Tín Ngưỡng Việt Nam — Quyển HạPartie 18

À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.

Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.

Trái còn văng đi, trái còn đánh lại; những tầm con mắt ngước theo đà còn và có những con tim hồi hộp khi trái còn từ từ sắp lướt tới vòng tròn.

nhiều cô sơn nữ ném trái còn để bói cuộc nhân duyên của mình. còn ném trúng đích, các cô hân hoan sung sướng, các cô tin rằng sẽ được may mắn trong yêu đương.

cuộc chơi còn thường kéo dài suốt mấy ngày hội, và hàng ngày chỉ được ngừng rất muộn vào lúc bóng chiều dần xuống.

Hiếu KHáCH

Trong những ngày hội, nhất là các hội cướp đầu pháo, đồng bào Thượng miền Bắc tỏ ra rất hiếu khách. Khách lạ tới hội thường được tiếp đãi nồng hậu. Riêng tại châu Quảng Uyên tỉnh cao Bằng, có xã Quảng Uyên, dân làng trong dịp ngày hội đầu năm vào ngày mồng hai tháng hai âm lịch, rất lấy làm hân hạnh được tiếp khách vào nhà. Ở đây người ta tin rằng, đầu năm được khách lạ vào nhà và thết đãi được khách là một điều may mắn cho suốt năm.

nhà có đàn bà con gái, người ta mong được tiếp khách đàn ông con trai, và trái lại nhà có đàn ông con trai, người ta mong được tiếp khách đàn bà con gái.

những đồng bào Kinh tới dự những ngày hội rất được trọng vọng và những chàng trai được các cô sơn nữ tranh nhau mời đón vào nhà.

có thể nói tính hiếu khách là tính chung của đồng bào người Thổ (Tày), nhưng đức tính quý hóa này được biểu lộ một cách rất nồng nhiệt trong dịp đầu năm. có thể nói thêm rằng 322

Mê tín dị đoan

cùng với tân niên, một người khách lạ đi lạc vào bản, vào bất cứ một gia đình nào cũng được tiếp đãi nồng hậu và lịch sự.

TẾT Của Người mườNg, Người NùNg,

Người Thái, Người máN (dao)

Từ trên mới đề cập tới đồng bào Thổ (Tày) và một vài tục giải trí mùa xuân của họ, những tục không thấy ở miền xuôi.

ngoài những tục lệ trên, xin nhắc lại, người Thổ (Tày) cũng ăn Tết như người Kinh.

cùng ăn Tết như ta, còn có các đồng bào người Mường, theo các cụ thì họ chính là người nguyên thủy Việt nam, những tục lệ của người Mường phần nhiều tương tự với tục lệ của người Kinh.

Và cả người nùng cũng vậy. người nùng ở Móng cái chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc cũng như người Kinh, họ cũng thờ cúng như người Kinh với tục lệ Kinh, tuy nhiều nếp sống cũng như tục lệ của đồng bào này có phần nghiêng về người Trung Hoa nhiều hơn.

Sau ngày 19-12-1946, các đồng bào nùng sinh hoạt nhiều với người Kinh, và sự đụng chạm đã có rất nhiều ảnh hưởng về tục lệ của họ, và những ngày Tết, họ vẫn như người Kinh, trải bao biến chuyển vẫn được đón tiếp long trọng như xưa, nếu không giữ nguyên được về mặt vật chất thì họ giữ nguyên cái tâm thành với Tết.

cũng cần nói qua tới sự đón Tết của các đồng bào người Thái, cả Thái trắng lẫn Thái đen thuộc các tỉnh Sơn La, Lai châu. các đồng bào này cũng sửa soạn sắm Tết và vui Tết như người Kinh. Đặc biệt trong các cuộc vui của họ có múa xòe, là một vũ điệu riêng rất uyển chuyển và rất quyến rũ.

Đầu năm, tại các gia đình quý tộc có tổ chức múa xòe để

Tín ngưỡng Việt Nam

mời các quan khách và để dân chúng mua vui. Xòe do các cô thiếu nữ biểu diễn, điệu múa nhịp nhàng lả lướt khiến ai đã có dịp dự kiến sẽ không bao giờ quên được. các cô múa xòe mặc y phục diêm dúa sặc sỡ.

Trong những ngày hội hè, nam phái nhiều người ăn vận Kinh phục, các người quý phái ưa y phục này. Mấy năm cuối cùng thời pháp thuộc, họ cũng theo người Kinh mặc Âu phục.

Tóm lại, người Thái, người Mường, người Thổ (Tày), và người nùng sửa soạn và vui Tết không khác gì người Kinh mấy, có khác chỉ khác ở các trò vui, cả ngay đến một số các người Mán (Dao) ở Vĩnh Yên, phú Thọ, Tuyên Quang cũng vậy.

TẾT Của Người NhắNg

người nhắng ở Lào cay, họ cũng chú trọng tới Tết như

người Kinh, và ngày Tết họ cũng gác bỏ mọi công việc để

vui chơi.

Từ 20 tháng chạp trở đi, họ đã sửa soạn ăn Tết, sắm đồ ăn thức mặc, quét dọn nhà cửa. Họ cũng dùng những câu đối như người Kinh để dán vào các cột nhà, dán vào vách.

Đêm ba mươi Tết họ cũng đón giao thừa. Họ thức suốt đêm để đốt pháo mừng xuân.

Họ có tục đi lấy nước mang về pha trà cúng tổ tiên. Đêm ba mươi Tết, họ chọn giờ tốt, rủ nhau mang ống nước, bầu nước hoặc sang trọng hơn, mang bình ra suối, lựa chỗ nước trong múc nước về. nước này dành riêng để pha trà cúng.

Tục đi lấy nước suối này, cũng là tục xuất hành của họ, nên lúc trở về, họ cũng như người Kinh, bao giờ cũng hái một cành lộc. cành lộc này họ mang về cắm trên bàn thờ.

Bàn thờ của người nhắng sơ sài hơn bàn thờ của ta, không có vàng mã chỉ có một bát hương và vài đĩa hoa quả. Trước 324

Mê tín dị đoan

bàn thờ là một chiếc cồng làm bằng một cây nứa thật dài còn nguyên cả lá uốn cong xuống. Rừng Lào cay rất sẵn nứa.

Mồng một đầu năm, người nhắng ăn chay và cúng toàn đồ chay. ngày hôm ấy họ không đi đâu chỉ ở nhà chúc mừng lẫn nhau.

ngày mùng hai, họ đi chào mừng bà con, họ hàng quen thuộc, và lễ cúng hôm nay là lễ mặn có thịt cá.

Vị chủ tịch trong làng, được dân chúng lũ lượt kéo nhau tới lễ ông vải và chúc mừng. Để đáp lại, ông có cỗ mời đầy đủ, nếu thấy thiếu gì phải cho tiếp ngay.

Trong lúc ăn, trai gái ngồi riêng bàn. Khi rượu ngà ngà say, đôi bên hát lượn với nhau những lời ân tình êm dịu.

Rồi kế đó những bàn thò lò, xốc đĩa, bài cẩu được mở ra.

ngày mồng hai Tết, cũng là ngày người nhắng đi lễ các đền đài. chung quanh Lào cay cũng như chung quanh các thị trấn khác của tỉnh này, có rất nhiều đền miếu. Họ đi lễ

cầu mạnh khỏe, xin ước những điều mong đợi. những cặp trai gái nhắng thường hẹn nhau từ trong năm để đi lễ, để cầu Thánh thần phù hộ cho họ được cùng nhau nên duyên cầm sắt. Lễ xong, họ dắt nhau ra cánh đồng hát lượn. Họ đứng cách nhau dùng hai ống nứa nối liền bằng sợi dây dài để hát.

ngày mồng ba, mồng bốn và sau nữa, người nhắng vẫn tiếp tục vui chơi có khi cho đến hết tháng xuân: lễ bái, cỗ

bàn, hội hè, ca hát, bài bạc...

một lễ đặc biệt của người nhắng: lễ lục tùng (lùng tùng).

Thường thường người nhắng vui xuân cho đến hết ngày Lục Tùng là ngày hội chính hàng năm của họ.

Lục Tùng là hội to mở cho cả một tổng, có khi cả trai gái các tổng khác cũng tới dự. Thật là vui, vui hơn Tết nguyên Đán nhiều!

Lễ Lục Tùng ở Bát Xát mở vào ngày mồng sáu hoặc mồng bảy tháng Giêng, ở Mường Hum mở vào ngày mồng mười 325

Tín ngưỡng Việt Nam

hay mười hai tháng Hai tùy tốt xấu trong các ngày đó. Họ

xem ngày cẩn thận. Lễ Lục Tùng chính là ngày lễ cúng ông Thần coi về mùa màng.

Ông Lý trưởng hoặc chánh tổng nơi mở hội phải đứng tổ

chức lễ này và phải chịu hết các phí khoản. Ổng phải có sẵn trâu bò, dê lợn, gà vịt để thết đãi dân làng.

Trong mấy ngày Tết nguyên Đán, những người ở các thôn xa không đến chúc mừng ông Lý hoặc ông chánh được, ngày lễ Lục Tùng họ kéo nhau tới chúc mừng ông rồi rượu chè, bài bạc hát lượn.

Lễ Lục Tùng cử hành ngoài đồng bởi một ông thầy cúng gọi là pẩu mo. Đúng vào ngày lễ vào lúc 8 giờ sáng pẩu Mo dẫn các chức dịch và dân làng ra ngoài đồng làm lễ tại giàn lễ. Giàn lễ là một chiếc bàn to, kê sau một hàng rào nứa mới dựng, trên bày đủ các thức ăn, trâu gà, lợn vịt v.v.... và hương hoa.

pẩu mo mặc toàn đồ đen, áo dài, quần và khăn đen, bước vào giàn lễ khấn thần, quỳ lễ. Sau pẩu mo đến các chức sắc, rồi đến dân làng cùng kéo nhau vào lễ.

Lễ xong là cuộc ném còn. Trong lúc này, ông chánh hoặc ông Lý ngồi cạnh bàn thờ. pẩu mo bắt đầu cuộc ném còn.

Ông cầm quả còn ngũ sắc ném qua vòng tròn còn trên ngọn một cột cờ. Vòng còn ở đây có dán giấy đỏ. nếu may mắn pẩu mo ném quả còn xuyên qua được vòng còn bịt giấy đỏ, năm ấy mùa màng sẽ tốt đẹp.

pẩu mo ném xong dù qua vòng còn hay không, cũng đến lượt dân làng thay phiên nhau ném cho đến khi mặt giấy đỏ

bịt vòng còn rách tung ra mới thôi.

Sau cuộc ném còn là cuộc cướp ống lệnh. ống lệnh là một ống bằng sắt, gắn kín hai đầu, trong có nhồi thuốc pháo và có cắm một chiếc ngòi. Đốt chiếc ngòi, ống sắt bị sức thuốc pháo nổ, tung lên cao, trai gái xô nhau vào cướp. Ai cướp 326

Mê tín dị đoan

được, mang tới bàn thờ lễ tạ trước nhất, được ông chánh hoặc ông Lý thưởng tiền và ban cho rượu uống.

ngoài ra, trong ngày lễ này, còn có trò kéo co và cờ bạc nữa.

Tan lễ ở ngoài đồng, mọi người kéo nhau về nhà ông chánh hoặc ông Lý ăn cỗ. Trai gái tha hồ chuốc rượu cho nhau. Tục lệ bắt buộc phải uống của mỗi cô gái từ một tới ba chén rượu, tính trung bình mỗi người phải uống tới năm bảy chục chai rượu, mới hết lượt mời; ấy là chỉ tính uống của mỗi cô gái một chén. nếu chàng trai nào không uống được, các cô xúm nhau vào đè ra, đổ rượu vào mồm, vào đầu, lên tai cho đến khi quần áo ướt hết mới tha.

Đấy là ban ngày, còn buổi tối, trai gái thả sức hát lượn với nhau.

những chàng trai bị mệt thường lên sàn gác hay sang các phòng bên để ngủ, nhưng các nàng đâu có chịu để yên. các cô rủ nhau đi tìm các chàng. Một cô cầm chiếc điếu cày và nén hương đang cháy đi trước, các cô khác lũ lượt theo sau.

các cô lên gác nhà sàn, vào buồng, buộc các chàng trai ngồi dậy để hát. nếu chàng trai bằng lòng hát phải đỡ lấy điếu cày, rít một hơi thuốc lào, rồi cất tiếng ca để trả lời sự mời mọc của các cô.

nếu chàng trai cứ nằm ngủ, các cô lấy hương châm vào người, vào tay, vào chân, bạ đâu châm đấy cho đến khi chàng phải ngồi dậy mới thôi.

Suốt đêm Lục Tùng trai gái vang ca với nhau cho đến sáng.

Họ chia tay nhau ra về. Lễ Lục Tùng hết, Tết nguyên Đán mới là hết. Mọi người lại bắt đầu làm việc để chờ Tết năm sau.

Tín ngưỡng Việt Nam

mấy lễ Đầu xuâN

Với Tết nguyên Đán, một năm mới bắt đầu, mọi việc đều phải mới. Bao nhiêu những điều cũ như muốn lùi lại cùng năm cũ.

chính vì vậy, người ta đã sửa soạn đón năm mới một cách trịnh trọng theo nghi lễ cũng như trên thực tế.

Rồi với đầu xuân tới, có những lễ đầu xuân để bắt đầu cho một năm. những lễ này xưa kia, dân ta rất chú trọng, từ vua đến dân, từ quan đến lính, không ai là không theo để cầu mong lấy một năm mưa hòa, gió thuận, phát đạt, thịnh vượng.

những lễ đó là lễ Động Thổ, lễ Khai Hạ, lễ Hạ Điền, lễ

Thượng nguyên, và riêng đối với nhà vua còn có lễ Du Xuân, lễ Khai Ấn, các quan chức có kiếm ấn thường cũng làm lễ này.

ngoài các lễ trên được cử hành khi Lập xuân hoặc sau khi xuân tới, có những lễ được sửa soạn trước để đón mùa xuân: lễ

Ban Sóc, lễ phát Thức, đấy là không kể lễ Tống cựu nghinh Tân.

lễ ĐộNg Thổ

Động thổ theo “Hán Việt tự điển” của Đào Duy Anh nghĩa là động đến đất. Vậy lễ Động thổ nghĩa là lễ động đất, và 328

Mê tín dị đoan

trong khi động đất phải có lễ cúng Thổ thần để trình xin bắt đầu động đến đất cho một năm mới.

nguồn gốC tụC lệ

Theo các sách cổ nguồn gốc lễ Động thổ bắt đầu từ năm 113 trước Thiên chúa giáng sinh.

nguyên năm đó là năm Mậu Thìn, vua Hán Vũ Đế thấy triều đình chỉ có tục tế Trời mà không tế Đất mới bàn cùng quần thần, và sau đó đặt ra nghi lễ tế Hậu Thổ, tức là Thần Đất, còn gọi là xã tế.

ngHi tHứC

nghi thức tế Thần Đất như sau:

Đào một ao, ở giữa có một nền tròn: trên nền tròn có năm bệ, trên mỗi bệ đều có lễ Tam sinh gồm bò, dê, lợn.

Lễ phục của mấy vị chủ tế và bồi bái đều màu vàng.

Lễ Xã Tế đầu tiên do vua Hán Vũ Đế chủ tế và cử hành tại đất Hoài Khưu gần sông phàn.

Lễ Động Thổ bắt đầu từ đó, nhưng đến năm vua Hán Thành Đế lên ngôi, năm 32 trước tây lịch có lệnh bãi bỏ lễ này.

Về sau vì có thiên tai xảy ra, nên lễ Xã Tế lại được tái lập và tồn tại mãi về sau.

Lễ Xã Tế chia làm năm bậc dành cho Hoàng đế, các vua chư

hầu và các quan đại phu trở xuống và có tác dụng khác nhau.

Đại Xã, Hoàng đế chủ tế, làm lễ cho toàn dân, kể cả dân các nước chư hầu.

vương Xã, Hoàng đế chủ tế, làm lễ cho riêng mình.

quốc Xã, vua chư hầu chủ tế làm lễ cho toàn dân của nước chư hầu liên hệ.

Hầu Xã, vua chư hầu chủ tế làm lễ cho riêng mình.

trí Xã, quan đại phu trở xuống chủ tế, làm lễ cho từng địa phương.

Tín ngưỡng Việt Nam

Xã tế tại việt nam.

Xã Tế bắt đầu ở Trung Quốc, lẽ tất nhiên phải truyền tới các nước chư hầu và các nước lệ thuộc trong đó có Việt nam.

Xưa kia, tại Việt nam, lễ này cũng được tổ chức từ triều đình tới dân gian, nhưng về sau lễ này chỉ còn tồn tại trong dân chúng, tại triều đình, Thần Đất đã có tế trong dịp tế nam Giao.

Hàng năm, sau ngày mồng ba Tết, tại các làng có làm lễ

Động thổ để cho dân làng có thể đào bới cuốc xới được.

chính ra thì ngày lễ Động Thổ không nhất định là ngày nào, nhưng để dân chúng tiện việc làm ăn, nhiều làng thường cử hành lễ này sau ba ngày Tết.

Trong buổi lễ, ông chủ tế với nguyên áo thụng xanh cuốc mấy nhát xuống đất để lấy một cục đất đặt lên bàn thờ, tường trình với Thổ thần xin cho dân làng được động thổ.

Sau buổi lễ Động Thổ này, dân làng mới được động tới đất.

Ai cuốc xới trước lễ Động Thổ bị dân làng bắt vạ.

Trong ba ngày Tết, nếu không may có ai mệnh chung, tang gia phải quàn lại trong nhà, đợi lễ Động Thổ xong mới được đào huyệt an táng.

lễ Khai hạ

Theo tục lệ Việt nam, ngày mồng bảy tháng Giêng là ngày lễ Hạ nêu.

cây nêu trồng trong năm, khi sửa soạn đón Tết cùng với cung tên bằng vôi trắng vẽ trước cửa nhà để trừ ma quỷ, nay được hạ xuống.

Lễ Hạ nêu còn gọi là lễ Khai hạ. Mọi công việc thường xuyên, người ta chỉ bắt đầu sau ngày lễ này, tuy tại vùng quê người ta vẫn còn ăn chơi, vì tháng Giêng là tháng ăn chơi, và vì lúc đó, công việc đồng áng đã vợi.

Mê tín dị đoan

Sự tíCH Cây nêu.

cây nêu người ta trồng để trừ ma quỷ có sự tích như sau: Tục truyền ngày xưa, khi Tết đến, bọn ma quỷ hay tới quấy nhiễu dân gian. Dân gian kêu đức phật, phật liền ra tay bắt bọn ma quỷ. Bọn ma quỷ sợ hãi đức phật, không dám quấy nhiễu, nhưng chúng hỏi ở đâu là đất của phật để chúng tránh xa. phật đáp:

- Ở đâu có phướn, có chuông, có khánh đấy là đất của phật.

Ma quỷ lại hỏi địa giới của phật đến đâu và lấy gì làm phân biệt.

phật bảo chúng là ở đâu có vết vôi trắng là địa giới của phật.

Sau đó, ngày Tết người ta dựng cây, trên ngọn nêu có treo khánh sành và phướn giấy, và ở trước nhà có rắc vôi bột thành hình cung tên để trừ ma quỷ. Ma quỷ thấy cây nêu và vôi trắng không dám phạm tới vì sợ đức phật.

nguồn gốC lễ KHai Hạ.

lễ Khai hạ, người Trung Hoa gọi là lễ nhân nhật, nghĩa là ngày của người.

Theo sách Phương sóc chiêm thú thì tám ngày đầu năm mỗi ngày thuộc riêng về một giống:

Mồng 1 thuộc giống Gà

Mồng 2 thuộc giống chó

Mồng 3 thuộc giống Lợn

Mồng 4 thuộc giống Dê

Mồng 5 thuộc giống Trâu

Mồng 6 thuộc giống ngựa

Mồng 7 thuộc giống người nên được gọi là nhân nhật Mồng 8 thuộc giống Thóc

nhân ngày nhân nhật là ngày của giống người nên người ta làm lễ cúng Trời, Đất để đánh dấu ngày đó.

Tín ngưỡng Việt Nam

người Việt nam, nhân dịp này, ngoài lễ giữa trời cúng Trời, Đất, còn sửa lễ cúng Gia Tiên, cúng Thổ công và cúng Thần Tài. Thường sau lễ này, những người buôn bán mới bắt đầu đi chợ, mở cửa hàng.

lễ KHai Hạ Của người trung HOa.

Lễ Khai hạ nguồn gốc tự người Trung Hoa, dân Việt nam sở dĩ làm lễ Khai hạ vì bị ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc.

nhân đây, xin nói sơ qua về lễ này của người Trung Hoa để

bạn đọc tìm hiểu.

người Trung Hoa làm lễ Khai hạ rất linh đình. Họ họp nhau tại đình làng, treo đèn kết hoa, có nhiều cuộc nhảy múa để dân chúng mua vui thưởng xuân. Sau lễ Khai hạ, các hiệu buôn đều mở cửa, những nhà hàng đều đốt pháo. Theo họ, tiếng pháo đem lại sự may mắn và xua đuổi tà ma, quỷ quái.

Sở dĩ người Trung Hoa tổ chức những cuộc vui trong ngày mồng 7 tháng Giêng vì ngày này, như trên đã nói, là ngày của giống người, giống người cũng phải ăn mừng cho tưng bừng để chứng tỏ loài người đứng trên muôn vật.

Trong sách Tàu có thuật lại tục nhân nhật ở Kim Lăng như sau:

Đầu giờ Tý, đêm mồng sáu tháng Giêng tại công sở các thôn xã, già trẻ trai gái đều tụ họp. Ai nấy đều tắm rửa sạch sẽ và mặc quần áo đẹp.

Một đôi ông già bà già khỏe mạnh và sung sướng nhất thôn đứng lên nói về thân thế của mình và cầu chúc cho mọi người đều được như mình. Khi đôi ông bà già này, chúc tụng mọi người đã xong, những cặp vợ chồng trẻ xúm vào yêu cầu đôi ông bà già nói chuyện ái ân cho họ nghe mặc dầu đôi ông bà già này không phải là vợ chồng. Đôi ông bà già phải chiều ý họ kể lại những chuyện ái ân của mình. câu chuyện được mọi người hoan hô.

cuộc vui tiếp diễn mãi tới sáng mới ai về nhà nấy.

Mê tín dị đoan

lễ KHai Hạ ngày nay.

ngày nay, nhiều nơi không còn lễ Khai hạ nữa, tuy nhiên tại các gia đình Trung Hoa và Việt nam nhất là những gia đình buôn bán, ngày mồng 7 tháng Giêng vẫn có cúng lễ, cầu buôn may bán đắt, phát đạt, thịnh vượng quanh năm.

người ta cũng cúng gia tiên, cúng Thổ công, cúng Thần Tài, và có một số người vẫn cúng Trời, Đất như cổ lệ.

lễ ThầN NôNg

Thần nông tức là vị Hoàng đế Trung Hoa đầu tiên đã dạy dân nghề làm ruộng, chế ra cày bừa và là người đầu tiên đã làm lễ tịch điền hoặc Hạ điền.

Lễ Thần nông tức là lễ tế vua Thần nông để cầu mong sự

được mùa và nghề nông phát đạt.

Trên các quyển lịch hàng năm của người Trung Hoa cũng như của ta thường có vẽ một mục đồng giắt một con trâu.

Mục đồng tức là vua Thần nông, còn con trâu tượng trưng cho nghề nông.

Hình mục đồng cũng như con trâu thay đổi hàng năm tùy theo sự ước đoán của Khâm thiên giám về mùa màng năm đó tốt hay xấu.

năm nào được mùa, Thần nông giày dép chỉnh tề, còn năm nào mùa kém, Thần nông có vẻ như vội vàng hấp tấp nên chỉ đi giày có một chân.

con trâu đổi màu tùy theo hành của mỗi năm, vàng, đen, trắng, xanh, đỏ đúng với Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Hàng năm xưa có tục tế và rước Thần nông tại triều đình.

ngHi tHứC lễ tế tHần nông.

Lễ tế Thần nông hàng năm cử hành vào ngày Lập Xuân, bởi vậy nên tế Thần nông còn được gọi là Tế Xuân.

Tín ngưỡng Việt Nam

Theo chỉ dụ của vua Minh Mạng trước đây, hàng năm sau tiết Đông Chí, tòa Khâm thiên giám phải lo sửa soạn việc tế

Thần nông. các quan cùng nhau họp để nặn trâu và tượng Thần nông, tra cứu theo lịch để nặn tượng cho đúng với sự

ước lượng về mùa màng và tô sắc trâu.

Trước ngày Lập Xuân hai ngày, tại gần cửa Đông Ba ngày nay tức là cửa chính Đông, các quan Khâm thiên giám cho lập một cái đài hướng Đông. Trâu và tượng Thần nông cũng được đưa tới lưu tại phủ Thừa Thiên để ngày hôm sau các quan trong phủ tới rước từ phủ tới đài. các quan vận lễ phục, có lính vác gươm dáo, tàn lọng, cờ quạt đi theo.

Tới đài thì một lễ đơn giản được cử hành như có ý để trình với thần linh tượng và trâu. Sau đó, trâu và tượng Thần nông lại được khiêng về kho.

Hôm Tế Xuân lại được rước ra đài, nhưng lần này đi rước là các quan bộ Lễ và các quan tỉnh Thừa Thiên. Khi đám rước đi qua cung vua, một viên thái giám vào tâu vua biết. Sau đó, đám rước lại tiếp tục đi và khi đi qua bộ Lễ, một viên quan đánh vào đít trâu ba roi, có ý thôi thúc cho trâu phải làm việc.

Tới đài các quan làm lễ tế Thần nông theo như nghi lễ

các cuộc tế khác.

Tế Thần nông xong, trâu và tượng Thần nông lại có quân lính khiêng cất vào kho.

năm Minh Mạng thứ hai, nhà vua ra lệnh phải chôn trâu và tượng Thần nông sau mỗi cuộc tế.

Từ năm Khải Định thứ ba, để đỡ tốn kém, trâu và tượng Thần nông từ trước vẫn nặn bằng đất, nhà vua ra chỉ dụ thay trâu và tượng bởi hình vẽ trên vải.

Lễ Thần nông có năm rơi đúng vào một ngày kỵ tại lăng miếu.

Lễ vẫn cử hành, nhưng các quan tham dự không được mặc áo đỏ hoặc tía, và ban nhạc tuy có mặt cũng không được cử nhạc.

Mê tín dị đoan

Tại các tỉnh, trong ngày Lập Xuân cũng có lễ tế Thần nông, và lễ này cũng được sửa soạn từ sau ngày Đông chí. các quan tỉnh phụ trách việc hành lễ. Trâu và tượng Thần nông cũng được đem chôn sau buổi lễ như tại kinh đô.

lễ TịCh ĐiềN

Lễ tịch Điền còn gọi là lễ Hạ Điền. chính vua Thần nông là người đặt ra lễ này. Hàng năm xưa kia mỗi lần xuân đến, nhà vua lại tự thân cấy mấy luống ruộng để làm gương cho dân chúng để cử hành lễ Tịch Điền.

lễ tịCH Điền từ KHởi tHủy.

Lễ Tịch Điền được cử hành trong một ngày hội đầu xuân.

nhà vua ngự trên một cỗ xa, đem theo cầy bừa đi thẳng tới sở Tịch Điền, có văn võ bách quan theo hầu, quân lính và dân chúng theo sau.

nhà vua xuống ruộng cày ba luống, các vương công chư

hầu cày năm luống, các công khanh đại phu cày bảy luống, sĩ cày chín luống. Sau đến lượt dân chúng cũng cày bừa thửa ruộng này, một thửa ruộng dành riêng, lấy hoa màu dùng trong việc cúng lễ. Hạt giống gieo vào thửa ruộng cũng chính là lựa trong đám thóc đã gặt được vụ trước.

Lễ Tịch Điền lúc đầu giản dị như vậy, nhưng về sau có nhiều sự thay đổi như việc thêm lễ Tam sinh và có ca hát những bài ca đồng áng về đời nhà Hán. Đến đời nhà Tống nghi lễ càng thêm phiền phức như đắp đài sơn xanh cao chín thước, làm nhà trên đài v.v...

lễ tịCH Điền tại việt nam.

cũng như các nghi lễ khác, ta cũng dùng nghi lễ Tịch Điền của người Tàu, và lễ này du nhập sang nước ta cùng với sự

nội thuộc Hán tộc.

Tín ngưỡng Việt Nam

Theo sử, chính vua Lê Đại Hành đã cầy ruộng, và trong hai lần cấy, nhà vua được một lần một chum bằng vàng và một lần một chum bằng bạc, và những thửa ruộng dùng để

cày trong lễ Tịch Điền do đó có tên là kim ngân điền.

các vua nhà Lý cử hành lễ Tịch Điền rất trọng thể.

các vua nhà Trần vẫn giữ lễ này, nhưng vì có chiến tranh với quân Mông cổ, lễ cử hành đơn giản. Qua đời nhà Hậu Lê, đến đời nhà nguyễn, lễ này được vua Minh Mạng rất chú ý, và lễ được cử hành long trọng.

ngHi lễ tịCH Điền triều nguyễn.

các quan bộ Lễ trình rõ nhà vua ngày lễ.

Trước ngày lễ một hôm, tại cửa Tả đoan, sáu thể đình, chiếc bàn chung quanh có phủ lụa, được thiết lập. các quan tỉnh Thừa Thiên sắp sửa sẵn cày bừa và một thúng thóc đặt trên các thể đình rồi nhà vua được rước ra ngự lãm. cày bừa nhà vua dùng và thóc giống được rước trên long đình mang tới, sở Tịch Điền có lính tráng, cờ quạt theo hầu. Tại đây long đình được đặt gần chiếc chiếu của vua, gọi là đế tịch.

các thể đình cũng được mang tới và đặt gần chiếu của các quan gọi là quan tịch.

Sở Tịch Điền đặt tại phường Yên Trạch và Hậu Sanh là nơi cử hành lễ, có xây một đài để nhà vua tới xem cày gọi là đài quan canh, và có sẵn nhà kho để chứa cày bừa, thóc giống dùng vào việc lễ gọi là phần khố.

Sáng hôm hành lễ, chiêng trống vang lừng. Quân dân sắp hàng hai bên đường vua đi tới nơi hành lễ, đường này cờ xí rợp trời, có voi ngựa đứng hầu, lại thêm phường nhạc đội khăn mặc áo đỏ, mang cờ ngũ hành, chân đi hia đứng dàn hầu.

Đúng giờ Mão, nhà vua bắt đầu đi từ trong cung đi ra, đầu đội mũ cửu long, mình mặc áo vàng. Bảy phát súng lệnh được bán lên báo hiệu vua đã khởi hành.

Mê tín dị đoan

Tới nơi hành lễ, nhà vua rửa tay rồi bắt đầu dự lễ, tế ba tuần rượu. Tế xong, phường nhạc nổi lên, và nhà vua sang nhà cụ phục để thay áo, đội một chiếc khăn, mặc một chiếc áo chẽn. Sau đó nhà vua ra cày.

nhà vua cày bằng một chiếc cày sơn vàng, tay trái cầm roi. có bốn vị bô lão, chức sắc giúp nhà vua cày và dắt hai con bò có phủ lụa vàng. Hai vị quan đi theo sau vua, người bưng thúng thóc, người vãi thóc.

nhà vua cày ba đường, đoạn giao cày và roi cho hai quan theo hầu là quan phủ doãn Thừa Thiên và một quan bộ Hộ.

cày và roi để lên long đình. nhà vua đến nhà quan canh để

dự xem nốt buổi lễ. các hoàng thân, các quan văn võ đều phải cày. Hoàng thân cày mười đường, quan văn võ cày mười tám đường. Sau cùng là các chức sắc, bô lão sở tại cũng ra cày.

cày xong, vua trở về Đại nội, các dụng cụ cất vào kho, trâu bò giao cho làng sở tại phú Xuân để trong coi thửa ruộng cho tới mùa gặt.

Đồng thời tại các tỉnh, các xã cũng có lễ Tịch Điền. Ở tỉnh, quan tỉnh mở đầu việc cày, ở xã do ông tiên chỉ hoặc vị kỳ

mục nào chức sắc cao nhất trong xã.

Việc cử hành lễ Tịch Điền tại các xã, nhiều địa phương có những tục lệ riêng.

Đến ngày lễ, vị chủ tế, ông tiên chỉ hoặc vị chức sắc cao nhất trong xã, được dân làng rước ra thửa ruộng riêng của làng dành cho lễ này. nơi đây có bàn thờ để cử hành cuộc tế

lễ. Tế lễ xong, ông tiên chỉ bước xuống ruộng cấy lúa, ruộng là ruộng chiêm nên thường xâm xấp nước. Theo lệ làng ông phải cấy mấy hàng lúa. Trong lúc ông cấy lúa, ông mặc quần áo chỉnh tề. Dân làng đứng ở trên bờ ruộng, chờ lúc ông bắt đầu cấy, họ dùng nước, có khi cả bùn đất ném vào người ông.

Bị ném ông lính quýnh, muốn cấy cho mau xong, cắm cây mạ xuống ruộng vội vàng, mạ không ăn sâu, lại tự nổi lên, 337

Tín ngưỡng Việt Nam

ông lại phải cắm lại, và dân làng té nước, ném bùn vào người ông, vừa té vừa cười rất vui vẻ.

Ông chủ tế không giận và cũng không bỏ dở việc của mình, ông chịu đựng sự té nước, ném bùn và cấy cho xong những hàng lúa. Thật là náo nhiệt tưng bừng.

Hành động té nước vào ông tiên chỉ chủ tế tượng trưng cho sự tưới nước vào cây lúa, cầu mong cho cây lúa được tốt tươi và có nhiều thóc.

lễ ThượNg ĐiềN

Đã nói tới lễ Tịch Điền, tưởng không thể không nhắc tới lễ thượng Điền, tuy lễ này không cử hành đầu xuân mà cử

hành khi lúa chín.

Khi lúa chín, quan tỉnh Thừa Thiên làm lễ rồi gặt hái, chọn thóc dùng cho lễ Tịch Điền năm sau.