Tín Ngưỡng Việt Nam — Quyển HạPartie 15
À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.
Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.
cây phật thủ, hoa cũng có mùi thơm, và thường được giới vô hình lưu ý hay tới hái khiến cho hoa không kết quả được.
Để xua đuổi các hồn ma, người ta chôn ở dưới gốc cây một mảnh ván hôi, mảnh ván lấy ở một chiếc áo quan cải táng.
Mê tín dị đoan
Về cây có mùi thơm phải kể cây hoa lý thường được trồng trong vườn cảnh hoặc trước cửa nhà. Tục bảo rằng, nhà nào có cây hoa lý chết, nhà đó sẽ gặp nhiều điều không may.
cây sen cũng có hoa thơm, hoa sen thường dùng để cúng phật, vì hoa sen tượng trưng cho cái gì thanh khiết, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Sen được trồng khắp nơi. Đầm ao nhà nào bỗng dưng có sen mọc nhiều lên gấp bội, nhà đó sẽ gặp may mắn. nếu sen bỗng dưng lụn đi, nhà đó sẽ gặp không may.
cây bưởi cũng có hoa thơm. Về mùa hạ, các bà các cô đi rắc hoa, nghĩa là đi gieo bệnh đậu mùa, thường lấy hoa ở cây bưởi.
cũng là loại cây có hương thơm, cây đài bi lại kỵ ma quỷ.
Ông nghiêm Thẩm trong cuốn “Esquisse d’une étude sur les interdits chez les Vietnamiens” có nhắc lại câu chuyện của ông pouchat đã kể:
Xưa có một người phải đi qua một khu rừng vào lúc chập tối, chợt bị một con ma đuổi theo. người này cắm đầu cắm cổ chạy, nhưng sau mệt quá không chạy được nữa cố gắng chạy tới gốc một cây đài bi to lớn rồi leo lên. người này thấy con ma bỗng nhiên đứng khựng lại, cách xa cây đài bi và bảo rằng:
ngươi đừng tưởng ta sợ ngươi, chẳng qua là ta sợ cây đài bi ngươi leo lên ngồi đó!
nói xong con ma rút lui. người kia leo xuống bẻ mang theo một cành đài bi(1). Húng láng là một thứ húng quý của làng An Lãng, tục gọi là làng Láng. Hái lá húng này phải ngồi xổm, nếu đứng cong lưng mà hái tức là thiếu sự kính trọng đối với cây, cây sẽ héo dần rồi chết.
Sự bất kính đối với cây cũng phải tránh khi hái hoa sen.
Trong lúc hái hoa, không được cãi nhau hoặc nói những lời 1. Pouchat-Superstitions annamites relatives aux plantes et aux animaux.
Tín ngưỡng Việt Nam
thô tục, nếu không đầm sen sẽ tự lụn đi, và như vậy nhà chủ, như trên đã nói, sẽ chịu những sự không may.
cũng là một cây gia vị như cây húng, cây lá sả có tính chất kỵ rắn, người ta hay dùng lá sả nấu thịt rắn.
cây bóng nước, trong nam gọi là cây móng tay cũng kỵ
rắn, và cây này lại có tính chất cầm máu.
cây mần tươi trừ được bệnh hạch và nhiều bệnh khác, bởi vậy người ta thường đeo một nắm lá mần tươi để tránh bệnh.
cây mần tươi lại có tính cách trừ được mạt gà.
cây ớt có tính cách sát trùng. ngày đoan ngọ, các hàng rượu nếp thường treo một túm ớt lên quanh gánh để trừ sâu bọ và giúp cho rượu nếp có thêm tính chất giết sâu bọ.
cây trầu không rất khó trồng và dễ chết.
Ban đêm, người ta kiêng để người ngoài hái lá trầu.
nếu cần phải hái, phải là người nhà ra hái và trước khi hái phải nói:
- Ta là chủ mi đây, đừng sợ, ta hái mấy lá!
nếu để người ngoài hái lá trầu ban đêm, hoặc người nhà hái mà không nói câu trên, cây trầu tưởng là kẻ trộm tới hái sẽ phát hoảng mà chết. Đàn bà có kinh cũng không được hái lá trầu, vì sự ô uế bất kính làm cho cây trầu chết. cây trầu chết chủ nhân sẽ gặp những điều rủi.
Đàn bà thấy kinh cũng kiêng không được hái hoa sen.
cây mít có nhiều nhựa, nhựa mít lúc mới chảy ra trông như sữa. các sản phụ dùng lá mít để rửa vú, mong có được nhiều sữa nuôi con.
cây soan, trong nam gọi là cây sầu đông, có tính chất kỵ
mùi tanh hôi. Khi tới các đám tang, người ta giắt theo một nắm lá soan để tránh mùi hôi của xác chết và để chống lại những sự tai hại có thể có được vì mùi hôi này.
Đưa đám một người chết về bệnh thời khí trở về, người ta đốt lá soan lẫn với trấu để xua đuổi hơi độc.
Lá soan còn kỵ mọt lúa mọt ngô.
Mê tín dị đoan
người ta còn cho rằng những cây sắn trồng gần cây soan cũng như gần cây xương rồng, củ sắn thường có độc, ăn có thể bị chết được, vì rễ soan và rễ xương rồng truyền chất độc sang củ sắn, sắn tức là khoai mì trong nam.
cây dâu, trái với cây mít, làm cho sản phụ mất sữa. Sản phụ nuôi con kiêng không sờ tới cây, cành hoặc lá dâu.
cây dâu trừ được tà ma. Tại các đền điện khi phụ đồng, thấy đồng dùng roi dâu để tra khảo ma quỷ.
Đối với các cây có quả, kiêng chỉ trỏ, vì chỉ trỏ làm cho quả thui đi, nhất là khi cây mới bói lần đầu tiên.
Hái quả, kiêng không ném từ trên cây xuống hoặc tung lên, vì người ăn sẽ bị đau xốc.
có nơi, kiêng dùng tay hái quả, vì như vậy trái cây về sau sẽ nhỏ đi, mất ngon và có khi cây không ra trái nữa. phải dùng dao hoặc kéo cắt. Ông nghiêm Thẩm có nhắc tới sự kiêng kỵ này tại các vườn cam Bố Hạ, tỉnh Bắc Giang (Hà Bắc).
Ăn những trái dứa óng ánh ban đêm sẽ bị chết, vì đấy là những trái dứa thành tinh. có người lại cho rằng, những trái đứa này đã bị rắn ăn, truyền nọc độc sang.
Đàn bà có chửa nhất là chửa con so kiêng không hái các trái cây, vì nếu hái, cây về sau mỗi khi có trái, trái sẽ bị nứt.
cỏ môi thường mọc từng bụi ở đầm, ở hồ. người ta kiêng bơi thuyền lên đám cỏ này vì người ta cho rằng trong đám cỏ này có bè của vua Thủy Tề, sẽ làm đắm thuyền của họ.
cây phù dung có những bông hoa sớm nở tối tàn, tượng trưng cho cái gì ngắn ngủi mau tan vỡ. người ta không trồng phù dung ở gần nhà vì sợ rằng sự thịnh vượng của gia đình cũng ngắn ngủi. người đàn bà sợ tình yêu của chồng không bền bỉ, có khi có thể thành giá bụa vì đời sống của người chồng cũng mau tàn.
Tre đằng ngà là một giống tre thiêng liêng với sự tích đức Thánh Gióng. Đàn bà sợ vào tre này sẽ không sinh sản gì 261
Tín ngưỡng Việt Nam
nữa. Đánh trẻ bằng roi tre đằng ngà, đứa trẻ sẽ bị đau đớn lâu hơn và có thể chết được. Tre đằng ngà không được dùng vào việc kiến trúc.
Lá gồi có tính cách kỵ thần trùng. người chết gặp giờ nặng, được người nhà bỏ vào áo quan một tàu lá gồi để trừ thần trùng.
Là gồi còn dùng để đốt vía cho trẻ con bị vía dữ mà đau ốm, hoặc cửa hàng bị vía dữ làm cho ế hàng.
người ta tin rằng những lá cây hái buổi trưa ngày đoan ngọ đều là những vị thuốc hay.
cũng vào ngày đoan ngọ, người ta có tục khảo cây lấy quả: những cây trồng đã lâu mà không có trái, đến ngày mồng năm tháng năm, người ta khảo cây. Một người trèo lên ngọn cây, một người ở dưới gốc. người dưới gốc cầm dao đe dọa chặt cây và hỏi cây có chịu bói không, nghĩa là có chịu ra quả không.
người trên cây van xin tha cho đừng chặt, và hứa sẽ xin ra quả. người dưới gốc lại hỏi ra bao nhiêu quả thì người trên cây trả lời sẽ bói một số quả đầu tiên là bao nhiêu, câu trả
lời tùy theo từng loại cây thường có quả lần đầu.
người dưới gốc bằng lòng tha không chặt cây, nhưng để
cảnh cáo, phạt bớt những nhánh ngang dọc.
Lạ lùng nhất là sau cuộc khảo cây này, cây thường có quả! phải chăng cây đã đủ sức để ra quả, hay vì có những nhánh bị chặt khiến nhựa cây tụ vào những cành khác nên cây có quả.
Vả lại thường sau những cuộc khảo cây, người ta chăm bón xới cho cây nên cây bắt đầu bói.
cây thủy mai hoa nhỏ và trắng bị coi là đem sự vô duyên tới cho con gái gia chủ.
cây vạn niên thanh thường trồng ở trong nhà để chơi lá, nếu trổ hoa là điềm không tốt cũng như nhà nào có bụi tre trổ hoa thường gặp sự không may.
Mê tín dị đoan
cây hoa nhài tượng trưng cho sự lẳng lơ. người ta kiêng trồng ở trước cửa nhà để tránh sự trăng hoa của con gái.
người ta kiêng chặt ngọn cây trồng trong sân trong vườn nhà, e con cháu không vươn lên được.
cây hoa mười giờ bị coi là mang sự không may lại cho gia chủ, bởi vậy không ai trồng hoa này ở trong nhà.
cây đào có tính cách trừ được ma quỷ, theo tích cũ: xưa ở dưới gốc cây đào lớn núi Độ Sóc có hai vị thần là Thần Trà và Uất Lũy cai quản đàn quỷ. Quỷ nào làm hại dân gian bị trừng phạt ngay.
ngày nay, ngày tết người ta cắm cành đào là để trừ ma quỷ, cành đào tượng trưng cho hai vị thần nói trên.
cây kim giao kỵ độc. Dùng đũa kim giao không sợ ngộ
độc. Ở trong vườn hoặc ở trước sân nếu có cây khô phải chặt ngay, để cây khô trong nhà không tốt. nhiều khi gặp những cây xem chừng vì một lý do nào không sống được, người ta phải đốn ngay.
các thầy ngải trồng cây ngải ở trong nhà, gọi là nuôi ngải để làm bùa.
Đối với cây dừa và cây cau, có một tục rất lạ: nếu trong nhà có người chết, những cây này cũng phải để tang. người ta quấn vào thân cây một miếng vải hoặc một miếng giấy trắng. có như vậy cây mới sống, nếu không chúng sẽ héo dần mà chết.
*
* *
Trên đây chỉ là một ít điều về sự mê tín dị đoan liên quan tới cây cối. Ắt hẳn còn nhiều nữa, nhưng vì không biết nên người viết buộc lòng phải tạm ngưng ở đây, cũng như đã tạm ngưng về các điều mê tín dị đoạn liên quan tới các loài vật.
Tín ngưỡng Việt Nam
Mê tín dị đoan
PhầN Thứ Ba
Lễ tiết
Tín ngưỡng Việt Nam
Mê tín dị đoan
Thời tiết đổi thay từ nóng chuyển sang lạnh qua mùa mát, rồi từ lạnh chuyển sang nóng qua mùa ấm, khi mưa nhiều, khi nắng gắt, khi gió mạnh, khi sương mù.
Để phân biệt thời tiết từ tháng này qua tháng khác, từ tuần nọ sang tuần kia, người xưa phân biệt một năm làm hai mươi bốn tiết, những tiết này gọi là nhị thập tứ khí.
có những tiết khí bắt đầu là cơ hội cho những ngày lễ, hoặc được gọi hẳn là ngày Tết như tiết Thanh Minh.
những ngày lễ và ngày Tết này đều nằm trong lễ tiết của ta, cùng với nhiều lễ, nhiều Tết khác. Mỗi Tết, mỗi lễ có một nguồn gốc riêng, và tết lễ nào cũng đánh dấu một cái gì trong năm, hoặc kỷ niệm một việc gì của dân tộc. Trong những ngày tết lễ này, ta có cúng lễ, có khi là toàn quốc, có khi là riêng một địa phương, có khi lễ do Triều đình, có khi lễ do toàn dân cử hành.
những lễ tiết này phản ảnh một phần nào phong tục của dân ta và nói lên một khía cạnh của dân tộc tính của ta, đồng thời chứng tỏ trình độ văn minh, văn hóa qua những tục lệ
cổ truyền do tổ tiên ta để lại và những tiết lễ đã nằm trong phần tín ngưỡng của dân ta. Tìm hiểu tín ngưỡng Việt nam, chúng ta cần tìm những tiết lễ này:
tết nguyên Đán, Tết đầu năm.
Tín ngưỡng Việt Nam
lễ Động thổ, lễ cúng Thổ thần xin phép động đất cho năm mới.
lễ Khai hạ, ngày mồng 7 tháng giêng. Sau lễ này là hết Tết mọi hoạt động bình thường trở lại.
lễ thượng nguyên, ngày lễ phật, vào rằm tháng giêng.
lễ Hạ điền, còn gọi là Tịch điền, lễ cây lúa, vào một ngày đầu năm.
tế thần nông, cử hành vào ngày Lập Xuân để tế vua Thần nông.
Xuân tế, buổi tế đầu năm vào ngày Đinh đầu tháng hai.
lễ Khai ấn, lễ khai dụng ấn tín trong dịp năm mới, thường cử hành vào ngày Khai hạ. Tết Hàn Thực, mồng 3 tháng ba.
tết thanh minh, 15 ngày sau tiết Xuân phân, có lệ tảo mộ.
lễ Kỳ an, đầu mùa hè, cùng gọi là lễ cầu an.
tết Đoan ngọ, mồng 5 tháng năm, có tục giết sâu bọ.
lễ thất tịch, mồng 7 tháng bảy, còn gọi là lễ ngâu.
lễ trung nguyên, xá tội vong nhân, rằm tháng Bảy.
thu tế, buổi tế mùa thu, ngày Đinh đầu tháng tám.
lễ thượng Điền, vào dịp lúa đã chín.
tết trung thu, tết của trẻ em, rằm tháng tám.
lễ trùng Cửu, mồng 9 tháng chín.
lễ trùng thập, mồng 10 tháng mười.
lạp tiết, mồng 2 tháng chạp, buổi cúng lễ cuối cùng của năm.
tết táo quân, 23 tháng chạp.
lễ trừ tịch, cử hành lúc giao thừa, đón năm mới, tiễn năm cũ.
Mê tín dị đoan
TẾT NguyêN ĐáN
Tết nguyên Đán là tiết lễ đầu tiên của năm bắt đầu từ
lúc giao thừa với lễ trừ tịch.
nguyên là bắt đầu, Đán là buổi sớm mai. tết nguyên Đán tức là tết bắt đầu năm, mở đầu cho một năm mới với tất cả
mọi cảnh vật đều mới mẻ đón xuân sang.
năm mới đến, những sự may mắn mới cũng đến, và bao nhiêu những điều đen đủi không may của năm cũ đều theo năm cũ mà hết.
Theo Trung Quốc sử, âm lịch có từ đời nhà Hạ và lấy tên mười hai chi đặt cho mười hai tháng.
Tháng Dần là tháng giêng được chọn mà tháng đầu năm và người ta ăn Tết nguyên Đán vào đầu tháng Dần.
Về sau đến đời nhà Ân, có thay đổi lấy tháng Sửu làm đầu năm, rồi đến đời nhà chu sửa lại lấy tháng Tý, kịp đến đời nhà Tần, Tần Thủy Hoàng lại sửa nữa lấy tháng Hợi, nhưng đến đời vua Hán Vũ Đế, đầu năm lại bắt đầu từ tháng Dần như đời nhà Hạ, và từ đó không có sự thay đổi nữa.
Thực ra Tết nguyên Đán bắt đầu vào tháng Dần là rất phải, vì lúc đó mùa đông vừa qua, tiết lạnh vừa hết, ngày xuân ấm áp tới, đem lại hoa cỏ đua tươi khiến cho con người cũng hầu như biến đổi cả tâm hồn sau một năm làm ăn vất vả.
Tín ngưỡng Việt Nam
người người vui vẻ đón mùa xuân mới, lòng chứa chan hy vọng ở những sự may mắn mới. Ai cũng vui, nên không ai bảo ai, gặp nhau người ta đều cầu chúc cho nhau những điều tốt đẹp: phúc, Lộc, Thọ, Khang, ninh.
giao Thừa
Tết nguyên Đán bắt đầu từ lúc giao thừa.
Lẽ trời đất có thủy khởi phải có tận cùng, một năm đã bắt đầu ắt phải có hết, bắt đầu từ lúc giao thừa, cũng lại hết vào lúc giao thừa.
Giao thừa là gì? Theo “Hán việt từ Điển” của Đào Duy Anh nghĩa là cũ giao lại, mới tiếp lấy. chính vì ý nghĩa ấy, nên hàng năm vào lúc giao tiếp giữa hai năm cũ mới này, có lễ trừ tịch.
lễ Trừ TịCh
trừ tịch là giờ phút cuối cùng của năm cũ sắp bắt qua năm mới, giữa giờ Hợi ngày 30 hoặc nếu tháng thiếu, thì ngày 29 tháng chạp năm trước và giờ Tý ngày mồng một tháng giêng năm sau.
Vào lúc này, dân chúng Việt nam, tuân theo cổ lễ có làm lễ trừ tịch.
Ý nghĩa của lễ này là đem bỏ đi hết những điều xấu dở
cũ kỹ của năm cũ sắp qua để đón những cái mới mẻ tốt đẹp của năm mới sắp tới.
Lễ trừ tịch theo người Tàu, còn là một lễ khu trừ ma quỷ.
Tục Tàu xưa vào ngày trừ tịch, tức là ngày 30 Tết có dùng 120 trẻ con trạc 9, 10 tuổi, mặc áo thâm, đội mũ đỏ, cầm trống vừa đi đường vừa đánh để khu trừ ma quỷ, do đó có danh từ trừ tịch.
Mê tín dị đoan
Buổi lễ giao thừa tại đình làng.
Ngày Tết gia đình sum họp.
Tín ngưỡng Việt Nam
Bàn thờ Phật tại một ngôi chùa miền Nam trong ngày Tết.
Hoa chợ Tết ở Saigon.
Mê tín dị đoan
Lễ trừ tịch cử hành vào lúc giao thừa nên lễ này còn mang tên là lễ giao thừa.
CúNg ai TroNg lễ giao Thừa
phan Kế Bính trong việt nam Phong tục viết: tục ta tin rằng mỗi năm có một hành khiển coi việc nhân gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế để tiễn ông cũ và đón ông mới.
cúng tế cốt ở tâm thành, và lễ cúng vào giữa nửa đêm nên đượm vẻ thần bí trang nghiêm. cựu vương hành khiển bàn giao công việc cho tân vương thay đức ngọc Hoàng để coi sóc nhân gian trong một năm cho đến giờ phút giao thừa năm sau.
Lễ trừ tịch bao hàm một ý nghĩa trọng đại, tống cựu nghinh tân, nên lễ được cử hành rất trịnh trọng từ tư gia tới các đình chùa. những năm về trước, trong giờ phút này, chuông trống đánh vang, pháo nổ luôn không ngớt, truyền từ nhà này sang nhà khác, khắp kẻ chợ, nhà quê.
Sửa lễ giao Thừa
Tại các đình, miếu, cũng như tại các tư gia, lễ giao thừa đều có cúng mặn. các ông thủ từ lo ở đình, miếu, còn tại các tư gia do người gia trưởng trù liệu.
Xưa kia người ta cúng giao thừa ở đình, ông Tiên chỉ hoặc thủ từ đứng làm chủ lễ, nhưng người ta cũng cúng giao thừa ở thôn ở xóm nữa.
Lễ giao thừa ở các thôn xóm được tổ chức hoặc tại các văn chỉ nếu văn chỉ làng xây tại xóm, nếu không thì cũng tổ chức ngay ở tại điểm canh đầu xóm. Ở đây, vị được cử ra làm chủ
lễ là vị niên trưởng hoặc vị chức sắc cao nhất trong thôn xóm.
Bàn thờ được thiết lập ở giữa trời.
Một chiếc hương án được kê ra, trên hương án có đỉnh trầm hương hoặc bình hương thắp tỏa khói nghi ngút. Hai bên đỉnh 273
Tín ngưỡng Việt Nam
trầm hương có hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến. Lễ vật gồm chiếc thủ lợn hoặc con gà, bánh chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu nước và vàng mã, đôi khi có thêm cỗ mũ
của Đại Vương hành khiển. Lễ quý hồ thành bất quý hồ đa, nhưng dù nhiều hay ít, lễ vật bao giờ cũng phải gồm có vàng hương, vàng lá hay vàng thoi tùy tục địa phương, và nhất là không quên được rượu, vì vô tửu bất thành lễ.
Lễ vật được trần thiết trên hương án trước giờ trừ tịch.
Đến giờ phút này, chuông trống vang lên, ông chủ tế ra khấn lễ, rồi dân chúng kế đó lễ theo, với tất cả sự tin tưởng ở vị tân vương Hành khiển, cầu xin ngài phù hộ độ trì cho được một năm may mắn, bao nhiêu sự không may năm trước sẽ qua hết.
Tại đình làng, cùng với lễ cúng ngoài trời còn lễ Thành hoàng hoặc vị phúc thần tại vị nữa.
các chùa chiền cũng có cúng lễ giao thừa, nhưng lễ vật là đồ chay, và đồng thời với lễ giao thừa nhà chùa còn cúng phật, tụng kinh và cúng đức Ông tại chùa.
Ở các tư gia, các gia trưởng thường lập bàn thờ ở giữa sân, hoặc ở trước cửa nhà, trường hợp những người ở thành phố
chật chội không có sân. cũng một chiếc hương án, hoặc một chiếc bàn kê ra với lễ vật như trên.
ngày nay trước mọi biến chuyển dồn đập của thời cuộc nước nhà, ở thôn quê, rất ít nơi còn cúng lễ giao thừa ở các thôn xóm, ngoài lễ cúng tại đình đền. Và ở các tư gia, tuy người ta vẫn cúng lễ giao thừa với sự thành kính như xưa, nhưng bàn thờ thì thật là giản tiện. có khi chỉ là chiếc bàn con với mâm lễ vật, có khi mâm lễ vật lại đặt lên trên một chiếc ghế đẩu. Hương thắp lên được cắm vào một chiếc ly đầy gạo hoặc vào một chiếc lọ nhỏ để giữ chân hương! Tình trạng chiến tranh, mọi sự đều bị phá hoại! có nhiều gia đình lại quá giản tiện hơn, hương thắp đặt ngay trên mâm lễ, hoặc cắm vào các khe nải chuối dùng làm đồ lễ!
Mê tín dị đoan
Đại VươNg hàNh KhiểN Và PháN quaN
Mười hai vị đại vương, mỗi ông cai trị một năm cõi nhân gian là thập nhị hành khiển vương hiệu, tính theo thập nhị
chi, bắt đầu là năm Tý, cuối cùng là năm Hợi. Hết năm Hợi lại quay trở lại năm Tý với Đại vương hành khiển của mười hai năm về trước. các vị đại vương này còn được gọi là dương niên chi thần, mỗi vị có trách nhiệm như trên đã nói cai trị
thế gian trong toàn niên, xem xét mọi việc hay dở của từng người, từng gia đình, từng thôn xã cho đến từng quốc gia để
định công luận tội, tâu lên Thượng đế.
Mỗi vị đại vương hành khiển đều có một vị phán quan giúp việc.
Vị đại vương hành khiển lo việc thi hành những mệnh lệnh của ngọc Hoàng Thượng đế, trình lên ngọc Hoàng những việc đã xảy ra. còn vị phán quan thì lo việc ghi chép công, tội của mọi người, mọi gia đình, mọi thôn xã, mọi quốc gia.
Trong các vị hành khiển vương hiệu, có vị nhân đức, có vị cương trực và cũng có vị khắc nghiệt. nhiều năm có các loạn thiên thời, loạn đao binh, nạn thủy tai, hỏa tai... tục tin rằng đó là do các vị đại vương hành khiển trừng phạt nhân gian vì tội lỗi của mọi người.
VăN KhấN lễ giao Thừa
như trên đã trình bày, lễ giao thừa là lễ tống cựu nghênh tân, tiễn vị đại vương hành khiển cũ và đón vị mới.
có lễ nghi phải có văn khấn, cũng như ăn phải có mời.
Dưới đây là mẫu văn khấn giao thừa tại tư gia, văn khấn này chỉ cần thay đổi một vài chữ, khi dùng tại các nơi khác: Duy việt nam Đinh mùi niên, Xuân thiên chính nguyệt, sơ
nhất nhật, kim thần đệ tử nguyễn Đức Cầu quán tại Cổ mễ
Tín ngưỡng Việt Nam
xã, võ giàng huyện, Bắc ninh tỉnh, cư trú tại Phú nhuận xã, tân Bình quận, gia Định tỉnh, đồng gia quyến đẳng, khể
thủ, đốn thủ bách bái.
Cẩn dĩ hương đăng, kim ngân hoa quả, phù lưu thanh chước, thứ phẩm chi nghi, cảm kiền cáo vu.
vọng bái:
Đương niên đương cảnh tống vương hành khiển, ngũ đạo chí đức tôn thần ngọc bệ hạ:
lâm tào phán quan vị tiền
Bản địa thổ địa thần kỳ vị tiền
Bản cảnh thành hoàng vị tiền
ngưỡng vọng chứng giám;
Cúc cung cầu khẩn:
toàn gia đồng niên tự lão chí ấu, tăng phúc tăng thọ, nhân khang vật tịnh, vạn sự hanh thông.
cẩn cáo
Lược dịch:
nước việt nam, năm Đinh mùi, ngày mồng một tháng giêng, xuân tiết.
Đệ tử là nguyễn Đức Cầu, quán làng Cổ mễ, huyện võ giàng tỉnh Bắc ninh, cư ngụ tại Phú nhuận, quận tân Bình, tỉnh gia Định, cùng toàn thể gia đình trăm bái.
Kính cẩn có hương đèn, vàng bạc, hoa quả trầu rượu trà nước thêm mọi phẩm vật dâng lên.
vọng bái:
trước bệ ngọc đức tống vương hành khiển, ngũ đạo chí đức tôn thân:
lâm tào phán quan tại vị ở trước Đức thổ địa nơi đây tại vị ở trước Đức thành Hoàng bổn cảnh tại vị ở trước 276
Mê tín dị đoan
Cầu chư vị chứng giám.
Cúi đầu kêu xin:
Chư vị phù hộ cho toàn gia chúng tôi, từ già đến trẻ, quanh năm được tăng phúc tăng thọ, người an, vật thịnh, vạn sự
hanh thông.
cẩn cáo
Trong khi cúng khấn đức đương niên đại vương hành khiển, người ta khấn theo đức Thổ Thần và đức Thành Hoàng, vì khi đức đại vương hành khiển, đại diện của ngọc Hoàng Thượng đế đã giáng lâm, Thổ Thần và Thành Hoàng có nhiệm vụ
nghênh tiếp và do đó cùng được phối hưởng lễ vật.
Trong bài văn khấn trên, khi làm lễ tại làng tại thôn, chỉ
cần thay đổi mấy chữ:
“Kim thần đệ tử nguyễn Đức Cầu”.
thành
“Kim chúng thần đệ tử, toàn dân Cổ mễ xá”
và ở chỗ cầu xin cũng đổi mấy chữ
“toàn gia đồng niên tự lão chí ấu”
thành
“toàn xã đồng niên tự lão chí ấu”
lễ CúNg Thổ CôNg
Sau khi cúng giao thừa xong, các gia chủ cúng khấn Thổ
công, tức là vị thần cai quản trong nhà, thường được gọi là Đệ nhất gia chi chủ. Lễ vật cũng tương tự như lễ cúng giao thừa nghĩa là gồm trầu rượu, nước, đèn nhang, vàng bạc, hoa quả cùng các thực phẩm: xôi, gà, bánh, mứt v.v...
cúng Thổ công cũng phải khấn, và dưới đây là một mẫu văn khấn:
Tín ngưỡng Việt Nam
Duy việt nam Đinh mùi niên, xuân thiên chính nguyệt sơ
nhất nhật.
Kim thần tín chủ tô văn ngọc, quán tại nam ngạn xã, việt yên huyện, Bắc giang tỉnh, cư trú tại tân Sơn Hòa xã, tân Bình quận, gia Định tỉnh, đồng gia quyến đẳng khấu thủ đốn thủ bách bái;
Cẩn dĩ phù lưu thanh chước, kim ngân, hương đăng, hoa quả, mâm bàn cụ vật, thứ phẩm chi nghi, cảm kiền cáo vu.
Cung thỉnh
Bản gia thổ Công, Đông trù tư mệnh táo phủ thần quân vị tiền.
Bản Địa thổ Địa thần kỳ vị tiền.
lai lâm chứng giám, ủng hộ gia chủ, tự lão chí ấu, tự niên thủ chí niên vĩ, bình an hưởng phúc, vô tai vô nạn, vô hạn, vô ách, tăng tài, tiền lộc, vạn sự hanh thông.
Thượng hưởng
Lược dịch:
nước việt nam, năm Đinh mùi, xuân ngày mồng một tháng giêng.
nay tín chủ là tô văn ngọc, quê xã nam ngạn, huyện việt yên, tỉnh Bắc giang, ngụ tại xã tân Sơn Hòa, quận tân Bình, tỉnh gia Định, toàn thể gia đình cúi đầu trăm bái.
Kính cẩn dâng trầu rượu, trà nước, vàng bạc, đèn nhang hoa quả cùng mọi phẩm vật.
Cung mời
Đức bản gia thổ Công tại vị ở trước Đức thổ Địa thần kỳ tại vị ở trước Xin chư thần giám lâm chứng cho lòng thành, phù hộ cho cả nhà gia chủ, từ già đến trẻ, từ đầu năm đến cuối năm, được hưởng phúc bình an, không tai không nạn, không hạn, không ách, đắc tài sai lộc, vạn sự hanh thông.
Thượng hưởng
Mê tín dị đoan
mấy TụC lễ TroNg Đêm Trừ TịCh
Bắt đầu lúc lễ giao thừa là năm cũ đã hết và bước sang năm mới. Kể từ giờ phút này là giờ phút của Tết nguyên Đán.
Trong đêm giao thừa, sau khi làm lễ giao thừa xong; ta có những tục lễ riêng, mà cho tới ngày nay, từ thôn quê đến thành thị, vẫn còn nhiều người theo giữ.
lễ chùa, đình, đền.
Lễ giao thừa ở nhà xong, người ta kéo nhau đi lễ các đình, chùa, miếu, điện để cầu phúc cầu may, để xin phật, Thần phù hộ độ trì cho bản thân và gia đình. Và nhân dịp người ta thường xin quẻ thẻ đầu năm.
Kén hướng xuất hành.
Khi đi lễ, người ta kén giờ và kén hướng xuất hành, đi đúng hướng đúng giờ để gặp sự may mắn quanh năm.
ngày nay ở Sài Gòn, đi lễ là người ta đi, ít người kén giờ
và kén hướng. các đền chùa, trong đêm trừ tịch luôn luôn có thiện nam tín nữ tới lễ bái, có nơi rất đông phải chen chúc nhau.
Hái lộc.
Đi lễ đình, chùa, miếu, điện xong, lúc trở về người ta có tục hái một cành cây mang về ngụ ý là lấy lộc của Trời đất phật thần ban cho. Trước cửa đình cửa đền, thường có những cây đa, cây đề, cây si cổ thụ, cành lá xùm xòa, khách đi lễ mỗi người bẻ một nhánh, gọi là cành lộc. cành lộc này mang về
người ta cắm trước bàn thờ cho đến khi tàn khô.
Với tin tưởng lộc hái về trong đêm giao thừa sẽ đem lại may mắn quanh năm, người dân Việt trong buổi xuất hành đầu tiên bao giờ cũng hái lộc. cành lộc tượng trưng cho tốt lành may mắn; tục hái lộc là một tục tốt đẹp, nhưng ngày nay, nhiều người đi lễ trong đêm trừ tịch vác cả dao búa đi đẵn cây trong vòng các đình đền chùa miếu, thật người ta đã biến tục lệ tốt đẹp thành một tai hại cho các nơi thờ tự vậy.
Tín ngưỡng Việt Nam
Chợ Tết Saigon
Xin thẻ đầu năm
Về tục xuất hành cũng như tục hái lộc có nhiều người không đi trong đêm giao thừa, mà họ kén ngày tốt giờ tốt trong mấy ngày đầu năm và đi đúng theo hướng chỉ dẫn trong các cuốn lịch đầu năm để có thể có được một năm hoàn toàn may mắn.
Hương lộc.
có nhiều người trong lúc xuất hành đi lễ, thay vì hái lộc cành cây, lại xin lộc tại các đình đền chùa miếu bằng cách đốt một nắm hương hoặc một cây hương lớn, đứng khấn vái trước bàn thờ, rồi mang hương đó cắm tại bình hương bàn thờ Tổ tiên hoặc bàn thờ Thổ công ở nhà.
ngọn lửa tượng trưng cho sự phát đạt. Lấy lửa tự các nơi thờ tự mang về, tức là xin phật Thánh phù hộ cho được phát đạt tốt lộc quanh năm.
Mê tín dị đoan
Trong lúc mang nắm hương từ nơi thờ tự trở về, nhiều khi gặp gió, nắm hương bốc cháy, người ta tin đó là một điềm tốt báo trước sự may mắn quanh năm.
Thường những người làm ăn buôn bán hay xin hương lộc tại các nơi thờ tự.