quá khứ, hiện tại và vị lai. Chư phật khi đã đắc đạo thành phật đều giống nhau về mọi phương diện.
b) Kế lớp trên, đến các pho tựng Di Đà Tam Môn. Ở đây cũng có ba pho tượng, pho lớn nhất ở giữa là đức A Di Đà, giáo chủ Tây phương cực lạc. Hai bên đức A Di Đà có hai pho tượng nhỏ hơn, bằng nhau, hoặc đứng hoặc Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
ngồi, tượng hai vị bồ tát Quan Thế Âm và Đại Thế chí. Hai vị bồ tát này giúp đỡ đức A Di Đà trong việc tiếp dần chúng sinh về cõi cực lạc.
c) Lớp thứ ba, là tượng Thế Tôn tức là đức Thích ca Mâu Ni, giáo chủ đạo phật; hai bên là hai vị bồ tát, Văn Thù bồ tát ở bên trái và phổ Hiền bồ tát ở
bên phải. cả hai vị đều đứng trên tòa sen, hoặc Văn Thù cưỡi con thanh sư, còn phổ Hiền cưỡi con bạch tượng. Con thanh sư tượng trưng cho sức mạnh của Trí Tuệ mà đức Văn Thù là biểu hiện; con bạch tượng tượng trưng cho chân Lý trong sạch vững chắc mà đức phổ Hiền là biểu hiện.
Về lớp thứ ba này, có chùa thay vì ba pho tượng Thế Tôn, Văn Thù và phổ
Hiền, bằng pho tượng đức Di Lạc, một vị đại bồ tát sắp thành phật và kế vị
đức Thích ca làm giáo chủ cõi Sa bà để giáo hóa chúng sinh, sau khi hết đời mạt pháp.
Tại những chùa này, các tượng Thế Tôn, Văn Thù và phổ Hiền xếp xuống lớp thứ tư.
Về tượng đức Di Lạc, nước ta thường tạc hình một vị béo đầy, bụng phệ
ngồi tòa sen, miệng cười hớn hở. Ta thường gọi là Ông Vô Lo. Có chùa tạc tượng Di Lạc Tam Môn gồm ba pho tượng, đức Di Lạc ở giữa, bên trái là pháp Hoa Lâm bồ tát, bên phải là Địa Diệu Tường bồ tát, hai vị tả phù, hữu bật của Ngài.
Cũng có nhiều chùa vẫn thờ đức Thích ca ở đây nhưng tạc tượng đức Thích ca cầm hoa sen ngồi giữa gọi là tượng Niêm Hoa, và hai bên không phải là hai vị Văn Thù và Phổ Hiền bồ tát mà là hai đệ tử của đức Thích ca: ấy là ca Diếp tôn giả, vẻ mặt già và A Nan Đa tôn giả, vẻ mặt trẻ. Tượng hai vị
tôn giả này đều đứng.
Đức Thích ca tại lớp thứ ba này làm giáo chủ ở Sa bà thế giới tức là cõi trần, có các vị bồ tát giúp người, để giáo hóa chúng sinh.
d) Lớp thứ tư, ở giữa thờ tượng cửu Long, còn gọi là Thích ca Sơ Sinh, tức là tượng lúc đức Thích ca mới giáng sinh, có chín con rồng phun nước cho Ngài tắm. Tượng đứng, một tay chỉ lên trời một tay chỉ xuống đất, có chín con rồng vây bọc chung quanh. Trên mây có các vị bồ tát và chư thiên cử
nhã nhạc. Theo kinh điển nhà Phật, như đã nói ở trên sau khi tắm xong, đức Thích ca đi bảy bước, một tay chỉ trên trời, một tay chỉ xuống đất, nói rằng:
“Thiên thượng, địa hạ duy ngã độc tôn, nghĩa là trên trời dưới đất có ta là đáng tôn thờ”.
Ở bên trái tượng cửu Long là tượng vua Đế Thích ngồi ngai y phục hoàng đế, vua cõi trời tam thập tam thiên, và ở bên hữu là tượng Đại Phạm Thiên Vương, cũng ngồi ngai và cũng y phục hoàng đế. Thiên Vương làm chúa tể
cả vạn vật. Vua Đế Thích và Đại Phạm Thiên Vương đều hộ trì đức Thích ca khi Ngài chưa thành Phật.
Có nhiều chùa, thay vì hai tượng vua Đế Thích và Đại Phạm Thiên Vương là tượng Tứ vị Thiên Vương, mặc vương phục, mỗi bên hai vị: đó là các thiên vương hộ trì Phật Pháp ở bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc.