Tín Ngưỡng Việt Nam — Quyển HạPartie 14
À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.
Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.
Vững chắc thật khít: tướng trường thọ.
Quanh rối mọc chông: tướng giảo hoạnh.
Tín ngưỡng Việt Nam
Lộ ra: tướng chết bất thình lình.
Thưa hở: tướng bần bạc.
ngắn khuyết: tướng ngu hèn.
Khô se: ngang yểu, chết non.
nói chẳng hở răng: giàu sang.
Đang cường tráng rụng răng: kém thọ.
38 răng: hiếm và quý tướng vào bậc vương hầu quốc trưởng.
36 răng: trào quan, cự phú.
32 răng: phúc lộc bậc trung.
30 răng: bình thường.
28 răng; nghèo hèn.
Sách tướng nói vậy, chứ người ta thường chỉ có 32 răng, họa hoằn mới có người mọc thêm hai chiếc.
Răng sáng trắng: người tính việc gì được việc ấy.
Răng vàng ủng: người làm gì hỏng nấy.
Răng như ngọc trắng: tướng cao quý.
Răng như bạc nướng: tướng thanh nhàn có chức tước.
Răng đều như hạt lựu; có phúc lộc.
Răng như mũi gươm: tướng trung thọ.
Răng như gạo nếp: tướng cao thọ.
Răng như trái dâu: tướng mạng đoản.
tai
Tai ăn vào óc, chuyển tiếng động tới óc, theo sách tướng là ty thuộc của trái tim, là dinh hậu của thận; bởi vậy khi thận vượng tai trong mà thông, khi thận yếu tai đục mà tối.
Tai dày dặn mà chắc, cao vót mà dài: tướng thọ.
Vành trong vành ngoài phân minh: thông minh.
Giái tai trễ xuống, tai ngửa lên: có của và sống lâu.
Tai dán vào thịt: phú túc.
Tai mọc lông bên trong: tướng thọ.
Mê tín dị đoan
Tai có nốt ruồi: thông minh và sinh quý tử.
cửa tai rộng: tướng người tri thức.
Hồng mà nhuận: tướng có công danh.
Đỏ hay đen: tướng nghèo hèn.
Tai mỏng, ngoảnh về đằng trước: tướng người phá sản.
Tai lật mà lệch nghiêng: tướng người vô gia cư.
Tai bên lớn bên nhỏ: hay gặp rủi ro.
Tai như xách lên: tiếng dậy bốn phương.
Tai rủ xuống vai: quý tướng vô cùng.
Tai trắng như nét mặt: tiếng mãn thiên hạ.
Tai tròn như con cờ: thành gia lập nghiệp.
Tai đen như hoa rụng: ly tổ phá gia.
Tai mỏng như giấy: chết non.
Tai như tai thỏ: nghèo nàn cùng quẫn.
Tai như tai chuột: nghèo nàn lại chết non.
Tai trở như bánh xe: tổ nghiệp bay như tro bụi.
Tai dủ hột châu: dư ăn dư mặc.
trán
Trán là Hỏa Tinh, các vị Thiên trung, Thiên đình, Thiên không đều ở trán. Do đó qua trán, người coi tướng sành có thể biết được sự quý tiện của một người.
Trán phải quang đãng khởi lên, cao vót mà rộng ra mới tốt. Trán tụ lên đỉnh đầu là tướng tuyệt sang của các vị thiên tử, quốc trưởng.
Bề cao dựng như bức vách đứng, bề rộng khum như
gan úp, sáng mà rộng, vuông mà dài: tướng cao quý và trường thọ.
Trán không nên lệch, lệch phía tả thì mồ côi cha, lệch phía hữu thì mồ côi mẹ. Trên trán có những hình vằn, mỗi vằn chỉ
mỗi phương diện, sang hèn giàu nghèo tùy theo vằn.
Tín ngưỡng Việt Nam
lưỡng quyền
Lưỡng quyền tức là hai gò má. Đây là Đông nhạc và Tây nhạc giúp Thổ tinh (mũi) hành vận. Không có lưỡng quyền vận giữa chẳng phát đạt, giàu có mũi cũng không có chi giúp, ắt trong hai gò má có thịt mà cao vót lên.
Gò má cao: làm việc có quyền.
Gò má thấp: làm việc bình thường.
Không có thịt bọc: tính người ngang trái.
Lộ quá thì khắc sát: đàn ông khắc vợ con, đàn bà khắc chồng con.
Gò má như phá vỡ: yểu thọ.
Gò má như lật lại: tính người ương ngạnh.
Ủng thũng hay tối đen: bị hình phạt, cướp bóc.
Lộ xương: hay làm bậy.
Lõm thấp: vô quyền.
Bên cao bên thấp: tính tình bất định.
mặt
Mỗi bộ phận trên mặt từ mắt, mũi, tai gò má đều có tướng riêng, nhưng người xem tướng cần phải biết phối hợp tướng các bộ phận này lại với nhau để đưa ra một kết luận chung, do đó việc xem tướng toàn diện bộ mặt là cần thiết.
Ta có câu khôn ngoan hiện ra nét mặt, què quặt hiện ra chân tay, cho nên nhìn qua bộ mặt người ta biết ngay kẻ khôn người dại, kẻ lành người dữ, kẻ hay người dở.
Theo sách tướng thì nói rằng: Bày linh vị của trăm bộ, thông thần lộ của năm phủ, suy thành tượng của ba tài, định đắc thất của một thân là mặt đó.
Trên mặt, ngũ nhạc, tứ độc phải chầu nhau, ba đình mọi bộ phải đầy đặn mới là tướng tốt.
Mặt ngay thần định là tướng quý; vẹo xéo lệch lạc là khuyết hãm.
Mê tín dị đoan
Vẻ mặt tối sầm, diện mạo xú ác là tướng bần tiện.
những mặt sắc trắng như đọng mỡ, đen như màu sơn, vàng như trái nướng đều là tướng đại phú quý.
Sắc mặt đỏ dữ là mạng đoản; màu lông lươm rươm tối đục khô ráo, không gió mà như có bụi là tướng nghèo mà lại chết non; sắc mặt giận biến thành xanh xám là tướng người độc ác.
Mặt như trăng đầy, thanh tú mà thần thái chiếu qua người khác, kêu là dáng mặt sớm mai là tướng quý lắm, đàn ông làm nên công khanh, tướng soái, đàn bà làm nên hậu phi phu nhân.
Da mặt dày là tướng người thuận hòa hiếu hạnh; da mặt mỏng là tướng người nhanh nhẹn nhưng nghèo.
người béo mặt gầy là tướng người chậm chạp nhưng thọ.
Mặt trắng người đen: tướng người hèn.
Mặt đen người trắng: tướng người sang.
Mặt như trái dưa vàng là tướng vinh hoa phú quý; mặt như
trái dưa xanh là tướng thánh triết hiền hòa.
Trên là mấy điểm chính xem tướng mặt, và dưới đây là mấy khuôn mặt kiểu mẫu:
mặt tướng oai mãnh: Thần sắc nghiêm túc, chẳng giận mà oai, người coi thấy tự nhiên sợ. Một đời chẳng bợ người cũng chẳng khinh người. Hưởng vinh hoa phú quý tới già.
mặt tướng thanh tú: Tuấn nhã như nhánh quế, như phiến ngọc côn Sơn; tướng bậc thánh hiền. nếu thanh mà không có vẻ trung hậu là tướng bần hàn.
mặt tướng cổ quái: cốt lộ, mi hàn là tướng khí khái không hèn. Tướng cổ quái mà cổ không thanh là tướng kẻ dữ.
*
* *
Đại để xem tướng, người ta thường xem tướng mặt qua ngũ nhạc, tam phủ, tam tài... rồi xem từng bộ phận, lại xem tướng mặt toàn diện.
Tín ngưỡng Việt Nam
ngoài mặt ra người ta còn xem tướng chân tay, nhất là tướng tay với các đường tay, các vằn trên bàn tay. người ta lại xem tướng nốt ruồi, tướng đi đứng, tướng ăn nói tướng cử chỉ, nghĩa là trong mọi hành động đều có thể lộ ra tâm tính sự nghiệp của con người được.
có nhiều thầy tướng lại coi cả tướng đầu, tướng tóc và tướng các chỗ hiểm như âm nang của đàn bà, dương vật của đàn ông, và tướng đường cốc đạo tức lỗ hậu môn.
Về những chỗ hiểm này, sách tướng có nói rằng âm nang và dương vật là cội rễ của tính mạng. Âm nang nên đen, vằn nên nhỏ mà chắc là quý. Ấm như lửa là tướng sinh con quý, lạnh như băng là tướng ít con. còn về dương vật nhỏ, trắng và cứng là tướng quý; lớn, dài, đen lại yếu là tướng hèn. Qui đầu nhỏ thì vợ tốt con tốt.
Sách tướng cũng nói đến cốc đạo và rằng đây là cửa sau của năm tạng. cốc đạo không nên lộ, cần được hai mông giáp nhau chẳng hở mới tốt, cốc đạo lộ là tướng chắc chắn nghèo hèn. có lông là tốt, không lông là hèn. Đi tiêu chậm tốt, mau là tướng nghèo. Lại nói thêm: cốc lộ là đồ thủ dụng kỳ diệu, phải sâu kín mới là người sang.
Sách tướng thì nói nhiều lắm và các nhà tướng số mỗi khi xem tướng nói ra lại càng nhiều hơn, muốn biết kỹ lưỡng cần phải nghiên cứu những pho sách tướng hoặc đến hỏi hẳn những ông thầy tướng. Ở đây, mục đích chỉ nêu lên để bạn đọc có một ý niệm về tướng số, nên mấy trang này đối với tập sách có lẽ cũng đã quá dài, nhưng không nói đến e chưa nói đủ về những điều mà ta gọi là mê tín dị đoan.
Bởi vậy, xin ngừng ở nơi đây để bước sang chương khác.
Mê tín dị đoan
loài VậT Với
mê TíN dị ĐoaN
Khi nói về đạo thờ Thần, tôi đã từng trình bày là nhiều loài vật được thờ cúng vì đã có công giúp đỡ con người, và sự thờ phụng đây chỉ là một sự trả ơn của loài người.
chính ra tại Việt nam, Long, Ly, Quy và phượng được coi là bốn linh vật và thường được thờ phụng tại các đền, chùa miếu, hình các linh vật này được khắc vào cột đình, cột điện, vào các bức hoành, vào các xà ngang, vào các lư hương; rồng quần vào cột, rùa đội bia, ly đứng trên đỉnh trầm, phượng cắp cuốn thư v.v...
Tại nhiều chùa, ngoài cửa, ngoài các phỗng đá còn có những hàng chó đá cũng được hưởng sự hương khói của nhà chùa và của dân làng. có nhiều đền thờ riêng một con ngựa hoặc con chó có nghĩa, lại có đền thờ thần rắn. Tôi tưởng không cần nhắc lại ở đây việc thờ thần Hổ.
Tại các điện thờ chư vị, nhất là điện thờ các ông Hoàng bà chúa Thượng ngàn, ta thường thấy ở hai bên hàng xà kèo có cặp rắn trắng rất lớn mào đỏ, mà các đệ tử gọi là ngựa ngài, tức là cặp rắn là cặp ngựa để ngài cưỡi.
Tín ngưỡng Việt Nam
các đệ tử con hương thường thuật lại tại các đền thờ ông Hoàng bà chúa ở đường rừng, hay có những cặp rắn có mào thật bò ra quấn lấy kèo lấy cột ở trong đền, khác hẳn với các đền, điện miền xuôi, cặp rắn chỉ là đồ mã.
cũng còn được gọi là ngựa ngài, những cặp bướm sặc sỡ
thờ ở trong đền, và người ta cũng bảo rằng tại nhiều đền có những con bướm thật đẹp, màu ngũ sắc rất đẹp tới đậu vào chậu cây trước bàn thờ để chờ ngài cưỡi.
nói về rắn, phải kể tới loại rắn biển, tức là con đẻn cũng được dân ta ở ven miền duyên hải kính sợ tôn thờ và gọi bằng Ông.
Đẻn có nhiều loại, loại dân chài hay gặp gọi là đẻn hèo. Đẻn hèo là chúa các loài rắn biển; cũng như Bạch hổ là chúa sơn lâm. Đẻn hèo dài chừng ba thước màu vàng nhợt có những vành đen khác nhau hai phân.
Trên đầu đẻn hèo có chữ nhâm. Đẻn hèo bơi lội nhanh như
chớp. các cụ cho biết là “Ông”, tiếng xưng hô kính trọng của dân chài đối với đẻn hèo, rất hiền lành, nhưng đã cắn ai thì vô phương cứu chữa. các ngư phủ tôn kính đẻn hèo không bao giờ dám xúc phạm tới trong khi hành nghề.
cũng là đẻn, phải kể đến bà Lạch tức là bà chằng lạch và bà Mộc, được gọi là Mộc trụ thần xà.
Bà Lạch có hình thù giống rắn, có mào đỏ như mào gà dính liền với một chữ nhâm. Theo dân chài, bà Lạch chỉ xuất hiện mỗi khi bị ngư phủ nào vô tình xúc phạm đến danh tánh trong lúc hành nghề.
Bà Mộc tức Mộc trụ thần xà được tục cho là Thủy thần, và mỗi khi bà chết được dân chúng trịnh trọng chôn cất.
Bà Mộc hình thù rất đẹp, lưng đen bụng vàng, miệng đỏ, trên đầu có chữ nhâm và ở đuôi có ba chấm trăng như mặt nguyệt, mình dài đúng một thước ta gọi là Mộc, do đó có danh từ bà Mộc.
Mê tín dị đoan
còn có các loại đẻn khác, ngoài mấy loại trên như đẻn kim, đẻn giẻ rách, đẻn lịch bùn, đẻn lịch cát v.v..., nhưng không được dân chài tôn thờ.
Loài thủy vật được dân ta tôn thờ còn có cá Ông. Ai có dịp đi qua các làng duyên hải sống về ngư nghiệp với biển cả, thường thỉnh thoảng bắt gặp những ngôi miếu được dân làng săn sóc hương khói: đó là miếu cá Ông, như ở Vàm Láng xã Kiến phước, thuộc tỉnh Gò công. Trong miếu thường có hài cốt của cá Ông được dân làng giữ gìn rất kính cẩn. Trong những ngày tuần tiết sóc vọng, dân làng thường mang đồ lễ
tới những miếu này để cầu khẩn cá Ông phù hộ cho đi biển gặp may mắn.
nói về cá Ông, các cụ thường kể lại câu chuyện cá Ông cứu nguyễn Ánh đang bôn tẩu. có một lần nhà vua đang đi thuyền ở ngoài khơi bỗng gặp mưa bão trăm phần nguy ngập.
Vừa hay lúc đó, có một cặp cá Ông cặp hai bên thuyền đưa nhà vua vào bờ ở Vàm Láng. nhờ đó nhà vua thoát hiểm.
nhà vua liền phong cho cá Ông làm nam hải Đại vương.
Về cá Ông, các nhà lão luyện đi biển cho biết không phải là cá Voi. cá Ông và cá Voi khác nhau, rất dễ phân biệt ở
ngay hình thức: cá Voi đuôi chỉ có hai chìa, còn cá Ông đuôi có ba chìa như đuôi tôm. Hơn nữa da cá Ông láng như lĩnh, như sa tanh, trong khi da cá Voi nhẫy nhũa nhày nhợp.
cá Ông, khi chết thường hay giạt vào bờ, và người dân miền duyên hải bắt gặp xác cá Ông là họ kính cẩn tổ chức đưa đám để tỏ lòng biết ơn cá Ông thường hay cứu giúp dân chài gặp nạn ngoài biển cả. Đã nhiều nhà thuyền chài gặp bão được cá Ông cứu giúp đưa thuyền vào bờ.
Đám tang cá Ông được tổ chức rất long trọng với đủ nghi lễ của một đám táng. người bắt gặp xác cá Ông đầu tiên phải 249
Tín ngưỡng Việt Nam
sô gai chống gậy như đối với bậc phụ mẫu của mình. Tất cả
dân chài lưới ở xã liên hệ đều đưa đám tang.
NhữNg Điều KiêNg Kỵ Về loài VậT
Ở trên mới nói tới sự thờ kính của dân ta đối với một số
các loài vật, giờ đây xin đề cập tới những sự kiêng kỵ của ta về loài vật.
Tục ta tin rằng một con vật nuôi ở trong nhà có thể có ảnh hưởng hay dở đối với chủ nuôi. Do vậy, mỗi khi mua một con vật để nuôi, ngoài hình thức thông thường, người ta còn xem con vật một cách tỷ mỷ để tránh những đặc điểm có hại cho người nuôi.
Về ngựa người ta tránh những con có xoáy song kiếm nghĩa là xoáy ở nơi cổ. Xoáy này là xoáy phạm chủ. Trái lại, người ta kén những con ngựa có xoáy ở giữa trán trên đường lằn nối liền hai tai, vì đây là những con ngựa có giá trị. nếu xoáy ở
dưới đường lằn con ngựa, là con ngựa tốt, nhưng nếu xoáy ở trên đường lằn, con ngựa lại càng tốt hơn. Tục ngữ có câu nhất trồi nhị trụt là để chỉ xoáy của loài ngựa này.
con ngựa nào ở giữa trán có một chỏm lông kết như bông lúa ngỏng đầu lên trên, là một con ngựa nguy hiểm có thể
đem tới cho chủ nhân đủ mọi thứ tai nạn. nếu đầu bông lúa chĩa vào người cưỡi ngựa, người này sẽ bị mục tật. May mắn mà đầu bông lúa chĩa xuống đất, con ngựa sẽ là con ngựa tốt.
nếu ở giữa hai bên sườn ngựa có hai chỏm lông rõ rệt, ấy là điềm tốt; tuy nhiên nếu hai chỏm lông lại ở về mé trên sườn, đó lại là điềm xấu.
cả đến đuôi ngựa, người cưỡi ngựa cũng cần lưu ý.
cưỡi ngựa nếu đuôi ngựa quất tới người, người chiến sĩ sẽ
tử nạn khi lâm trận, còn người làm việc sẽ mất chức.
Mê tín dị đoan
ngựa lại có ngựa loại hồ tàu. người sành xem tướng ngựa có thể biết con ngựa nào hồi tàu. ngựa hồi tàu là con ngựa nhớ chuồng, thường bất thần quay lại chuồng, không nghe sự điều khiển của người cưỡi.
Quân tướng cưỡi ngựa, khi ra roi ngựa không chịu đi là điềm gở, có thể bị nguy khốn tại trận.
Về trâu, người ta cũng xem xoáy trâu mỗi khi mua bán trâu; các lái trâu thường tạo nên những xoáy giả, hoặc tìm cách làm biến những xoáy xấu đi trong lúc bán con trâu. Họ
dùng nước cơm trong việc này.
Về trâu ca dao có câu:
tóc tang, khoanh nạng, vành trung Có ba lỗi ấy xin đừng có mua.
tóc tang nghĩa là lông mọc hỗn độn, khoanh nạng thì ở cổ
có vệt như cái chĩa, vành trung là sừng mọc lộn.
con trâu có lưỡi đen sẽ chết về bệnh dịch; con trâu có đuôi trắng và tẽ, làm cho chủ suốt đời lận đận. con nào có vành trắng chung quanh cổ thì sợ nắng. trâu trắng đi tới đâu mất mùa tới đó.
nói đến trâu, phải nói đến bò.
Tục tin rằng những con bò sinh trong tháng ngọ chỉ giết thịt là tốt, đúng như tục ngữ đã nói: bò đẻ tháng năm, không bằm thì thui.
Tục cũng tin rằng, con bò mẹ lúc đẻ mà ăn nhau thì lứa này sinh bê nào, lứa sau lại sinh bê nấy, bởi vậy nên chủ bò nếu ưa bò đực, khi bò cái sinh bê đực, cho nó ăn nhau của nó, lứa sau nó lại sinh bê đực. Khi bò đẻ, nếu nhau chậm ra, cho nó ăn lá duối.
nếu chẳng may bị bò giẫm lên chân, thì chân nào bị giẫm lại lấy chân đó giẫm lại lên móng bò và nói: mày giẫm chân tao, tao giẫm chân mày, như vậy sẽ khỏi đau và nếu có bị
thương cũng mau lành.
Tín ngưỡng Việt Nam
nuôi lợn người ta kén lứa, thường từ lứa thứ ba, hai lứa đầu nuôi không được béo. Ta lại có tục, trước khi thả lợn vào chuồng kén người khỏe mạnh hay ăn, để lợn cũng hay ăn chóng lớn dễ nuôi. người ta lại đốt vía để xua đuổi vía dữ đã ám ảnh con lợn trong khi chúng bị bày bán ở chợ. người ta lại dùng ngón tay trỏ bên phải đánh dấu vôi lên vai con lợn.
Khi lợn đã thả vào chuồng, người ta treo trước cửa chuồng một cành gai để ngăn cản tà ma.
Đang nuôi, lợn chê cám, người ta cũng cho là gặp vía dữ, người ta đốt vía, hoặc người ta làm lễ cúng rồi dán vào chuồng lợn mấy chữ Khương thái Công tại thử.
người ta cũng tránh không nuôi những con lợn ngũ trảo, nghĩa là có năm móng chân rõ rệt, cho rằng đấy là những hồn ma hình lợn, nuôi gặp không may và kẻ nào giết thịt con lợn ngũ trảo sẽ bị chúng theo báo oán.
Khi tự nhiên ở đâu một con lợn lạc loài tới nhà mình, đó là nó báo trước một điềm bất tường mà người ta chỉ có thể
tránh được bằng cách chặt đuôi con lợn đó, đem đặt ở trước cửa nhà bếp, mé đuôi chúc xuống.
nuôi chó, người ta kén những con tứ túc huyền đề, nghĩa là bốn chân đều có móng thừa. nuôi những con chó này được phát tài.
Trái lại, không nên nuôi chó trắng, nhất là chó trắng mũi đỏ.
Tục cho rằng đấy là một yêu khuyển. Giống chó này tuy mang hình chó, nhưng khi chủ vắng nhà, nó nhảy lên nằm võng đưa như người, và những đêm thanh vắng, sáng trăng suông nó sẽ đội nón, chống gậy đi trên mái nhà bằng hai chân sau như người. nó sẽ tìm gặp những yêu ma để tỏ rõ hết mọi sự trong nhà và xúi giục ma quấy rầy nhà chủ, gây bệnh hoạn làm đau ốm các người trong gia đình.
nếu chó trắng là bạn của yêu ma, chó đen lại kỵ yêu ma.
những phụ nữ hữu sinh vô dưỡng khi sinh thường lấy máu chó 252
Mê tín dị đoan
đen vẩy ở quanh buồng đẻ để tà ma không dám tới, nhất là để kỵ
giặc phạm nhan. Theo ông nghiêm Thẩm, thì các sản phụ này phải ăn thịt và dồi chó đen và còn phải chôn ở dưới chân giường xương chó đen nữa. phải kén chó đen tuyền mới hiệu nghiệm.
chó đen có bốn chân trắng nuôi cũng không tốt.
chó trắng mà đầu vàng, đuôi vàng nuôi lại có lợi.
Khi chó lê trôn là điềm gở trong nhà, phải bán hoặc làm thịt ngay con chó ấy đi để tránh tai họa.
chó cái sinh toàn chó cái hoặc chỉ có một con cũng là điềm gở cũng báo sự đau ốm hoặc thất tài của chủ nhân. Trong trường hợp có con độc nhất, người ta phải ném nó qua nóc nhà, nếu rơi xuống nó vẫn sống thì có thể nuôi được.
người ta không nuôi chó quá sáu năm. Già quá, hoặc nó sẽ
thành tinh, hoặc nó sẽ đem đến những điều bất lợi cho chủ.
chó già quá sáu năm người ta đem làm thịt gọi là hóa kiếp để nó đầu thai đi kiếp khác.
chó cắn lại chủ không nên nuôi, phải làm thịt ngay.
chó có thể hóa điên, chó điên cắn người ta sẽ chết. Muốn chữa phải dùng một con mèo giã nhỏ luyện với một số các lá cây để làm thuốc.
những con chó nằm có dáng như con thạch sùng, nghĩa là hai chân trước duỗi về đằng trước, hai chân sau duỗi về đằng sau, nuôi có lợi cho chủ.
con chó tứ túc mai hoa, nghĩa là ở bốn chân, phía trên bàn chân có đốm trắng hoặc vàng trông như hoa mai, nuôi tốt.
Ban đêm nếu dưng không mà chó sủa, đó là chó cắn ma.
nếu đêm hôm nguyên đán chó sủa nhiều, năm đó sẽ không yên vì hoặc có giặc giã hoặc có bệnh thời khí.
mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì giàu. Tự nhiên có chó lạ đến nhà mình ở là điềm cực vượng, còn mèo mà đến thì xấu lắm, nhất là khi mèo lạ tới nhà mình đẻ.
Mèo sinh xong nó ăn liền nhau của nó. nếu nó không ăn nhau bỏ lại, nhà chủ sẽ đại phát tài.
Tín ngưỡng Việt Nam
Mèo lạ đến nhà kêu cũng không tốt, người ta thường đuổi ngay nó đi.
nuôi mèo kén mèo đen tuyền sẽ trừ được ma quỷ.
Một con mèo toàn thân đen ở cổ có điểm trắng sẽ kỵ chuột, chuột chỉ nghe tiếng kêu cũng đủ sợ.
Mèo đẻ không nên xem hoặc sờ đến con nó, vì nó sẽ tha đi nơi khác hoặc ăn hết lũ con.
người ta cho rằng mèo bị rắn phủ, tức là mèo cái động dục với rắn sẽ sinh những mèo con rất đẹp.
Về loài gà cũng có nhiều điềm kiêng kỵ và mê tín.
nuôi gà ác trong nhà sẽ trừ được ma quỷ. Gà ác là thứ gà nhỏ thịt đen, lông trắng, còn gọi là gà ri.
Ban ngày, nếu bỗng dưng gà gáy là điềm gở. phải lập tức giết thịt và đem quẳng đầu gà thật xa để tránh những điềm không hay. cần phải mời thầy cúng tới cúng giải.
Gà mái gáy là gáy gở. Gáy vào canh một là sẽ có hỏa tai, gáy vào canh hai sẽ có trộm cướp, như tục ngữ nói canh một hỏa tai, canh hai trộm cướp.
người ta còn phân biệt, nếu gà mái gáy gở một tiếng ngắn, làng sẽ bị đạo tặc, nếu tiếng gáy kéo dài, chính chủ nhân sẽ
bị tai họa.
người ta thường vành mỏ gà ra xem, nếu lưỡi gà đỏ là điềm có cháy, nếu lưỡi gà trắng là có trộm cướp. Để giải trừ
tai nạn, cần giết thịt con gà đem quẳng đầu nó ra sông.
Làm thịt gà thường dùng nước sôi để vặt lông cho dễ, nhưng chỉ là nước lã đun sôi, nếu đem dùng nước đồ xôi mà làm lông gà, sau này trong nhà sẽ không nuôi được gà.
Về ngỗng, chủ nuôi khi xua nó ra đồng, kiêng không để
chúng leo qua các ngôi mộ để tránh chúng khỏi mắc bệnh suyễn mà chết.
Khi có chim khách và chim bồ các kêu trước nhà, đó là điềm có khách xa tới.
Mê tín dị đoan
nuôi chim bồ câu, người ta làm chuồng sặc sỡ, chúng sẽ
kéo chim lạ về. Làm chuồng chim phải làm trong mồng, nghĩa là từ mồng một đến mồng mười đầu tháng, chim mới ở; nếu làm ngoài mồng chim sẽ không ở. Hướng chuồng phải tránh hướng đông, theo tục ngữ chuồng hướng đông, cái lông không còn, nghĩa là chim sẽ bị chuột mèo bắt hoặc bị bệnh mà chết.
Trước khi cho chim ở vào một chiếc chuồng mới, người ta thường dùng một thứ gỗ thơm đốt để khu trừ tà quỷ chiếm cứ chiếc chuồng.
chim bồ câu tự nhiên bỏ đi là điềm suy.
- nhà nào có nhiều chuột, khi bị chúng phá hoại, không ai chửi rủa chúng, sợ chúng trả thù cắn hư hại hết quần áo.
Dương bẫy bắt chuột, không được nói, chúng nghe tiếng, biết sẽ không mắc bẫy.
- Dân nghiện thuốc phiện rất sợ rệp. nếu rệp bò trên dọc tẩu hoặc cái tiêm, người nghiện có thể bị nguy đến tính mạng.
Dân nghiện rượu cũng sợ rệp bò vào chén rượu vì uống rượu này có thể bị chết.
- nhà nào có người bị cọp vồ là điềm xấu, không những riêng cho nhà ấy mà còn cho cả làng xã. nhiều làng ở thượng du, khi trong làng có cọp vồ, người ta di dân đi nơi khác.
Vuốt cọp có tính cách kỵ tà ma. người ta cho trẻ con đeo vuốt cọp ở vòng tay hoặc cổ.
- cú, quạ, chim lợn kêu là báo hiệu sự chết chóc. Tục ngữ
đã nói: cú kêu ra ma. cú đậu đâu đều bị người ta ném đá xua đuổi.
Đánh rắn phải đánh dập đầu, kẻo quạ tới bón, rắn sẽ
sống lại.
người ta tin rằng đánh rắn ngày mồng năm tháng năm thì làm ăn phát đạt. ngày hôm đó, người ta đi tìm rắn để đánh.
người đi đánh bạc, giắt trong mình đầu con rắn đánh được ngày mồng năm tháng năm sẽ được bạc.
Tín ngưỡng Việt Nam
Ra đường gặp rắn chắn ngang là điềm tốt; trái lại nếu gặp rắn đi ngược chiều với mình lại là điềm rất xấu, báo hiệu sự
xui xẻo. còn nếu rắn đi xuôi đường với mình cùng một chiều, mọi việc bình thường. Đang ăn có ruồi sa vào bát là điềm sắp có bổng cũng như gặp rắn chắn ngang vậy. Tục ngữ có câu: thứ nhất ruồi sa, thứ nhì xà chắn.
nhện sa cũng là một sự báo tin, lành hay dữ tùy theo màu con nhện:
- vàng mắng, trắng khen, đen mừng. (1) nhà nào có ong tới làm tổ, làm ăn sẽ phát đạt. có chim tới làm tổ tại các cây trong vườn hoặc ở trước cửa nhà cũng là điềm hay.
Khi có con sọt vành (vạc sành), một loại châu chấu, kêu ở
trước cửa nhà là có trộm đang rình. Thực ra, sọt sành không kêu mà chỉ cọ sát hai càng vào nhau kêu cành cạch. Ta có câu “sọt sành là anh kẻ trộm”. những điều kể trên về các loài vật, chỉ là những điều tục vẫn cho là như vậy. Đúng hay sai, còn tùy người suy nghiệm. chắc hẳn còn nhiều điều khác nữa, nhưng rất tiếc kẻ viết không biết hết và cũng không có tài liệu để kê cứu thêm.
1. Tục ngữ.
Mê tín dị đoan
Cây Cối Với
mê TíN dị ĐoaN
Đã nói tới loài vật, phải nói đến cây cối, vì nếu có những loài vật người ta thờ cúng, và có những sự
kiêng kỵ đối với loài vật, thì cũng có những cây cối được hưởng sự hương khói và cũng có những sự kiêng kỵ đối với các loài thảo mộc.
thần cây đa, ma cây đề, câu tục ngữ cho ta biết ở cây đa thường có thần, ta phải thờ cúng, và ở cây đề thường có ma.
Ở những cây đa đã được coi là có thần, thường là các cô các bà cư ngụ, người ta thiết lập bàn thờ ở gốc đa, và ở các rễ
cây, có treo la liệt những bình vôi, những bó vàng mã.
người ta thường thuật lại rằng những đêm hôm thanh vắng, đi qua các cây đa, người ta bắt gặp các bà các cô đánh võng trên cành cây.
cây si cũng có những rễ phụ như cây đa và cũng thường có bàn thờ thiết lập ở dưới gốc cây.
những cây cổ thụ lâu năm, có thể thành tinh được, gọi là mộc tinh. Truyện thường được kể lại rằng, có nhiều cây cổ
thụ khi bị đốn đã chảy máu, đó là cây đã thành tinh. người 257
Tín ngưỡng Việt Nam
ta lại thường nhắc những truyện nhiều cây có tinh, có ma cư
ngụ, và những tinh ma này thường phá rối mọi người nên bị trời trừng phạt: cây bị sét đánh hoặc chết khô, hoặc sạt những cành cây lớn và có chảy máu.
Để trừ tinh ma trong cây, người ta yểm bùa hoặc đóng đinh lớn vào cây. có người dùng xích sắt xích cây lại.
những cây gỗ thành tinh, đem về xẻ ra làm nhà làm cửa, thường đêm nghe tiếng mộc tinh kêu ken két, hoặc kẽo kẹt như tiếng đưa võng. Đôi khi có những điềm quái gở hiện ra, người ta phải cúng yểm mới hết.
Trong đám tang có lễ phạt mộc để yểm trừ mộc tinh còn ẩn náu trong ván dùng làm áo quan.
những cây có mùi thơm thường có thần linh hoặc ma quỷ
tới ở.
cây thị thường có ma. Dưới gốc thị cũng có miếu. cây thị
lớn ở dốc Hàng Kèn Hà nội trước đây có một miếu thờ, gọi là miếu Gốc thị hàng Kèn.
Trong các rạp hát, người ta không cho bán thị, e rằng các linh thần thánh sư nghề hát sẽ đi theo hàng thị. Một khán giả mang quả thị vào rạp hát, nếu bị phát giác, sẽ bị mời ra khỏi rạp ngay.
cây đại cũng có ma, người ta không trồng ở gần nhà, mà chỉ trồng gần nơi đền miếu. Hoa đại có mùi thơm, kéo ma quỷ tới, nhưng gần đền miếu có các thần linh ma quỷ không dám tới.
các tu sĩ để chống với sự hành hạ của xác thịt thường thường sáng sáng hứng nước đêm đọng trong hoa đại đun pha trà uống.