CHƯƠNG III · XPartie 34

À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.

Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.

Thúc tỏ ra là một hương-chức rất mẫn-cán, làm việc quan việc dân rất đàng-hoàng.

Đêm ngày Thúc lo sao để được lòng quan trên. Chàng chịu khó lắm, từ

việc tuần-phòng trong làng đến việc thu sưu-thuế của dân.

Thúc năng lên quan luôn, lân-la gần bọn thơ lại trong huyện, rồi tìm cách biếu-xén từ tên lính hầu quan đến mấy anh nho trong bàn giấy. Thúc tìm cách mua chuộc hết mọi người không tiếc tiền biếu xén vào những dịp ngày tư ngày tết.

Quan huyện có ý mến Thúc và tin Thúc. Gia-dĩ, ông Chánh-Tổng còn đó, mọi sự giao-thiệp của ông từ trước tới giờ đều có lợi cho Thúc ngày nay.

Thấm-thoát, Thúc làm việc quan đã được gần một năm. Càng được lòng quan trên, uy-tín của Thúc ở trong làng càng tăng.

Dân xã thường bảo nhau : « Thật là nòi nào giống nấy. Ông Chánh-Tổng là kẻ cả trong tổng thì con ông nay cũng là kẻ cả trong làng ».

Từ ngày nhận việc dân việc xã, lý Thúc rất bận-rộn, và cũng bắt đầu từ

ngày đó, ông lý trẻ của làng Kim-Đôi đã tỏ ra hách-dịch chẳng kém gì mấy ông lý lão-luyện khác, và đã có nhiều trường-hợp sự hách dịch của lý Thúc còn hơn cả cha.

Con hơn cha là nhà có phúc, dù lý Thúc mới chỉ hơn cha ở điểm hách-dịch.

Nửa bước ra đi, lý Thúc đều có tuần-đinh đi theo hầu, và có nhiều buổi chiều, khi công việc hơi rảnh-rang, lý Thúc lại sắm yên cương, đội nón dứa chóp bạc đi quanh làng từ xóm nọ đến xóm kia, từ thôn này sang thôn khác.

Dân làng thấy lý Thúc cưỡi ngựa đi qua đều đứng nếp sang một bên và kính-chào lễ-phép. Những đứa trẻ gặp lý Thúc lạy hỏi rất to.

Lý Thúc thấy mình lớn. Ngồi trên ngựa thấy người làng đứng nép bên đường, ông lý hả-dạ, và khi có người lạy chào ông lý trẻ càng sung-sướng hơn.

Con ngựa đi bước một, trông lý Thúc thật oai-vệ và sang-trọng. Ngựa thì yên cương tề-chỉnh, người thì quần áo bảnh-bao, nón dứa chóp bạc, áo the quần lụa, giầy Gia định.

Nhiều cô gái chưa chồng nhìn thấy ông Lý, ước-ao sau này chồng mình cũng sẽ đường-hoàng làm đàn-anh trong dân xã như Thúc.

Bà lý Thúc, cô Thảo ngày trước, cũng được kiêu-hãnh vì chồng. Từ

ngày chồng làm Lý-Trưởng, đi đâu Thảo cũng được người ta trọng vọng, một lời kêu bà Lý, hai lời kêu bà Lý.

Trong làng có tiệc, có đám bao giờ cũng có trầu, cau tới mời ông bà Lý.

Lẽ tất-nhiên người ta cũng phải mời vợ chồng ông Chánh-Tổng.

Thảo cũng thấy sung-sướng có chồng làm nên và trời cũng chiều người, lấy chồng mấy năm không sinh nỡ, thì cùng với việc Thúc đắc-cử lý-trưởng xong, Thảo cũng thấy tin mừng.

Có tin mừng, Thảo mừng lắm. Đã bao lâu nay, nàng chờ đợi một đứa con, nay đứa con đó sắp tới với nàng. Đứa con như một sợi giây thiêng-liêng buộc giữ Thúc gần nàng.

Trước đây, mỗi khi đi chơi bời, bị vợ kỳ-kèo Thúc đều lấy cớ con cái chậm, buồn-bã phải đi tiêu sầu. Ngày nay với đứa con, Thảo có thể dễ nói Thúc hơn mỗi khi Thúc nhãng quên bổn-phận làm chồng.

Thảo mừng, Thúc cũng mừng, nhưng mừng nhất có lẽ là ông bà Chánh-Tổng. Cưới nàng dâu về, ông bà chờ đợi cháu bồng, vậy mà ngày ấy qua ngày khác, thấm-thoát đã mấy năm vợ Thúc cứ đực ra không sinh đẻ gì. Bà Chánh-Tổng buồn, đã có ý muốn cưới thêm vợ bé cho Thúc. Ý-định của bà tuy chưa nói với con và dâu, nhưng bà đã bàn với chồng. Ông Chánh-Tổng không bày tỏ ý-kiến. Ông chỉ bảo hãy cho Thúc có chút công-danh sē hay.

Thúc đã có công-danh, vợ Thúc cũng lại có tin mừng, ông bà Chánh-Tổng vui-sướng quá. Thật là đủ danh-giá tiền-bạc và rồi đây hòe quế sẽ đầy sân, cây non nẩy lộc, hạnh-phúc nào sánh bằng !

Có tin mừng Thảo cũng đẹp thêm.

Làng nước có người bàn-tán : « Bà lý Thúc thật vạn sự may-mắn.

Chồng làm đàn-anh, vợ có tin mừng, trông càng béo đẹp ra ».

Những người trước đây chê Thúc về truyện chàng tỏ ra bất chánh với Tiệp, vừa là vợ của bạn lại vừa là con của thày học, bây giờ không ai còn dám nhắc tới việc cũ đó. Gặp vợ chồng lý Thúc đi đâu người ta len-lét sợ và khép-nép chào. Ai dại gì chống với người thịnh.

Lý Thúc càng hách-dịch dân làng càng nể sợ.

Ông Chánh-Tổng thấy con biết ra oai với dân xã thì bằng lòng lắm.

Như thế mới biết làm đàn-anh.

Ông thường bảo bà Chánh-Tổng : « Tôi không ngờ thằng lý Thúc nhà ta thế mà hay ! Làm việc quan được và dân làng lại sợ-hải nể vì. Trước tôi cứ tưởng nó còn dại-dột ».

Bà Chánh-Tổng đáp lại : « Chuyện ! Ông cứ nghĩ thế chứ, con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh. Ông làm Chánh-Tổng oai vệ như vậy, sao con ông lại không làm được lý-trưởng. Rồi sau này nó lại không hơn cả

ông nữa ! »

Ông Chánh-Tổng vuốt râu cười hề-hề khoái chí.

Hổ phụ đâu sinh khuyển tử được. Con ông biết làm việc quan, con ông biết làm đàn-anh, thế mới thực là con ông.

Tre già, măng mọc là vậy. Sau này, mãn khóa Chánh-Tổng, được chút phẩm-hàm, ông sẽ nghỉ việc quan để thanh-nhàn dưỡng tuổi già. Lý Thúc sẽ

nối nghiệp ông :

Có lần ông nói truyện ấy với bà Chánh, bà Chánh chê ông bảo : « Chưa già đã nghĩ truyện già. Thì ông hãy cứ giữ việc quan, để còn binh-vực cho con chứ. Ông tưởng ông về nghỉ với chút phẩm-hàm, con ông vẫn được người ta nể như ngày nay hẳn. Ông còn làm Chánh Tổng thiên-hạ họ sợ

bóng sợ vía ông nhiều ».

Ông Chánh-Tổng vuốt mấy sợi râu, châm điếu thuốc lào hút, thở khói lên cao, ông hà một hơi dài. Sau đó ông đáp : « Bà mày nói cũng có lý, nhưng bà mày cứ yên-trí. Ai chớ thằng lý Thúc, đố ai bắt-nạt được nổi nó.

Nó tha bắt-nạt người khác thì chớ, chứ đời nào nó chịu ai. Bà xem nó làm việc dân có hơn Lý cựu không. Và bây giờ nó đang được quan trên nể mến, và nó cũng đã bắt đầu thu lại được dần dần cái tiền tôi và bà bỏ ra tiêu cho nó ứng-cử ».

Bà Chính thấy ông Chánh nói cũng đúng. Hạng người như lý Thúc lại sẵn thế cha, không những là đàn-anh trong làng, còn là vai-vế trong hàng Tổng. Từ ngày làm việc quan đến nay, lý Thúc thay đổi khác hẳn trước. Bao nhiêu những điều tẹp nhẹp, lý Thúc đều làm bộ không để ý tới, tuy trong

thâm tâm, lý Thúc không bỏ qua một điều tẹp-nhẹp nào, từ việc rất nhỏ trở

đi.

Người làng ai cũng sợ lý Thúc. Ai hơi có lỗi là lý Thúc cho gọi ra đình hạch tội, và đối với những kẻ thiếu thuế hoặc « phạm-pháp nhà nước », lý Thúc làm ghê-gớm lắm. Hắn cho tuần đinh tới tận nhà bắt trói ghì cánh khuỷu dẫn ra trói cột vào tam-quan đình, không nể gì người làng người nước cho tới khi đóng được thuế hoặc giải lên quan.

Lý Thúc sơi tiền cũng khôn-khéo. Hắn làm ra mặt không đòi hỏi ai, nhưng đừng ai hòng được việc, dù đây chỉ việc thị-thực trên giấy khai-sinh, nếu không có tiền cho thầy lý và nếu ai chỉ-trích lý Thúc thì coi chừng. Lý Thúc chỉ cười hề-hề, nhưng hắn trả thù lúc nào không biết.

Từ ngày làm lý-trưởng, Thúc không hề đả-động tới việc Tiệp đã làm nhục hắn, nhưng không phải hắn đã quên. Mỗi hận đó bao giờ hắn quên cho nổi, nhất là hình-ảnh và nhan-sắc của Tiệp hắn vẫn chôn xâu trong tâm khảm với một sự ước-ao thèm-muốn phải cố nén cho lắng xuống.

Khoan vẫn chỉ là một anh đồ kiết, gõ đầu mấy đứa trẻ trong làng. Học-trò cũng vẫn đông, và sự túng-bấn cũng vẫn vậy. Bà đồ Ngư cũng có đôi khi trợ-cấp cho Tiệp, nhưng cả hai vợ chồng đều rất khảng-khái, ít khi nhận sự

giúp đỡ của mẹ.

Người làng đem so sánh Khoan với Thúc.

Có người bảo Tiệp là dại, nhưng có người không cho Tiệp là dại, bảo Tiệp là thủy-chung với tình.

Tiệp vẫn sống đời của Tiệp bên cạnh Khoan và hai con, mặc Thúc kiêu-hãnh với sự sang-trọng của mình. Gặp Thúc đâu, Tiệp vẫn tìm đường lẫn mặt như trước.