CHƯƠNG II · IIPartie 14
À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.
Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.
Vụ gặt tháng Mười ! Ngoài cánh đồng, những ruộng lúa mùa nặng trĩu những bông vàng như tơ ánh, và mùi lúa chín bốc lên thơm dìu-dịu. Những cơn gió tạt qua lung-lay những bông lúa nhẹ cọ sát vào nhau như những tiếng rì-rầm, và hương thơm của lúa chín tỏa rộng một mùi mát mát êm êm.
Từ sáng sớm, thợ gặt đã kéo nhau khắp cánh đồng để gặt lúa. Những ruộng lúa vàng, trước những lưỡi liềm lưỡi hái cứ vơi dần. Các cô thôn nữ, chít khăn mỏ quạ, váy xắn cao cùng những chàng trai quần nâu áo nâu gọn-gàng cũng cắt lúa.
Các cô tay cầm liềm, tay nắm mấy cây lúa, đưa lưỡi liềm cắt lúa kêu soèn-soẹt. Những bông lúa cắt rồi, các cô xếp ngay trên mặt ruộng, khi được thành từng đống, các cô bó lại thành từng con, từng lượm bằng ngay những ngọn rơm ở ruộng lúa. Các chàng trai cũng cắt lúa, cũng bó thành con thành lượm, nhưng các chàng trai sức-vóc khỏe mạnh hơn, các chàng phải bó những con lúa thành từng bó lớn. Rồi người ta chia nhau gánh lúa về nhà.
Những chiếc đòn sóc nhọn hai đầu, thọc sâu vào bó lúa và người thợ gặt ghé vai vào nhấc lên để quảy đi một cách nhẹ nhàng.
Trong khi cùng gặt cùng hái, các cô các cậu trò truyện với nhau, tiếng nói vui-vẻ, tiếng cười ròn-rã khiến cho công việc đỡ mệt-nhọc. Thỉnh thoảng một vài cô lại cất giọng hát một vài câu. Tiếng hát như thúc đẩy cho công việc, và khiến cho mọi sự mỏi mệt tiêu-tan :
« Bao giờ cho đến tháng Mười,
Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta ».
Cũng có khi các cô hát những câu yêu-đương tình-tứ để nhắn-nhủ
người yêu, thì lập tức có những chàng trai đáp lại bằng những câu thật là
khả-ái. Đã có nhiều cuộc nhân-duyên bắt đầu bằng những câu hát trong buổi gặt.
Cảnh mùa gặt ở ngoài đồng thật vui. Xen vào những đám thợ gặt có các cô con gái nhà chủ ruộng đi trông nom. Các cô cũng gặt, cũng nói cười và ca hát, thật là bình-đẳng với các anh chị em thợ gặt. Lại còn có những người đi đổi đồng. Đây là mấy người trong làng nhân vụ gặt mang quà bánh, nước nôi ra đổi lấy lúa cho anh chị em thợ đồng.
Đi làm từ sớm, công việc nặng nhọc, trời tháng Mười lại nắng hanh, anh chị em thợ đồng thường đói bụng khát nước. Mấy người đổi đồng đưa quà bánh cho họ ăn, đổi lấy vài con lúa. Việc đổi đồng được các chủ ruộng mặc-nhiên ưng-thuận, miển là anh chị em thợ gặt không ăn uống quá đáng đến đỗi phí phạm mất nhiều lúa đổi.
Nhà Khoan cũng có ít ruộng mùa, nên vụ gặt tháng Mười, Khoan cũng thỉnh-thoảng có mặt tại cánh đồng sau buổi học. Cả Tiệp cũng bận-rộn ở
ngoài đồng để trông nom thóc ruộng nhà. Nhờ vậy đôi lúc Khoan và Tiệp lại được cùng nhau trao đổi vài mẩu chuyện, những mẩu truyện tuy ngắn nhưng khiến lòng đôi bên đều vui vui trong khi chờ đợi chính thức cùng nhau như
chim liền cánh, như cây liền cành.
Ruộng tốt, lúa nhiều, người dân làng Kim-Đôi yên lòng với vụ gặt.
Người thu-hoạch được nhiều nhất về vụ lúa chín nầy là ông bà Chánh-Tổng.
Ông bà nhiều ruộng lắm, ruộng đồng nhà lại ruộng ngoại canh.
Thảo được ông bà giao cho việc trông coi gặt hái tại cánh đồng nhà.
Thúc cũng luôn có mặt tại cánh đồng với vợ. Chàng hãnh-diện về sự thu hoạch của nhà mình, và có ý dè bỉu khi nói tới Khoan.
Lẽ tất nhiên, cũng có mặt tại cánh đồng Thúc vẫn gặp Khoan cũng như
Thảo vẫn gặp Tiệp. Thúc thường tỏ ý coi thường Khoan, nhưng trái lại Khoan không hề bao giờ có một hậu ý gì không tốt đối với Thúc.
Thảo gặp Tiệp ở ngoài cánh đồng thường khéo khoe khoang trong câu chuyện giàu có của gia đình nhà chồng, và nàng kể lại cùng Tiệp cái cảnh sung túc đầy đủ nàng sống với Thúc. Nàng lấy làm tự mãn được lấy chồng
giàu. Đôi khi nàng hỏi tới ngày cưới của Tiệp. Bao giờ Tiệp cũng trả lời một câu rất không đâu : « Bao giờ cưới thế nào em chẳng phải mời chị. Chị nhớ
mừng em thật sang đấy nhé ».
Với lúa tháng Mười gặt xong là mùa xêu của các chàng rể đã dạm hỏi vợ nhưng chưa cưới. Và cũng là mùa để học-trò mang biếu thày nhân dịp cơm mới.
Gia-đình Khoan cũng đã sắm-sửa đủ đồ lễ để Khoan mang xêu đằng nhà Tiệp.
Đồ lễ tuy đơn sơ, nhưng đủ chứng tỏ sự thành-kính của Khoan đối với ông đồ, vừa là thầy học lại vừa là bố vợ chưa cưới.
Chiều hôm đó, sau buổi học, Khoan cũng người nhà mang tới nhà ông đồ một thúng gạo nếp và hai chục con chim ngói cùng với trầu cau.
Về mùa lúa chín này, chim ngói bay ra rất nhiều, và được người ta dùng làm đồ xêu vào dịp cơm mới.
Người nhà Khoan thưa cùng ông đồ : « Nhân dịp cơm mới, nhà chúng tôi gọi có chút đồ lễ tới xin ông bà Đồ nhận cho để chứng lòng thành của bên ông bà chúng tôi ».
Lẽ tất nhiên ông bà Đồ vui vẻ nhận, nhưng ông vẫn xã giao nói : « Bên đằng ông bà nhà bày vẽ quá. Chúng tôi xin thành-thật cảm ơn ».
Rồi ông đồ nhắc tới việc cưới xin của Khoan và Tiệp : « Chỗ tôi với ông Khóa Hữu thân mật, việc trăm-năm của các cháu chúng tôi dễ-dàng.
Nhờ ông về thưa lại với ông bà bên nhà rõ. Chúng tôi muốn cho đôi trẻ sớm phối-hợp, kẻo chúng phải chờ-đợi mãi tội-nghiệp ».
- Ông bà đồ thật quý-hóa quá. Bên ông bà chúng tôi cũng đang tính ngày.
Khi Khoan và người nhà về, mấy bọn học-trò của ông đồ tới. Họ cũng mang biếu ông đồ gạo nếp và chim ngói.
Hằng năm vào những dịp mồng năm tháng năm, rằm tháng tám, cơm mới tháng mười, bao giờ ông đồ cũng nhận được nhiều đồ lễ của học-trò.
Ngày xưa, học-trò đối với thày ân tình rất trọng, không bao giờ họ quên ngày tư ngày Tết của thày. Giàu nghèo họ cũng cố lo có chút ít đồ lễ mang biếu thày vào những dịp tháng năm ngày Tết. Một mình lo không xong, họ
chung nhau rủ bạn-bè. Thày dạy học mở trường ngày xưa không lấy tiền học, hàng năm thường chỉ trông vào những đồ biếu sén. Khi còn đi học, học-trò tết biếu thày đã đành, ngay khi thôi học rồi, các học-trò cũng vẫn nhớ ơn thày.
Cha mẹ có công sinh-dưỡng, tác-thành cho mình nên người, ấy chính là công của thày.
Vợ chồng Thúc cũng mang biếu ông đồ gạo nếp và chim ngói như khi còn đi học.
Ông đồ nhận đồ lễ rồi bảo Thúc : « Thày cảm ơn anh. Thày mong anh không giận thày về việc em Tiệp. Chẳng qua cũng là duyên-số. Bây giờ anh lấy con gái ông bà Phong, thày thấy thật là đẹp đôi. Thày mong anh chị loan phụng hòa-minh, bách-niên giai-lão, con đàn cháu đông ».
Thúc chỉ biết vâng dạ. Sự thật, tuy cưới Thảo, nhưng lòng Thúc vẫn mang mang muốn yêu Tiệp.
Thúc vẫn oán ông đồ về chuyện không gả Tiệp cho chàng. Lẽ ra dịp cơm mới này, Thúc đã thôi học, Thúc không muốn trở lại nhà ông đồ nữa, phần vì ngượng-ngùng sợ gặp Tiệp, phần vì nỗi oán-hận của chàng chưa nguôi, nhưng chàng bị ông bà Chánh-Tổng bó buộc phải mang biếu ông đồ
gạo và chim.
Ông Chánh-Tổng, tuy hơi không bằng lòng ông đồ ở chỗ không hỏi được Tiệp cho Thúc, nhưng ông lại không muốn bị ai chê cười là không hiểu lễ-nghĩa, nên trong dịp cơm mới ông bắt Thúc phải cư-xử đúng đạo thầy trò.
Thúng gạo nếp, vài chục chim ngói đối với nhà ông có nghĩa-lý gì, nhưng tiếng-tăm bề-thế của ông, đó mới là quan-trọng.
Trước khi Thúc ra về, ông Đồ lại bảo : « Thày gửi nhời về cám ơn ông bà Chánh-Tổng nhé ! Năm nay được mùa, chắc đằng nhà gặt hái được bội thóc lúa đấy nhỉ ».
Thúc ra về. Lại vài bọn học-trò khác tới biếu thầy.
Tiệp luôn luôn vất-vả vì phải đun nước pha trà để ông đồ tiếp khách.
Đối với bạn học, nàng cũng chạy lên chạy xuống chào hỏi, nhưng riêng khi Thúc tới, nàng đã ở lỳ ở dưới bếp cho tới lúc Thúc ra về.