CHƯƠNG II · IVPartie 16

À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.

Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.

Thuốc thang không chuyển, bệnh ông đồ càng nặng hơn cho đến một buổi chiều. Ông cho gọi hết vợ con trong nhà lại để ông trối-trăng lời cuối cùng. Lúc ấy ông thấy tỉnh vô cùng, không mơ hoảng li-bì như mọi ngày.

Ngọn đèn sắp tắt, vụt lên sáng tỏ, người ta sắp chết cũng trở nên sáng-suốt.

Bà đồ, vợ chồng Vinh, Tiệp, Mẫn và cả Khoan nữa đã có mặt đủ bên giường ông đồ. Gian buồng mờ tối. Ông đồ bảo Tiệp mở cửa rộng cho sáng.

Ông nói : « Nằm mãi trong bóng tối người đâm mê sảng. Hôm nay thày tỉnh, mở cửa cho thày nhìn thấy ánh-sáng ngoài trời lần cuối cùng ».

Cửa mở ra, trông ông đồ gầy đét, da bọc xương, nước da đen sạm, không còn sinh khí.

Ông thấy bà đồ nước mắt ràn-rụa đứng ngay sát bên giường nhìn ông.

Ông lắc đầu thương hại vợ. Ông lại đưa mắt nhìn các con, các con đều có ngấn lệ trên má.

Ông bảo bà đồ : « Làm gì bà phải khóc. Sống chết có mệnh, sinh ký tử

quy có ai mà sống mãi được đâu. Bà nên giữ-gìn sức-khỏe kẻo lại đau ốm thì khốn. Và các con nữa, cũng đừng khóc làm chi. Thày biết các con thương thày, nhưng trước số-mệnh các con có khóc cũng chẳng ích gì. Hôm nay thày tỉnh táo, có mặt đủ các con đây và mẹ các con, thày sung-sướng, thày chết đi, các con hãy nhớ lấy những lời thày đã dặn. Hôm nay thày muốn bảo thêm các con phải ăn ở với xóm giềng làng nước cho đứng-đắn, có nhân-nghĩa có thủy-chung đừng để cho ai chê cười. Còn anh Khoan, anh nhớ trông nom em Mẫn cho thày, và anh nên giữ lấy lớp học của thày ».

Rồi ông tự đặt lấy tên hèm là Thái Thụy : « Tên hèm còn gọi là tên thụy hoặc tên cúng cơm, tức là tên người ta đặt cho người chết, hoặc người sắp chết tự đặt lấy. Trong trường hợp hấp-hối người chết không còn tỉnh-táo hoặc không còn đủ sức để nói rõ ý muốn của mình thì người nhà đặt cho một tên hèm và nói cho người hấp-hối hay. Tên hèm này sẽ được khấn tới trong tang lễ cũng như trong những ngày giỗ ngày Tết hàng năm ».

Đặt xong tên hèm cho mình, ông đồ nói với bà đồ : « Việc ma chay của tôi bà liệu tùng-tiệm cho đỡ tốn. Nếu các môn sinh muốn, họ sẽ góp nhau làm ma, còn nếu không bà đừng nên xa-xỉ. Để tiền cho các con. Con chim sắp chết kêu lên tiếng đau thương, con người sắp chết bao giờ cũng nói lời nói phải. Những điều tôi nói, bà và các con phải nghe ».

Bà đồ mắt vẫn ràn-rụa lệ rơi nhìn chồng gật đầu và lũ các con cũng đều vâng dạ trước mọi lời trăng-trối của ông đồ.

Bỗng ông đồ bảo : « Thôi bà ở lại tôi đi ! Các con ở lại thày đi. Ông lim dim nhắm đôi mắt yếu ớt lại. Bà đồ và Tiệp òa khóc ra tiếng ».

Nghe tiếng khóc của vợ và con, ông đồ lại mở mắt ra và nhắc lại : « Tôi đã bảo bà và các con đừng khóc để tôi đi cho được yên-tâm ».

Ông bảo Vinh : « Con sờ chân thày mà xem, lạnh tới đầu gối rồi ».

Vinh đưa tay sờ đầu gối ông đồ quả nhiên cả hai bên đều lạnh ngắt. Sự

lạnh cứ lên dần-dần, lên tới đâu ông đồ biết tới đó.

- Lạnh tới bẹn !

- Thày chết tới bụng !

Lạnh tới đâu người chết tới đó. Trong lúc đang chết ông đồ vẫn sáng-suốt. Ông hết đưa mắt nhìn bà đồ lại nhìn sang các con : « Thày chết quá bụng rồi ! »

Sau đó, ông không nói được nữa. Mắt ông vẫn mở. Ông nhìn bà đồ lưu-luyến, nhìn lũ con âu-yếm, nhất là nhìn Tiệp và Mẫn.

Bỗng môi ông nở một nụ cười như để chào vợ rồi đôi mắt ông nhắm nghiền lại.

Ông đã chết hẳn. Vinh thắp một nén hương kề khói vào mũi ông, không thấy khói hương lay động gì nữa, chứng tỏ rằng ông đồ đã tắt thở.

Vinh bảo mẹ : « Thày đã đi hẳn ! »

Bà đồ gào khóc ! Tiệp cũng khóc òa lên, cả vợ Vinh cũng khóc.

Vinh ra hiệu cho mẹ, vợ và em nín khóc. Chàng cùng Khoan khiêng ông đồ từ trên giường đặt xuống đất. Hành động này của thân nhân có ý hi vọng rằng sinh khí rải-rác trên mặt đất sẽ hồi-sinh người chết.

Đặt ông đồ nằm dưới đất giây lát thấy không có triệu chứng gì của sự

hồi-sinh, Vinh và Khoan lại khiêng ông đồ đặt lên giường như cũ.

Liền đó, Vinh sai người nhà lấy một chiếc áo dài của ông đồ vẫn mặc, leo lên mái nhà, gọi ba hồn bảy vía 2 đích danh ông đồ ba lần rồi lại leo xuống.

Người Việt-Nam tin rằng người chết hồn vía chưa đi xa, còn lẩn quất quanh nhà nhớ thương con cháu, nên khi có người mang chiếc áo lên mái

nhà gọi hồn vía người chết, hồn vía có thể nhập vào chiếc áo để trở lại vào thân xác.

Người nhà leo xuống, mang chiếc áo dài vào, nhưng hồn vía ông đồ

vẫn không trở lại xác. Ông đồ đã chết hẳn.

Bà đồ gào thét gọi tên ông, Tiệp và vợ Vinh cũng khóc-lóc gọi cha.

Xưa nay, người ta vẫn tin người chết có khi sống lại, nếu người nhà, nhất là vợ con khóc lóc kêu gào. Tình thương vợ nhớ con đã khiến cho người chết không thể dứt tình đi hẳn.

Trong những trường hợp người chết bất-đắc-kỳ-tử, chết sông, chết đò, chết đạn lạc, tên bay, khi có cha mẹ anh em hoặc con cháu tới nhận xác thường trào máu ra miệng. Linh cảm thiêng-liêng giữa tình máu-mủ ruột thịt đã khiến có sự trào máu đó.

Bà đồ khóc, vợ Vinh kêu gào, Tiệp vừa lạy xác ông đồ vừa gọi, người nhà đứng quanh đều rơm-rớm lệ, nhưng ông đồ vẫn không hồi lại.

Vinh bảo mẹ : « Thôi, đẻ đừng khóc-lóc quá nữa ! Thày con đi hẳn rồi ».

Ông đồ đi thật. Số mệnh của ông đã đến ngày phải về bên kia thế giới cùng tổ-tiên.

Bà đồ bảo Khoan : « Thôi thày đã đi hẳn rồi, anh nhớ lời thày dặn về

nói với các cụ bên nhà lo cưới chạy tang trước khi phát phục ».

Cưới chạy tang tức là đám cưới cử hành trước đám tang. Đấy là một tục-lệ cổ-truyền để cho đôi trai gái có thể kết hôn với nhau, không phải đợi mãn tang người chết. Trong trường-hợp này, người chết được coi như vẫn còn sống, và hôn-lễ tuy được cử-hành giản-dị hơn, nhưng đối với người chết nằm đấy, phải dùng những lễ nghi như đối với người còn sống.

Nghe lời bà đồ, Khoan vội-vã về nhà lo việc cưới chạy tang.

Cưới là một việc vui mừng, nhưng cưới chạy tang, mọi lễ-nghi được giảm bớt rất nhiều, và do đó sự cưới xin cũng cử-hành rất mau lẹ. Sự kén

chọn ngày cũng bớt cẩn-thận. Người ta chỉ cốt làm sao cho đám cưới mau xong để còn lo tới đám tang.

Với đám cưới, Tiệp sẽ được gần Khoan. Tuy nhiên nàng cũng đau-đớn trước cái chết của cha. Phải chi cha nàng còn sống, đám cưới không linh-đình cũng tấp-nập, có phải cha nàng cũng vui-vẻ và nàng cũng sung-sướng không.

Trong lúc Khoan ra về, tại nhà ông đồ, Vinh và người nhà lo tắm rửa thay quần áo cho ông đồ.

Tiệp đã đem nồi nước vị-hương thơm phức để lau mình cho cha, và sau đó, bà đồ đích thân mặc cho ông đồ bộ quần áo đẹp nhất xưa nay ông đồ vẫn ưa mặc.

Theo đúng tục lệ, Vinh khẻ cậy mồm cha để đặt vào một nhúm gạo nếp và ba đồng tiền, tượng trưng cho thức ăn của người chết và tiền đò để qua Cửu-tuyền về bên kia thế giới. Sau đó một tấm giấy bản được phủ lên mặt ông đồ.

Việc phát phục, phải đợi lễ chiêu-hồn và lễ chiêu-hồn chỉ thực-hiện sau đám cưới chạy tang của Tiệp.

Vì chưa phát phục nên người nhà dù có thương xót cũng chỉ khóc dấm-dút, không dám khóc to. Đối với làng nước, ông đồ vẫn được coi như còn sống, tuy với lễ cưới chạy tang của Tiệp ai cũng biết là ông đồ đã chết.

Tiệp thương cha vô cùng. Nàng khóc sưng cả đôi mắt. Từ bé nàng vẫn được cha mẹ thương chiều, và chưa bao giờ nàng phải xa cha mẹ. Nỗi sinh ly nàng chưa biết, nhưng nay nàng đau-đớn biết bao nhiêu với câu tử-biệt.

Bà đồ báo tin ông đồ mất cho mấy người em ông đồ và em bà để nhờ

họ đi sắm sửa đồ ma chay.

Bà buồn, nhưng tuân lời ông đồ lúc lâm-chung, bà bình-tĩnh lo việc ma chay. Bà nhờ người này chạy đi khai tử, xin phép làng để động-thổ đào huyệt, nhờ người kia lo mua bán trầu cau rượu gạo cần-thiết cho một nhà

đám. Lại còn việc đặt nhà táng, minh-tinh, lo mua sô gai vải bố để liệm cũng như xé khăn cho con cháu sau khi phát phục.