CHƯƠNG I · XIIPartie 12

À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.

Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.

Đám ăn hỏi Khoan lấy con gái ông đồ Ngư được nhiều người ở Kim-Đôi nhắc-nhở tới. Ai cũng khen hai trẻ đẹp đôi, trai tài gái sắc. Khoan học-hành khá, con nhà lương-thiện, còn Tiệp nhan-sắc lại con nhà nho.

Họ nói : « Ừ, cô Tiệp lấy cậu Khoan hơn là cậu Thúc nhiều. Nhà cậu Thúc danh-giá, nhưng cậu Khoan học-giỏi lại là cháu ông Khóa Hữu cũng là tay văn-học đạo-đức ».

Có người đáp : « Nhưng cậu Khoan nhà nghèo, e sau này cô Tiệp vất-vả ».

Thì lại có người nói : « Nghèo hay giàu có làm gì. Cốt là thương yêu nhau. Thuận vợ thuận chồng rồi nghèo cũng hóa giàu. Tự tay kiếm ăn lấy làm nên mới sướng, hưởng của bố mẹ có khi rồi cũng hết ».

Có người bàn thêm : « Cậu Khoan sau này đổ đạt càng hay. Cho rằng số phận cậu không có công-danh, cậu sẽ lại dạy học như bố vợ, làm ông đồ

ở trong làng chẳng danh giá hay sao. Còn cô Tiệp sẽ là bà đồ, tha hồ sung-sướng, ai cũng phải nể vì ».

Tóm lại cuộc hôn-nhân của cặp Khoan, Tiệp đều được mọi người tán thành, duy chỉ có Thúc là căm-giận. Thúc thù Khoan, Thúc oán Tiệp. Thúc nguyện nếu có dịp sẽ cho Khoan và Tiệp biết tay mình.

Ông bà Chánh-Tổng thấy con buồn cũng thương, và cũng hơi oán ông đồ Ngư sao lại quá vin vào số mệnh để từ-chối không gả Tiệp cho con trai ông bà.

Bà Chánh-Tổng bảo Thúc : « Bây giờ con Tiệp nó sắp lấy cháu ông Khóa Hữu, con cũng phải lấy vợ cho nó hiểu rằng con lấy đâu cũng được vợ

cứ gì phải lấy nó ».

Thấy lời mẹ nói cũng phải, và cũng muốn như ganh đua với Khoan, Thúc xin mẹ cưới Thảo cho mình.

Bà Chánh-Tổng thấy Thảo cũng mỏng mày hay hạt, con nhà giàu, lại là bạn học của Thúc ưng ý ngay. Bà hỏi Thúc : « Có phải con Thảo cùng học với con không ? Con ông bà Phong xóm dưới chứ gì ».

Bà lại nói : « Con ấy, u trông còn hơn con gái ông đồ nhiều. Nhà nó lại giàu có, sau này con cố có chút công danh nữa, lo gì không hơn thằng Khoan. Con gái ông đồ lấy thằng Khoan rồi tha hồ lo ăn chạy gạo. Nhà nó nghèo xác-sơ, đâu bằng được nhà mình ».

Bà Chánh-Tổng chỉ so sánh tiền của, so sánh địa-vị, bà cũng như tất cả

mọi người cùng thế-hệ quan niệm hôn nhân ngoài tình yêu.

Thúc thấy lời mẹ nói cũng đúng, nhưng Thúc vẫn thấy ghen-tị với Khoan. Thúc có thể có địa-vị sau này hơn Khoan, giàu có hơn Khoan nhưng chàng vẫn cảm thấy không lấy được Tiệp là kém Khoan, Thúc cũng lại cảm thấy dù chàng có giàu có đến đâu, có công-danh trong làng trong Tổng, nhưng so sánh với Khoan, chàng vẫn tự thấy kém ở một điểm nào. Có lẽ

Khoan sẽ nghèo, nhưng Khoan văn hay chữ tốt, Khoan sẽ dạy-học và Khoan sẽ được sự kính-trọng của người trong làng ngoài xã.

Ông Chánh-Tổng cũng đồng ý với vợ về việc cưới Thảo cho Thúc.

Ông nói : « Hay lắm. Mình thông gia với nhà ấy cũng môn-đăng hộ-đối. Nhà mình giàu có danh giá, phải kén vợ cho con ít nhất cũng vào hạng con cái ông bà Phong. Cái thằng Thúc nó cứ lẩn-thẩn mê say con Tiệp, chứ

nhà ông đồ Ngư đâu bằng được nhà này. Nhà người ta nào nhà ngói cấy mít, nào sân gạch vườn hoa, lại sẵn của ăn của để, ruộng lắm nương nhiều ».

Việc hôn-nhân đã được quyết-định. Ông bà Chánh-tổng nhờ người mai mối. Lẽ tất nhiên Thảo bằng lòng lấy Thúc, cũng như gia-đình nàng được lấy làm vinh dự để thông gia với gia-đình Thúc.

Thảo đã trả lời cha mẹ khi nàng được hỏi ý kiến : « Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Phận con là gái xin tùy thày u định-đoạt ».

Mai mối xong là lễ dạm rồi đến lễ hỏi.

Lễ ăn hỏi đã cử hành rất linh đình. Tuy nhà gái không thách gì, nhưng nhà trai muốn rửa mặt vì truyện Tiệp không chịu lấy Thúc, đã dẫn lễ hỏi một cách rất sang-trọng.

Ngày ăn hỏi, dân làng đứng chen nhau ở đầu xóm để xem đám dẫn hỏi.

Ông Bà Chánh-Tổng đã thuê người từ Hà-Nội về để đội các quả lễ.

Những người này đều khăn lượt, áo the, quần trắng, thắt lưng điều buộc ra ngoài áo, xếp hàng một đi từ nhà ông bà Chánh-Tổng tới nhà Thảo. Mỗi người đều có đội trên đầu một quả hoặc một mâm đồ-lễ. Những chiếc quả, ông bà Chánh-Tổng cũng thuê từ Hà-Nội mang về.

Đây toàn những quả sơn son thiếp vàng. Còn những chiếc mâm đựng cau chè, đều là mâm thau trạm trên có phủ nhiễu điều. Lại có mấy người khiêng những chóe rượu, những chiếc chóe Giang-Tây có hình long ly quy phượng hoặc mai lan cúc trúc đặt trên những chiếc đế gỗ gụ đen lánh trạm trỗ.

Đám ăn hỏi đi như một đám rước. Lũ trẻ trong làng chạy theo, vừa reo cười vừa khen ngợi :

- Ăn hỏi to quá chúng bay ơi !

- Những chiếc chóe trông đẹp quá !

- Những phu quả trông lịch-sự thật !

Đấy mới chỉ nói tới bề ngoài. Còn đồ lễ, ông bà Chánh-Tổng cũng đã kén chọn toàn những món hảo hạng : rượu mai bánh kép, cau Thanh, chè nhỏ cánh xanh nước.

Ông Chánh-Tổng hãnh diện khoe với mọi người : « Đã lo vợ cho còn ngại chi tốn. Tôi muốn làng nước trông vào, xem con tôi có ế vợ không ».

Ý ông muốn nhắc tới việc từ-chối của ông đồ Ngư, không gả Tiệp cho Thúc, và ông có ý so-sánh đám ăn hỏi của con mình với đám ăn hỏi của Khoan.

Ông nói : « Tôi đã làm gì phải đường-hoàng, nhất là truyện vui mừng của con cái không lúi-sùi được ».

Thúc cũng hãnh-diện về sự sang-trọng của nhà mình. Có như thế chàng mới trả thù được Tiệp. Đám ăn hỏi của Khoan đã cử-hành rất giản-dị, bì sao được với đám ăn hỏi linh-đình của chàng.

Thảo cũng mát mặt. Lấy chồng có cưới hỏi to-tát vẫn hơn.

Với đồ lễ của nhà ông Chánh-Tổng, nhà gái đã đủ chia khắp làng, nhà thân thì bánh trái, nhà sơ thì chè cau.

Mấy cô em Thảo cùng với mấy cô cháu họ lĩnh việc đi chia phần.

Tới đâu các cô cũng nhắc lời : « Chị Thảo chúng cháu sắp ra ở riêng, thầy u cháu gọi có chút trầu cau kính biếu ông bà ».

Chia phần cưới có ý nghĩa báo cho dân làng biết là con gái mình có cưới xin. Nhiều người khi gả con bỏ sót một thân-thuộc bạn bè nào không chia phần cưới thường bị trách-móc : « Nhà bác có tin mừng mà không cho chúng tôi được ăn trầu ».

Việc chia phần cưới rất cần ở nơi thôn xã, vì vậy nên những gia-đình nào dù không sung-túc cũng phải có trầu cau chia cho bạn-hữu thân-quyến khi có việc vui mừng cưới gả.

Dân làng Kim-Đôi bàn tán nhiều đến đám ăn hỏi sang trọng của Thúc.

Người ta so-sánh với đám ăn hỏi của Khoan. Có người chê, cũng có người khen. Cưới con hay khoe của ? Việc hôn nhân cần có đủ lễ thì thôi, cần đâu phải linh-đình. Cốt làm sao cho đôi trẻ thương yêu nhau.

Sự so-sánh đến tai Khoan và Tiệp. Tiệp cũng như Khoan đều cho đó là một sự thường. Nhà ông Chánh-Tổng lắm tiền ông cứ việc chi tiêu, còn nhà

Khoan nghèo, của đâu để thi với nhà giàu cho kịp.

Thúc cứ việc hãnh-diện, còn Khoan, điều cần nhất là cưới được Tiệp.

Riêng ông đồ Ngư, ông hiểu thâm ý của ông bà Chánh-Tổng. Ông bảo Tiệp : « Nhà thằng Khoan không giàu, nhưng nó có đức. Đám cưới con không to, nhưng các con sẽ có hạnh-phúc gia-đình. Thày trông thấy các con thương yêu nhau, thày mừng ».