Tín Ngưỡng Việt Nam — Quyển HạPartie 1
À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.
Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.
nếp cũ
tín ngưỡng việt nam
Quyển hạ
NẾP CŨ
Quyển Hạ
Tín ngưỡng Việt Nam
Mê tín dị đoan
PhầN Thứ NhấT
Tôn giáo
Tín ngưỡng Việt Nam
Mê tín dị đoan
ThiêN Chúa giáo
Một tôn giáo vào bậc quan trọng và có tổ chức khoa học nhất tại Việt nam ngày nay phải kể Thiên chúa giáo, tuy đạo này mới du nhập vào đây từ hơn ba trăm năm nay.
Thiên chúa giáo thờ phụng đức chúa Trời.
Sách chép lại rằng đức chúa Trời sau khi tạo nên trời đất và muôn vật, lại tạo ra con người. Hai người đầu tiên là ông A-đam và bà Ê-va.
Ông A-đam và bà Ê-va được sống chung trong một vườn cực lạc, được cai quản các thú vật và được ăn hoa quả trong vườn, ngoại trừ trái cấm.
Hai ông bà vẫn giữ lệnh cấm của đức chúa Trời, không đụng tới trái cấm, nhưng về sau bị quỷ sứ xúi giục, bà Ê-va đã ăn trái này và đã đưa cho ông A-đam ăn.
Ăn trái cấm rồi, hai người biết xấu hổ, và bị đức chúa Trời trừng phạt đẩy xuống trần gian, với lời hứa sẽ sai người xuống chuộc tội cho.
người mà đức chúa Trời sai xuống chuộc tội cho loài người là chúa Jésus, con một của đức chúa Trời, ra đời tại thành nazareth, xứ Galillée, ở Tiểu Á (Asie mineure), cách đây 1968 năm, tính tới năm Mậu Thân.
Tín ngưỡng Việt Nam
Thân phụ chúa Jésus là ông Joseph, thân mẫu ngài là bà Marie. Sự tích chúa Jésus chép rằng bà Marie đồng trinh, cảm thông thần mộng sinh ra chúa.
chúa Jésus rất thông minh, trước học theo người Do Thái, nhưng sau thấy các tu sĩ Do Thái có nhiều sự bậy bạ, nên tự
ngài phải dạy mọi người lấy sự yêu mến tôn kính đức chúa Trời làm gốc, và sự tôn kính cần ở trong lòng, còn đối với mọi người thì chúa dạy người ta phải coi nhau như anh em một nhà và ai cũng bình đẳng cả.
người ta theo chúa rất đông, và sự tin theo này đã khiến các tu sĩ Do Thái ghét người, và người đã bị người Do Thái đóng đinh trên thập tự giá. người đã hy sinh để chuộc tội cho nhân loại tại núi Sọ thành Jérusalem, sau khi ra đời 33 năm.
người đã bị chôn ba ngày nhưng sau đó, người đã sống lại.
người đã sống lại thật vì các môn đệ đã trông thấy người, mó đến người, chuyện trò cùng người, và sau đã chịu chết để làm chứng sự thật ấy.
Sau khi sống lại, người còn ở lại cõi trần 40 ngày để dạy dỗ các tôn đồ và đi giảng phúc Âm, rồi ngài mới lên Trời về với đức chúa Trời.
TriẾT lý ThiêN Chúa giáo
chính ra có một triết lý Thiên chúa giáo không? có thể có hoặc không được. Sự thực, Thiên chúa giáo không xuất hiện với một nền tảng triết lý, mà chỉ là một sự thông cảm giữa Thượng đế và loài người qua chúa Jésus. Kinh sách phúc Âm cũng như những sách tường thuật hành động của các Tông đồ
không phải là những sách triết lý; đó chỉ là những sách giảng thuật lại cuộc đời của chúa Jésus và nói lên những điều gì con người phải làm để ca ngợi Thượng đế, để có thể xứng 10
Mê tín dị đoan
đáng được Thượng đế vĩnh viễn ban ơn sau khi chết. như
thế, Thiên chúa giáo không liên hệ trực tiếp với bất cứ một nền tảng triết lý Âu Á nào.
Tuy nhiên, Thiên chúa giáo đã có một ảnh hưởng to tát đối với việc phát triển tư tưởng triết lý. Thiên chúa giáo đã soi sáng cho rất nhiều triết gia danh tiếng nhất là ở Âu châu, và có thể nói được rằng không thể có lịch sử triết học nếu không kể đến sự soi sáng này.
Tại sao Thiên chúa giáo lại có ảnh hưởng như vậy?
Trước hết Thiên chúa giáo mang lại những quan điểm mới mẻ và rõ rệt về Thượng đế, về vũ trụ và về loài người. chính đạo cũng đã làm cho các triết gia thấy rằng Thượng đế không phải chỉ một điều gì mơ hồ, thiếu cá tính như các triết gia thời cổ đã nói, mà chính Thượng đế là một thần linh hoàn toàn, là một đấng cao cả mà mọi người có thể cầu khẩn và đấng cao cả này cai trị toàn vũ trụ: ngài là chúa tể và vị chúa tể
là vị chúa tể duy nhất và thập toàn. nguồn gốc vũ trụ, trong triết học thời cổ không được giải thích rõ ràng, nhưng Thiên chúa giáo đã mang lại ý kiến là vũ trụ do vị chúa tể toàn năng tạo lập ra, vị chúa tể đã lập ra vũ trụ, với tất cả mọi vật hiện diện trong vũ trụ, mà không cần đến gì cả.
Đạo Thiên chúa cũng đã sửa đổi lại những quan niệm cũ
về con người, và chú trọng nhất đến giá trị về tâm linh, giá trị này khiến cho mỗi người phải được tôn trọng không kể gì đến học thức hay địa vị xã hội. Vì vậy, Thiên chúa giáo đã là một sức mạnh trong việc bãi bỏ nô lệ. Đạo cũng đã chủ
trương con người được phú giữ một sự tự do nội tâm, và phải chịu trách nhiệm về những hành động của mình: luân lý không phải chỉ ở chỗ phục tùng những luật lệ của kẻ mạnh, nhưng phải tránh phạm lỗi đối với Thượng đế cũng như đối với người khác. Lòng bác ái không hạn chế đã lan tràn từ khi có giới luật của chúa Jésus dạy rằng người ta phải yêu mến hết mọi người, kể cả kẻ thù. Bởi vậy, lẽ đương nhiên đạo đã 11
Tín ngưỡng Việt Nam
làm tăng số các cơ quan từ thiện trong mọi thời đại để giúp đỡ kẻ bệnh hoạn cũng như các trường học để giúp đỡ trẻ em trong đám quần chúng.
Đạo Thiên chúa cũng đã hoán cải quan niệm cũ về hôn nhân: đạo dạy rằng việc phối ngẫu giữa nam nữ là một sự
cam kết tự do và bất khả ly, như vậy để còn giáo hóa con cái.
Đạo cũng dạy nữ giới cũng được tôn trọng như nam giới, do đó không có vấn đề đa thê.
chính đạo Thiên chúa cũng đã nêu lên sự hợp tác giữa các quốc gia vì lợi ích chung của nhân loại.
Với những điểm mới nêu trên, Thiên chúa giáo đã đặt nhiều vấn đề cho các triết gia. người ta bắt đầu bàn cãi về
sự liên hệ giữa lý lẽ và lòng tin, giữa tôn giáo và triết học.
những triết gia Thiên chúa giáo đã chỉ rõ tại sao không nên lầm lẫn và cũng đừng nên chia cách hẳn những điều trên. Tín ngưỡng không phải là lý lẽ: tín ngưỡng phải sử dụng lý lẽ, nhưng cũng đã mang tới cho con người những sự thật vượt trên lý lẽ. các triết gia thời cổ không có sự phân biệt này.
Thiên chúa giáo cũng đặt lại vấn đề về sự liên lạc giữa tâm linh bất diệt với thể xác vật chất khả vong. Sự tự do của con người, hoàn toàn trách nhiệm về hành động của mình và không chịu ảnh hưởng các vị tinh tú hoặc những sức mạnh mù quáng, cũng được đặt ra bởi Thiên chúa giáo, và vấn đề
này trong triết học ngày nay đã là một trong những vấn đề
được bàn cãi tới nhiều. Quan niệm một Thượng đế duy nhất và sáng tạo vũ trụ đã nêu lên vấn đề có Thượng đế về phương diện triết lý. ngoài sự quả quyết về tín ngưỡng, người ta có thể chứng minh sự hiện có của Thượng đế chăng, nếu có với những sự biện luận nào? Vấn đề có Thượng đế đã trở thành một vấn đề hoàn toàn về triết lý, và được thảo luận tùy theo trình độ hiểu biết về Thiên chúa, của cả những triết gia không theo Thiên chúa giáo.
Mê tín dị đoan
ngoài ra những đạo lý Thiên chúa giáo cũng chịu ảnh hưởng của triết học. người ta muốn chứng tỏ rằng những đạo lý này phù hợp với tôn giáo, và người ta có thể hệ thống hóa chúng được. Điều này là công trình của những người được gọi là nhà “thần học” luôn luôn cố gắng để tạo nên như một
“khoa học về sự thần khải Thiên chúa”.
những điều trình bày đã chứng tỏ tại sao đương nhiên những điều khẳng định của Thiên chúa giáo đã xâm nhập vào nền triết lý. ngày nay những điều khẳng định của một Karl Marx hay của một Sartre vô thần cũng không thể giải nghĩa được nếu không có những quan niệm Thiên chúa giáo, những quan niệm này đã trở nên phổ thông cho tất cả
các nhà tư tưởng.
Tuy nhiên một số các đại triết gia Âu Tây đã đặc biệt liên hệ tư tưởng của họ với tín ngưỡng Thiên chúa giáo. những người đó được mệnh danh là triết gia Thiên chúa giáo, dù rằng trên địa hạt triết học của họ, họ chỉ muốn thảo luận theo lý lẽ, ngoài tín ngưỡng về tôn giáo của họ.
Buổi sơ khai, trong nhiều thế kỷ đầu, triết học đã bị phê phán nghiêm ngặt bởi những tín đồ Thiên chúa giáo đầu tiên vì không sánh bằng những sự thật do đạo giảng dạy hoặc vì có thể có hại cho Đức Tin. nhưng ngay sau đấy, các đại tác giả Thiên chúa giáo đã dùng những học thuyết đương thời của các triết gia để trình bày rõ ràng hơn về tín ngưỡng Thiên chúa giáo. chính những người phương Đông đã đầu tiên dựa theo triết thuyết của platon hoặc platon tâm thuyết để giải thích những học thuyết liên quan tới sự sáng tạo vũ trụ bởi Thượng đế, sự cung chiêm Thượng đế của linh hồn, số mệnh của con người do Thượng đế và vì Thượng đế. Ảnh hưởng của platon trong thần học đã thống ngự cho đến thế kỷ thứ
XIII và đã hướng dẫn rất nhiều các nhà tư tưởng, như Saint-Augustin là một nhà đại tư tưởng của mọi thời đại. chính 13
Tín ngưỡng Việt Nam
cũng nhờ Thiên chúa giáo mà các tác phẩm của các văn hào được lưu giữ trong các tu viện trước khi có nghề in.
Thời Trung cổ rất phong phú về những cuộc thảo luận triết học và có rất nhiều triết thuyết khác nhau.
Về thế kỷ thứ XIII, những tác phẩm của Aristote, trước đây một phần đã bị bỏ quên, lại được biết tới nhiều hơn.
Saint Thomas đã làm một bản tổng hợp về thần học Thiên chúa giáo theo triết thuyết của Aristote đồng thời giữ một vài quan niệm của platon. Đó là học thuyết của Saint Thomas được gọi là học thuyết Thomiste đã được giáo hội giới thiệu với các tín đồ, trong khi không ngăn cấm những học thuyết khác. Giáo Hội nghĩ rằng trong tất cả các công trình của những nhà tư tưởng Âu Á đều có những sự thật có thể phù hợp với tín ngưỡng Thiên chúa giáo. Thí dụ như trong luân lý Khổng Mạnh, lẽ đương nhiên có những điều khẳng định tổng quát có thể dung hòa với giáo lý Thiên chúa cùng những điều khẳng định của nền luân lý Aristote.
Sau Trung cổ thời đại, triết học đã có những đường hướng mới dưới sự thúc đẩy của Descartes, nhưng chính Descartes cũng rất lưu tâm tới sự hiện hữu của Thượng đế và sự bất diệt của linh hồn. Và tất cả triết thuyết của ông đã xây dựng trên các điều này.
Tiếp với Descartes các triết gia Mallebranche, Leibniz, Berkley Maine de Biran v.v..., trong lý luận, đã công nhiên chấp nhận Thiên chúa giáo. có những quan niệm triết lý duy vật về hai thế kỷ XVIII và XIX muốn chống lại những điều khẳng định của Thiên chúa giáo về sự hiện hữu của Thượng đế và linh hồn. cũng lại đã có thực nghiệm chủ nghĩa xuất hiện tưởng có thể thay thế được Thiên chúa giáo do những lợi ích của khoa học và kỹ nghệ. Điều này đã trở thành một trong những điều quả quyết chính yếu của triết lý mác xít.
nhưng người ta nhận thấy nền văn minh thuần túy khoa học 14
Mê tín dị đoan
và sự phát triển kỹ nghệ không đủ giải quyết những vấn đề
xã hội và bảo đảm hạnh phúc nhân loại. Bởi vậy, những nền tảng triết học dựa trên những quan niệm riêng biệt của Thiên chúa giáo vẫn tồn tại, trái lại ngày nay một nền triết học Thiên chúa giáo đã như phục hưng với nhiều cố gắng để hồi phục triết thuyết của St.Thomas xưa, như cố gắng của nhóm Thomas tân thuyết, và của các tác giả như Sertillanges, Maritain, Gilson. ngoài ra còn nhiều nhà tư tưởng hiện đại đã đặt trong triết thuyết của mình những quan niệm của Thiên chúa giáo. cho nên, ngày nay người ta phân biệt hai chủ
nghĩa hiện sinh: chủ nghĩa hiện sinh Thiên chúa giáo và chủ
nghĩa hiện sinh vô thần.
Buổi sơ khai của chủ nghĩa hiện sinh đã được liên hệ với các nhà tư tưởng như St.Augustin hay pascal. chính Kierkergoard, trong khi đoan quyết đức tin của mình chống với duy lý luận của Hégel, đã gieo nguồn gốc của chủ nghĩa hiện sinh ngày nay, và bây giờ một Gabriel Marcel trong đa số, đã rung động trong những danh từ mới, các vấn đề lớn đã được Thiên chúa giáo đặt ra ngay tự lúc ban đầu.
như vậy triết lý Thiên chúa giáo luôn luôn xuất hiện trong đạo Thiên chúa cũng như đối với tất cả nhân loại, không riêng ở phương Tây hay là ở một quốc gia nào. Và người ta có thể nói được rằng nền tảng triết học của tất cả các quốc gia đều có thể đồng hóa và phát triển mạnh mẽ theo những điều không thể sai lầm mà Thiên chúa giáo đã phát hiện và đã nằm trong giáo lý đạo.(1)
1. Đoạn này viết theo tài liệu của linh mục Gautier dòng Tên tại Trung tâm Alexandre de Rhodes, Saigon.
Tín ngưỡng Việt Nam
ViệC TruyềN giáo
Giáo hội Thiên chúa có nhiệm vụ truyền giáo, phổ biến Thánh Kinh cho nhân loại. Giáo hội là gia đình của các con chúa. Giáo hội đã được lệnh chúa để thi hành một chương trình cứu vớt nhân loại, không thể phản bội phần hành giữ
lệnh chúa cho riêng mình.
các phái đoàn truyền giáo được gửi đi khắp bốn phương với nhiệm vụ cảm hóa những người vô tín ngưỡng, lôi họ
trở lại đạo.
“giáo hội, đúng như sự đòi hỏi thầm kín của bản chất mình và tuân thành chỉ thị của Chúa, đem hết nỗ lực để phố
biến thánh Kinh. trong suốt cuộc du hành qua trái đất, giáo hội chỉ là nhà truyền giáo... Cũng như Jésus được đức Chúa trời gửi xuống cõi thế, người đã phái các tông đồ đi khắp nơi với lệnh truyền: Các người hãy biến mọi quốc gia thành môn đồ, nhân danh đức Chúa Cha, đức Chúa Con và thánh thần rửa tội cho họ. Hãy đi loan tinh lành cho toàn thể nhân loại. ai tin sẽ được rửa tội và được cứu giúp, ai không tin sẽ
chịu tội. (mc.16).
“Do đó, giáo hội có bổn phận quảng bá đức tin và sự tốt lành đấng Christ mang tới”.
Đoạn trên trích trong sắc lệnh về các phái đoàn truyền giáo của Đệ nhị cộng đồng Vatican, nhắc nhở bổn phận của Giáo hội trong công tác truyền giáo.
Việc truyền giáo đã có hiệu quả sâu rộng ngay từ đầu kỷ nguyên. các tông đồ đi khắp mọi xứ từ Tây sang Đông, từ I-pha-nho đến Ấn Độ. Ông Thánh phêrô, vị tông đồ
cả, và cũng là vị Giáo hoàng đầu tiên đã thực hiện tượng trưng sự hiện diện tổng quát đó trong bài thuyết giáo đầu tiên, ngày lễ Hiện Xuống khi ông tuyên bố Đức Tin tại 16
Mê tín dị đoan
Jérusalem trước công chúng, thành phần gồm đủ các sắc dân các địa phương.
Sứ đồ paul de Tarso, trở lại đạo vào năm 36 hoặc 37, tử vì đạo năm 67 đã là người gieo Đức Tin lan rộng từ Âu sang Á, nhất là sau khi ông thọ tử. Đạo Thiên chúa từ đó dần dần đi vào các tầng lớp địa phương mới. Quốc gia đầu tiên lấy Thiên chúa giáo làm quốc giáo là vương quốc Osrhoéno với quốc vương Abgar đệ cửu, rửa tội tại kinh thành Edessa năm 200.
Đạo ngày một bành trướng, cho đến thế kỷ thứ VI thì tại Ba Tư có nhiều giáo khu được thành lập; thế kỷ sau, những giáo khu này xuất hiện tại Ấn Độ, rồi dần dần tại các quốc gia Hung nô và Thát Đát ở Trung Á.
Tại châu Âu, đạo Thiên chúa phổ cập với mọi tầng lớp mau hơn, tuy vào thế kỷ thứ V, sự thống trị của người Maudi có làm cho đạo hơi suy giảm vì những tà giáo dị đoan. năm 385 ở Ái nhĩ Lan sứ đồ patrick ra đời. Sứ đồ đã xây dựng nhiều tu viện tại đảo này, sau đã nổi danh là Đảo các thánh.
Rồi Hoàng đế pháp clovis trở lại đạo, biến nước pháp thành một quốc gia Thiên chúa giáo.
cuối thế kỷ thứ VI, Hoàng đế I-pha-nho (Tây Ban nha) Recaredo, đã làm lễ rửa tội tại Đệ nhất cộng đồng.
Giáo hoàng Grégoire hồi đó, sau khi nhậm chức đã xúc tiến rộng rãi việc truyền giáo các quốc gia đa thần tại Âu châu.
Đạo truyền sang Anh quốc cùng với nền văn minh la tinh. các sứ đồ đã lập được nhiều thành tích đáng kể, nhất là những vị linh mục Ái nhĩ Lan, trong đó ghi tên thánh colomban.
Thế kỷ thứ VIII, người nhật nhĩ Mãn (Germany) theo đạo.
Rồi người Tư Lạp phu (Slaves) do sự truyền giáo hiệu quả của hai anh em thánh cyrille và Méthode cùng đứng vào trong đạo.
Đầu thế kỷ thứ XIII khi người Mông cổ sang châu Âu, giáo hội đã dẫn dụ họ, nhưng không có kết quả, tuy nhiên 17
Tín ngưỡng Việt Nam
khi họ rút về Á châu, nhiều nhà truyền giáo đã đi theo họ tới Trung Á, nhất là các giáo sĩ dòng phan Xi cô và Đa Minh, hai dòng có nhiệm vụ truyền đạo cho các dân tộc du mục Á
châu. nhiều tù trưởng đã trở lại đạo.
năm 1289, giáo sĩ Jean de Montecorvino được gửi đi Trung Hoa và được bổ nhiệm Tổng Giám mục Bắc Kinh. Việc truyền giáo có một đôi phần kết quả, nhưng đến đời nhà Minh, các vua Minh sát đạo khiến đạo không những không tiến được mà còn hầu như bị tan rã.
Thế kỷ thứ XVI là thế kỷ rạng rỡ nhất của sự truyền giáo.
Hai quốc gia Bồ Đào nha và I-pha-nho (Tây Ban nha) với sự thám hiểm khám phá thêm đất đai mới đã mang đạo truyền sang Mỹ châu và phi châu. cùng trong thời kỳ này phi Luật Tân được người I-pha-nho (Tây Ban nha) Thiên chúa giáo hóa một cách nhanh chóng, cho nên tới đầu thế kỷ thứ XVII tại đây đã có một đại học Thiên chúa giáo: Đại học Santo Tomas hiện nay còn là một đại học tại Ma ni.
Việc truyền giáo ở Á châu đã được phát triển mạnh mẽ
nhờ sự thành lập của Dòng Tên vào năm 1540. Dòng này đã đào tạo nên những vị đại sứ đồ, mở một kỷ nguyên mới với một phạm vi mới cho việc phổ biến đạo giáo tại Viễn Đông.
Thánh Francois Xavier đã đi suốt Á châu từ Ấn Độ tới nhật Bản. Dân nhật Bản dường như cảm mến đạo mới này nên đạo phổ cập mau chóng trong quần chúng. nhiều nhà quý phái cũng xin rửa tội, nhưng đạo đã ngừng tiến khi ngày 27-9-1614, Hoàng đế Yeyasu công bố sắc lệnh cấm sự truyền đạo Thiên chúa. Từ 200.000 đến 300.000 tín đồ không chịu bỏ đạo đã bị giết.
Trung Hoa cũng không bị bỏ quên mặc dầu những khó khăn. Trước văn minh Trung Quốc, các nhà truyền giáo đã lấy kiến thức để thu phục kiến thức. Sứ đồ Mathieu Ricci đã 18
Mê tín dị đoan
mang tới nước Tàu những sách giáo khoa về thiên văn, địa lý, toán học và cả về luân lý nữa. các nhà bác học Dòng Tên đã tiếp theo sứ mạng này và linh mục Adam Shall đã được cử làm viện trưởng Viện Thiên văn của Hoàng tộc.
Thế kỷ thứ XVIII, tại nước này đã có rất đông tín đồ. Số
ước lượng lên đến hàng trăm ngàn, sau 50 năm truyền giáo.
Đáng tiếc về sau có sự tranh chấp về phong tục Tàu giữa các giáo sĩ nên đạo lại bị cấm, và số tín đồ do đó giảm sút dần đi. Vào đầu thế kỷ XIX chỉ còn độ trên 100.000 người.
Tại Ấn Độ việc truyền giáo cũng có kết quả, nhưng kết quả này đã bị ảnh hưởng tai hại cũng như ở Trung Hoa bởi những cuộc tranh lộn của các sứ đồ các dòng và các nước khác nhau: Bồ Đào nha, Hà Lan, Anh và pháp.
Việc truyền giáo, nếu đạt được những kết quả tốt đẹp trên cũng nhờ Bộ truyền giáo, sáng lập ngày 6 tháng giêng năm 1622 bởi đức Giáo hoàng Gregoire XV. Trước đây, các giáo sĩ
nhất là giáo sĩ Bồ Đào nha và I-pha-nho (Tây Ban nha) thường bị chính phủ của họ lấn áp, lợi dụng tôn giáo cho chính trị.
Để tách rời chính trị khỏi Đức Tin, Bộ truyền giáo ra đời với nhiệm vụ rõ rệt, với một bộ trưởng Hồng Y. Bộ thành lập một chủng viện để đào tạo giáo sĩ cho các quốc gia, có một ấn quán đa ngữ, có thể in được nhiều thứ tiếng.
Bộ tổ chức giáo phẩm tại các quốc gia. các giám mục, linh mục được gởi tới các nước bốn phương, đến tận những nơi chưa được khai phá. Theo đề nghị của bộ, nhiều người địa phương được tấn phong vào hàng giáo phẩm: Giám mục Mathéo de castro là người da đỏ.
Tại Việt nam, năm 1658, theo sáng kiến của linh mục Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) hai địa phận được ra đời: địa phận Đàng Trong với Giám mục pallu và địa phận Đàng ngoài với Giám mục Lambert.
Tín ngưỡng Việt Nam
Tóm lại có thể nói rằng, việc làm của Bộ truyền giáo đã có kết quả. cho đến thế kỷ thứ XVII, số tín đồ Thiên chúa giáo đã đạt tới một con số lớn:
Từ 15 đến 20 triệu tại Mỹ châu.
Từ 4 đến 5 triệu tại phi Luật Tân.
1 triệu tại châu Á và các nơi khác.
Bước sang thế kỷ thứ XVIII, việc truyền giáo hơi sút kém vì sự bãi bỏ Dòng Tên vào năm 1773, nhưng bắt đầu sang thế
kỷ thứ XIX lại được phục hưng bởi Giáo hoàng Grégoire XVI.
cuối thế kỷ thứ XIX có thể nói rằng tại khắp trên hoàn cầu đều có sự hiện diện của các giáo đồ.
Việc truyền giáo được có kết quả nhờ sự khai hóa các nước chậm tiến và nhờ sự thiết lập thuộc địa của các cường quốc Âu châu tại Á phi.
Với sự bành trướng đạo giáo, Bộ Truyền giáo phải tăng cường nhân số linh mục. Đầu năm 1800, có 20 giám mục, tới năm 1956, con số tăng lên 600.
ngoài việc truyền giáo của bộ lại có các hội truyền giáo: Hội quảng Bá Đức tin, Hội thánh Hài Đồng, Hội các trường Viễn Đông, Hội chống nô lệ, v.v... Tất cả có trên 270 hội đã hoạt động để đạo chúa được phổ biến, và phần lớn các hội này đều do các tư nhân bảo trợ.
Lại thêm các trường đạo cũng gây một ảnh hưởng tốt đẹp cho đạo Thiên chúa. Và các cơ quan xã hội nữa.
Với các thế chiến, con người càng hướng nhiều về đức tin.
Số người trở lại đạo ngày càng nhiều: năm 1800 có khoảng từ 1.500.000 đến 5.000.000 người rửa tội. con số này tăng đến năm 1927, 14.660.000 người.
năm 1939, 22.770.000, năm 1949, 27.945.000.
Riêng tại Á châu năm 1948, số tín đồ là 30.500.000; tại phi châu con số này là 20.678.000 người vào năm 1956, con 20
Mê tín dị đoan
số tăng gấp 200 lần con số của năm 1800.
các con số trên tuy không sát thực nhưng cũng đủ chứng tỏ đạo Thiên chúa đã hợp với con người ra sao. Mọi dân tộc đều bình đẳng trước chúa, cũng như bình quyền trong Giáo Hội. Mọi người đều được kêu gọi trở lại với chúa, làm anh em với nhau, con chung của chúa.
chính với mục đích cao cả ấy, các nhà truyền giáo đã phổ
biến tin lành mọi người đều là anh em, mọi người đều chung một vị cha ở trên trời. Sự thành công của các phái đoàn truyền giáo chính là do đó, tức là do lòng thương vậy.
ViệC TruyềN giáo Tại ViệT Nam
nhiều người thường quan niệm sai lầm rằng đạo Thiên chúa cùng tới Việt nam với thực dân pháp. Sự thật, đâu có phải. Đạo Thiên chúa đã truyền sang Việt nam, từ lâu trước hồi pháp thuộc, từ đầu thế kỷ XIX, nhưng sự truyền giáo đã gặp khó khăn, nên sự phát triển không được mạnh mẽ lắm.
Thực dân pháp tới Việt nam, mục đích của họ cốt để thôn tính đất nước, nô lệ hóa nhân dân, còn công việc khai thông đạo giáo, đó là công việc của các tu sĩ truyền giáo. có thể
nói rằng trước thời pháp thuộc, sự truyền giáo bị cấm đoán, và sau này sự hiện diện của người pháp với hiệp ước ký kết tôn trọng tự do tín ngưỡng ở Việt nam, đạo Thiên chúa đã có cơ nảy nở và bành trướng dễ dàng hơn.
Ở đây cũng có thể nói thêm được rằng tình thương đã quảng bá đạo chúa. nhiều hội thiện, nhiều cơ sở xã hội đã hoạt động để giúp đỡ dân nghèo Việt nam, đem lại cho Thiên chúa giáo nhiều thiện cảm và do đó nhiều tín đồ.
Hơn nữa, các linh mục với lòng thương bao la thường can thiệp với các nhà cầm quyền pháp để xin ân xá cho những 21
Tín ngưỡng Việt Nam
kẻ bị pháp buộc tội chống chúng cũng như cho nhiều tội nhân thường phạm đã tự gây nên tội vì dại dột. nhờ sự can thiệp hữu hiệu này, các tội nhân được tha đã vì ân đức xin trở lại đạo. cũng nên nói thêm rằng có một số người thiếu đạo đức đi tìm sức mạnh ở các linh mục cũng đã theo đạo.
Tóm lại Thiên chúa giáo đã tới Việt nam trước thực dân, và trải qua nhiều thế kỷ đã lan rộng để ngày nay trở nên một tôn giáo quan trọng tại Việt nam.
Mở đầu trang “công giáo sử Việt nam”, trước hết phải kể đến hai thánh Odorico de pardenone và Francois Xavier.
Thánh Odorico de pardenone đã tới Bình Định, lúc đó còn là lãnh thổ của chiêm Thành vào tiền bán thế kỷ thứ XIV; thánh F.Xavier trong khi đi từ Ấn Độ qua Quảng châu và nhật Bản đã ghé bờ biển Thanh Hóa.
Kể từ đó đất nước Việt nam đã được con cháu chúa luôn luôn đặt chân tới và việc truyền giáo phải kể là đã có kết quả nên năm 1533, vua Lê Trang Tôn đã có chiếu chỉ cấm đạo, lúc đó đang bắt rễ tại các xã ninh cường, Quần Anh và Trà Lũ thuộc tỉnh nam Định ngày nay.
năm 1550, một giáo sĩ dòng Đa Minh, linh mục Gaspar de Santaz cruz đã đặt chân lên cửa cồn cao, và sau đó, 1580 - 1586, lại có hai giáo sĩ dòng Đa Minh khác là Luis de Fonceca, người Bồ Đào nha và Grégoire de la Motte, người pháp đã tới giảng đạo tại Quảng nam. Mười năm sau có hai giáo sĩ Aduarte và Simenez cũng đi ngang qua tỉnh này.
Tại miền Bắc, dòng phan Xi cô có giáo sĩ Diego de Oropesa đã tới vào năm 1585, nhưng chưa kịp giảng đạo đã phải rút về Quảng châu. Một giáo sĩ khác cũng dòng này, sang năm 1586 đã được vua Mạc Mậu Hợp tiếp và cho phép truyền đạo nhưng vì ngôn ngữ bất đồng, việc truyền đạo không đem lại kết quả và giáo sĩ này cũng đã rời khỏi đất Bắc ngay năm đó.
Mê tín dị đoan
năm 1588 có hai linh mục Bồ Đào nha Alfonse de costa và Gonsalves de Sa đến Thanh Hóa.
Vào cuối thế kỷ thứ XVI, có câu chuyện công chúa con vua Lê Anh Tôn là Mai Hoa xin theo đạo và được rửa tội bởi giáo sĩ Ordonez de cévallos. cùng theo đạo với công chúa có một số bà con họ hàng.
chuyện trên chưa được xác nhận. Sử liệu chỉ nhắc đến ông Đỗ Hưng Viễn người làng Bồng Trung, tỉnh Thanh Hóa, là một trong những người Việt nam đầu tiên đã theo đạo Thiên chúa vào khoảng năm 1580. ngoài ông Viễn ra, còn một người nữa là Đỗ Viên Mẫu cũng trở lại đạo vào hồi thế
kỷ thứ XVII, sau tử vì đạo đã được Giáo hoàng Léon XIII phong chức Á Thánh vào năm 1900: đó là chân phước Yia cô Bê Đỗ nam.
Việc truyền giáo được mạnh mẽ phải kể từ đầu thế kỷ thứ
XVII với các giáo sĩ dòng Tên: Buzomi người Ý, carvalho người Bồ với các tu sĩ khác là các thầy Diza người Bồ, Giuse và phao Lô người nhật. những giáo sĩ này đã tới cửa Hàn vào đầu năm 1615.
Từ cửa Hàn, giáo sĩ Buzomi lại vào Quảng nam và ở đây kết quả truyền giáo rất khả quan với 300 tân tòng.