Làng Xóm Việt NamPart 8

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

phố hàng Mành gồm những gia đình làm nghề tết mành mành.

phố hàng chiếu gồm những gia đình làm nghề bán chiếu và dệt chiếu v.v...

Hà nội, trước thời pháp thuộc có 36 phố phường với 36 nghề.

những phường ở các làng quê cũng không khác gì những phường ở Hà nội, phường vải gồm những người làm nghề dệt vải và bán vải, phường cau gồm những người buôn cau v.v...

Tóm lại, phường là một tập thể, tập thể quy tụ những người cùng nghề.

ngày nay phường được coi như đơn vị hành chính cấp xã, đặt ở nội thị các thành phố và thị xã.

hộI BáCh NghỆ

Tại nhiều xã không có những phường, tuy dân trong xã cũng có người sinh sống về nghề nghiệp khác ngoài nghề nông trang, nhưng số người theo mỗi nghề không bao nhiêu, không đủ họp thành phường.

Không họp thành phường nhưng để tương trợ và dựa dẫm lẫn vào nhau họ thành lập những hội bách nghệ.

hội bách nghệ là bao nhiêu người làm chung một nghề gì hoặc thợ mộc, hoặc thợ nề, hoặc thợ sơn, thợ sắt v.v... Người làm nghề gì vào hội ấy, chọn cử một người làm trưởng hội, hoặc mỗi năm cắt lượt nhau làm trưởng hội một lần để chứa việc hội. (1) những người có chân trong hội bách nghệ cùng nhau liên lạc để thắt chặt thêm tình đồng sự, và nhất là để giúp đỡ lẫn nhau trong các công việc hiếu kỷ. Khi một người trong hội có cha già mẹ héo, hoặc chính bản thân mình hay vợ con qua đời, hội có đồ lễ đến viếng, ngoài ra hội cũng lại đóng góp tiền để

giúp đỡ tang chủ.

Việc vui mừng cũng vậy, hội cũng có đồ mừng trong những dịp cưới xin khao vọng, và tùy theo lệ hội, các hội viên cũng có thể cùng nhau hùn tiền đóng góp giúp đỡ gia chủ.

Thường thường, ngoài những trường hợp tương trợ trên, hội còn có một hình thức giúp vốn cho các hội viên bằng cách lập ra họ mua bán. người mua họ (hụi) được các hội viên mỗi người đóng một số tiền thành một cái vốn. Tiền lời trong việc mua họ

này sung vào vốn công của hội. Khi hội có nhiều vốn, hội có thể cho các hội viên vay nhẹ lãi sinh lời.

1. Phan Kế Bính. - Tài liệu đã dẫn.

Diện hình và Tổ chức

Tiền của hội dùng trong việc hội.

Mỗi năm hội họp tại nhà trưởng hội vào ngày kỵ nhật Thánh sư để cùng làm giỗ Thánh sư rồi cùng nhau ăn uống giống như

giỗ phường.

ngoài ra, khi trong hội có việc gì cần phải hội họp nhau, đều họp ở nhà trưởng hội, và những chi phí hội họp ăn uống này đều lấy vào vốn công của hội.

Hội cũng đặt ra đàn anh đàn em, có người giữ sổ có người giữ tiền để điều khiển và duy trì hội.

Đối với làng xã, trong những kỳ sóc vọng hoặc tế lễ, hội đều có cử đại diện mang đồ lễ tới lễ.

nhiều khi, những hội già, muốn lấy danh tiếng với làng, thường cúng tiền vào đình làng, chùa làng hoặc những đồ tự khí như

hoành phi, câu đối, tàn tán v.v... Hội cúng vào làng thứ gì thì đề tên của hội vào thứ ấy để lấy danh giá với làng. Việc lập hội bách nghệ của dân ta nhắm những mục đích rất đẹp: giữ gìn công việc cho nhau, thắt chặt sự liên lạc tình nghĩa với nhau và nhất là bênh vực và cứu giúp nhau. Qua các mục đích này, ta thấy đây chính là những hội ái hữu của những tầng lớp thợ

thuyền vùng quê.

kết luậN

chúng ta đã duyệt qua các tiểu đơn vị của làng, tuy không phải làng nào cũng đủ những tiểu đơn vị trên. có làng có thôn xóm mà không có ấp, có làng có ấp lại không có thôn. Và phường thì chỉ có ở những làng sống về công nghệ và ở đô thị.

các tiểu đơn vị này, đơn vị nào cũng lo tiến phát trong phạm vi của mình để cùng nhau họp lại gây sức mạnh cho làng.

Diện hình và Tổ chức

pHẦn THỨ HAI

Sinh hoạt

Diện hình và Tổ chức

SiNh hoạt troNg làNg

Như các chương trên đã trình bày, mỗi làng là một đơn vị tự trị trong phạm vi quốc gia. Đối với nhà nước, đơn vị này chỉ cần làm trọn những nhiệm vụ quốc gia ấn định và trao phó cho, phải thu đủ sưu thuế lo đủ tạp dịch và cung cấp đủ binh lính, ngoài ra làng xã có thể tự do xử trí công việc trong làng, nhà nước không can thiệp đến. (1) Việc sinh hoạt trong làng, dân chúng chỉ cần đừng phạm phép nước, còn mọi việc đều do lệ làng chi phối. Đối với những người dân vi phạm phép nước, chính trong làng phải xử trí và phải giải trình lên cấp huyện hoặc tỉnh để trừng phạt nếu là những trọng phạm. Mặc dầu tục ngữ nói rằng phép vua thua lệ làng, nhưng lệ làng cũng không bao giờ đi ngược lại phép vua mà dung túng người làm càn làm bậy. Lệ làng cốt để bênh vực dân làng trong những trường hợp phép vua vì không phù hợp với tục lệ địa phương đã đi ngược lại quyền lợi của dân xã.

nói về sinh hoạt trong làng, phải phân biệt sinh hoạt cộng đồng và sinh hoạt tư nhân. Sinh hoạt cộng đồng gồm tất cả mọi 1. Đào Duy Anh. - Sách đã dẫn.

công việc chung của dân làng, và toàn thể dân làng có quyền tham dự, như tế thần, tiệc làng, tuần phòng trong làng, bầu bán hương chức v.v... còn sinh hoạt tư nhân gồm những hoạt động của từng người, của từng gia đình, và những hoạt động này nhằm mục đích riêng cho một người hoặc một gia đình không liên quan gì tới công việc của làng. Tuy vậy, mỗi người mỗi gia đình, trong mọi hoạt động không thể có những điều gì đi ngược lại lệ làng, đi ngược lại quyền lợi của làng, nghĩa là quyền lợi chung của dân làng.

Thí dụ: Đầu năm, dân làng chưa làm lễ động thổ, không ai được phép đào đất, dù là để an táng một người chết. công việc an táng một người chết thuộc lĩnh vực sinh hoạt của cá nhân, còn lễ động thổ là công việc chung của cả làng và vì lý do tín ngưỡng mọi người phải đợi làng làm lễ động thỏ mới được đào đất.

Một thí dụ thứ hai: Kênh giữ nước là của cả làng, nước trong kênh dùng cho ruộng của toàn xã, kênh chỉ được tháo nước vào ruộng khi toàn xã xét thấy cần, nếu không phải giữ nước kênh để lưu trữ cho cả làng. nay một chủ ruộng không thể vì ruộng của mình bị khô cạn thiếu nước mà tháo nước kênh được, tháo nước như vậy có thể có lợi cho một chủ ruộng, nhưng sẽ có hại cho làng vì kênh sẽ hết nước, khi cần không có, hoặc nước kênh tràn vào sẽ làm hại những khu ruộng đã có đủ nước.

Mọi người làng đều tự do trong việc làm của mình, miễn là việc làm đó không phương hại tới dân làng, không phạm tới lệ

làng và phép nước và cũng không phạm tới thuần phong mỹ

tục của làng.

Xét về sinh hoạt trong làng xã Việt nam, phải đi từ sinh hoạt cá nhân tới sinh hoạt cộng đồng.

Diện hình và Tổ chức

SiNh hoạt Cá NhâN

Mọi người trong làng sống với nhau trong tình tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau khi cần tới, tùy người nào việc nấy và gia đình nào có việc riêng của gia đình nấy.

Trên phương diện công tác hàng ngày, dân làng tùy theo nghề

nghiệp của mình mà hoạt động, giữ lấy nền nếp, lo kế sinh nhai để khỏi phải phiền lụy đến trong họ ngoài làng. người dân quê Việt nam luôn luôn có một tinh thần tự lập và tự trọng, dù phải làm ăn vất vả họ cũng cố gắng, rất ít ai mong ỷ lại vào người khác, họ cho rằng ỷ lại vào người tức là phải nhờ cậy người, và như vậy người khỏe chân khỏe tay không bao giờ muốn. Ở

đây có thể hiểu là lòng tự ái, nhưng chính là tinh thần tự trọng.

Đã đành rằng có một đôi người vì lười biếng hoặc quá chơi bời thường tìm cách lợi dụng lòng tốt của người khác, nhưng không phải là số đông.

Dân trong làng ở một làng canh nông hay ở một làng công nghệ, cũng gồm đủ bốn hạng người, gọi là tứ dân, theo các nghề

nghiệp, là sĩ, nông, công, thương.

Sĩ là hạng người chuyên nghề đi học, hoặc để thi đỗ ra làm quan, hoặc để đi dạy học, làm thầy thuốc, thầy địa lý, thầy bói, thầy tướng, thầy số v.v... là những nghề phong lưu nhàn hạ.

Nông là hạng người chuyên làm ruộng. Dân Việt Nam ta thường thì ai cũng có ít ra là vài ba sào ruộng để cầy cấy nghĩa là nghề làm ruộng là nghề gốc của người mình. Dân ở nhà quê, phần nhiều ăn nhờ về ruộng nương.

Công là hạng người làm nghề thợ hoặc làm một công nghệ

gì để lấy lời. Nhưng vì nước ta khi xưa chỉ có những tiểu công nghệ, như quay tơ, dệt vải, dệt lụa, làm chài lưới, làm mắm muối v.v... chứ không có ai đại công nghệ để làm giàu như các nước khác. Đại công nghệ không có thì ai chuyên tập thể gì thì lập

thành phường như thợ mộc, thợ nề, thợ rèn, thợ đúc, thợ gốm v.v... mỗi phường có thợ cả, thợ phó và thợ, và phường nào có tục lệ riêng của phường ấy. Những người làm nghề thợ thường là người ít học, quanh năm ngày tháng đi làm thuê làm mướn chỉ được đủ ăn mà thôi.

Thương là hạng người làm nghề buôn bán. Song việc buôn bán của ta ngày xưa kém cỏi lắm... Người mình cả đời không đi đến đâu, chỉ quanh quẩn trong nước, buôn bán những hàng hóa lặt vặt...”(1)

Bốn hạng Sĩ, nông, công, Thương trên theo tục ta hạng Sĩ

thường được quý trọng hơn cả, rồi đến hạng nông. Ta có câu: Nhất sĩ nhì nông,

hết gạo chạy rông thì nhất nông nhì sĩ.

để chứng tỏ sự kính trọng đói với hạng sĩ và hạng nông.

người dân trong làng, dù ở hạng nào cũng phải cố gắng về

nghiệp mình, trước là lợi cho bản thân, sau là việc làm của mình sẽ có kết quả đối với làng xã quê hương.

Nay mừng tứ hải đồng xuân,

Tam dương khai thái muôn dân hòa bình Sĩ thời chăm việc học hành,

Một mai khoa bảng để dành công danh.

Công thời phượng các long đình,

Đủ nghề sư khoáng, rứt hành công thâu.

Nông thời cuốc bẫm cày sâu,

Thu hòa, hạ mạch phong thâu có ngày.

Thương thời buôn bán liền tay,

Rứt tài Tử cống ai tầy cho đang!

người dân quê sống ở trong làng, công việc của mình, mình 1. Trần Trọng Kim. - Sách đã dẫn.

Diện hình và Tổ chức

lo, tùy theo nghề nghiệp, có người hành nghề ngay ở trong làng, có người đi các làng lân cận để nhận việc, và có khi để làm việc, ban ngày ra đi, tối lại về làng. những người buôn bán, khi buôn bán ở chợ làng, khi đi chợ các làng lân cận. cũng có người bán những hàng hóa lặt vặt, thường là những phụ nữ, mang hàng bán rong tại các thôn, các xóm ngay trong làng.

Đây là những công việc sinh kế hàng ngày, nhưng trong sinh hoạt của người dân, còn nhiều công việc khác ngoài những công việc sinh kế, như những việc vui mừng, tế tự v.v...

CÔNg VIỆC SINh Kế hàNg Ngày

người dân quê rất hay làm, ham công tiếc việc, sợ phí thì giờ, nhất là khi vì sinh kế, họ lại càng chịu khó, chịu vất vả

dầm mưa dãi gió, cốt sao kiếm được miếng ăn để nuôi gia đình.

Hàng ngày từ sáng sớm, trời vừa rạng đông, tiếng gà gáy còn đang liên tiếp đối đáp với nhau từ sân nhà này sang sân nhà khác, người dân quê đã dậy để lo công việc của mình, tuy sương đêm còn đang xuống, gió đêm chưa bớt lạnh.

Họ dậy, người nào lo việc ấy, nhà nông lo việc nhà nông, người đi chợ lo sửa gánh hàng, người làm thợ lo sắp đồ nghề, và kẻ sĩ cũng lo tới văn bài của mình.

gIA ĐìNh Nhà NÔNg

nhà nông, bà vợ hay cô con gái, trên giường bước xuống đất, lau qua mặt mũi, súc miệng bằng hớp nước lạnh, là vội vàng lo ngay bữa cơm sáng để chồng, anh hoặc cha và các thợ cày, thợ cấy ăn sớm còn ra đồng làm việc. nào lấy gạo, nào vo gạo, nào dóm bếp thổi cơm, nấu thức ăn, tuy thức ăn chỉ đơn sơ rau cà hoặc mắm đậu.

các nông phu sau buổi cơm sáng, ăn rất vội vàng cốt cho no bụng để lấy sức làm việc đến trưa, người dắt trâu vác cày, người

vác cuốc, người mang bừa, mang cào, mang dao, phát bờ, tùy từng công việc mỗi ngày cùng nhau ra đồng. Họ gọi nhau ơi ới. Sự hoạt động ở trong làng bắt đầu ngay từ lúc tinh mơ với tiếng gọi nhau nhà này, tiếng ầm ỹ trong nhà khác. Không phải riêng gì đàn ông, cả đàn bà cũng lo sửa soạn ra đồng sau bữa ăn, với nông cụ, của mình.

Hôm ấy là ngày nhổ mạ ư? các bà các cô mang sẵn quang gánh lạt để sau khi mạ đã nhổ rồi, bó thành từng bó.

Hôm đó là ngày cấy lúa ư? các bà các cô gánh mạ ra đồng.

Hôm ấy là ngày làm cỏ ư? các bà các cô bước ra đi với chiếc cào trên vai.

Hoặc là ngày vãi phân thì các bà các cô gánh những gánh đầy phân tro ra ruộng.

Dù với công việc gì các bà các cô cũng vui vẻ lo việc của mình, mùa nực cũng như mùa rét.

còn đàn ông, công việc đồng áng càng vất vả hơn cầy vỡ

ruộng, phát bờ, đập đất. Lại còn việc tát nước khơi mương.

nhiều khi trong những công việc này có cả phụ nữ cùng làm.

Ra đến cánh đồng nào người, nào vật cùng nhau làm việc không ngớt. người cày ruộng với con trâu cày hết luống này qua luống khác, hết luống cày lại nghe người thợ cày ra hiệu cho con trâu bằng mấy tiếng vắt! vắt! brr!

người không ngại khó nhọc, trâu cũng theo lệnh người làm việc không biết mệt:

Trâu ơi, ta bảo trâu này,

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta, Cấy cày vốn nghiệp nông gia,

Ta đây trâu đấy ai mà quản công.

Bên những người cày ruộng, những người thợ đồng khác làm những công việc khác. Ở thửa ruộng này ba bốn người vừa đàn ông vừa đàn bà đang đập đất bằng những chiếc vồ dài. Ở thửa 138

Diện hình và Tổ chức

ruộng khác, vài ba cô thợ cấy đang cùng nhau lom khom cấy lúa. Không xa, ở một thửa ruộng cao hơn, một đôi trai gái đang dùng chiếc gầu dai tát nước vào ruộng. Ở một thửa ruộng lúa đã cấy rồi, một cô gái làng đang làm cỏ, cô dùng một chiếc cào, cào hết những cỏ dại mọc bên chân lúa. Và ở một thửa ruộng không xa mấy, một chàng trai làng khỏe mạnh đang phát lại bờ

ruộng cho thẳng và làm cho cỏ mọc bên bờ đứt rơi xuống theo những tảng đất... còn nhiều người khác với nhiều công việc khác, người dỡ khoai trên một thửa ruộng màu, người nhổ mạ v.v...

Ai làm việc nấy, chăm chú tận tâm.

Để vui cùng công việc, thỉnh thoảng một chàng trai cất lên một câu hát để ghẹo một cô gái làng, rồi cô gái làng đáp lại.

Thế là có tiếng nói vui vẻ với giọng cười khúc khích của những người làm đồng. công việc với tiếng cười câu hát như trở nên nhẹ nhàng hơn.

Đôi khi trên đường cái quan, đi qua khu ruộng làng, một vài khách bộ hành đang vội vã đi qua. Mấy cô đang cấy lúa, bỗng một cô ngẩng lên thấy vẻ tất bật của khách, liền cất tiếng hát ghẹo: hỡi anh đi đường cái quan,

Dừng chân đứng lại em than vài lời!

Đi đâu vội mấy anh ơi,

Công việc đã có chị tôi ở nhà!

Một người hát, năm bảy người cười và họa theo lời hát ghẹo.

công việc tiến đều mau mắn hơn. có khi, một cô khác hát tiếp cô bạn:

Ma kéo hay là ma lôi,

Mà chàng nỡ bỏ lời tôi chàng về?

người hát, người cười, nhưng không ai ngưng làm việc. Ánh nắng lên cao, gió đồng phe phẩy thổi. Rồi chẳng mấy chốc, với công việc mải mê, mặt trời đã đỉnh đầu.

phải nói thêm rằng, trong lúc làm việc, thỉnh thoảng mấy bác

nông phu cũng ngừng tay lên bờ hút điếu thuốc lào. chiếc điếu kêu giòn tan, các bác rít một hơi dài, rồi thở làn khói như mây cuốn lên trời một cách khoan khoái thích thú. Rồi các bác chiêu hớp nước, xong lại xuống tiếp tục công việc. cũng có bác, hút điếu thuốc xong, say ngất ngư, mắt lờ đờ một vài phút, nhưng hết cơn say, trong người như khỏe khoắn hơn, làm công việc như hăng say thêm, và càng vậy, điếu thuốc lào càng làm cho mọi người quyến luyến:

Nhớ ai như nhớ thuốc lào,

hễ chôn điếu xuống lại đào điếu lên!

các bà các cô cũng nhiều người hút thuốc lào, và cũng có người say thuốc như muốn đến ngã người vào điếu, nhưng các bà các cô ăn trầu nhiều hơn, và các bà già thường nhai trầu thuốc.

Trưa đến, người nhà mang cơm nước ra đồng, mọi người nghỉ

việc lên bờ ăn uống dưới bóng mát một gốc đa, hoặc trong một cầu quán bên đường làng. Ăn uống xong họ nghỉ ngơi một lúc cho tiêu cơm, cho đỡ mệt rồi vào lúc quá ngọ sang mùi, mọi người lại trở lại công việc với sự vui vẻ nhẫn nại, ai nấy đều chắc chắn công việc của mình sẽ đem lại kết quả tốt đẹp. Họ làm việc như buổi sáng, lúc nói bông cười đùa, lúc hát bỡn cợt nhau hoặc ghẹo khách qua đường nhưng công việc luôn tay không ngớt.

Họ làm việc cho đến lúc trời chạng vạng, lúc trên không đàn chim đã tìm đường bay về tổ, và đàn dơi đã từ trong tổ chui ra bay ngang dọc, nhào thấp nhào cao để chao đàn muỗi, bắt đầu đi kiếm ăn với bóng chiều dần xuống.

có thể trên không trung, đàn cò trắng bay hàng chữ nhất buông ra mấy tiếng dài như nhắc cho thợ đồng cuốc cầy công việc nghỉ ngơi.

Mọi người nghỉ việc lững thững ra về, cuốc vác vai, có người con trâu hoặc con bò đi trước, rải rác trên bờ ruộng, trên đường làng. các em bé chăn trâu cũng lùa trâu về, và các cô cắt cỏ

Diện hình và Tổ chức

Gái làng

(Ảnh: Nguyễn Mạnh Đan)

Gánh nước giếng

(Ảnh: Trần Lê Sinh)

Diện hình và Tổ chức

trên bờ đê cũng ngừng liềm xếp lại quanh gánh. Hoặc có cô nào còn tiếc bãi cỏ non, muốn cắt thêm vài nhát để cho gánh cỏ đỡ

bên đầy bên vơi, sẽ có thể có một chàng trai làng làm đồng trở

về chòng ghẹo:

mặt trời đã xế về Tây,

hỡi cô cắt cỏ bên đầy bên vơi,

Cô còn cắt nữa hay thôi,

Để tôi cắt với làm đôi chung tình.

cô vội vã thu xếp gánh cỏ, cô chẳng muốn trùng trình làm gì, vì quả thật mặt trời đã xế hẳn về Tây. có khi cô yên lặng ra về, có khi cô ghét anh chàng trai kẻ bưởi vơ vào, cô hát đáp một đôi câu giọng kiêu kỳ chanh chua:

Trầu vàng còn ở trên cơi,

Anh kia đũa mốc chớ chòi mâm son.

Lại một tràng cười của những người cùng đi làm đồng về

khiến cho chàng trai đâm mắc cỡ.

Ở ngoài đồng về, lùa trâu vào chuồng, cất các nông cụ, mọi người đi rửa qua chân tay ở cầu ao rồi đi ăn bữa cơm tối dưới bóng một ngọn đèn lù mù.

Bữa cơm cũng thanh đạm rau dưa cà muối, nhưng vì làm việc nhiều, đói, cơm ăn thật ngon, tưởng chừng cao lương mỹ vị cũng không bằng. cơm dẻo lại nóng, ăn vừa chín tới, đây chính cái ngon của bữa ăn vậy.

cơm nước xong, ngày tuy đã tàn, nhưng công việc còn chưa hết. ngày có công việc của ban ngày, tối có công việc của buổi tối, đàn ông, đàn bà, con trai, con gái người nào việc nấy.

người lo xay lúa giã gạo, người sàng, người sẩy, và nếu trong ngày mùa, lúa gặt về ban ngày, ban đêm phải đập lúa, quạt lúa để ngày hôm sau phơi phóng.

Đêm khuya tiếng xay lúa ù ù, hoặc tiếng chày giã gạo thình thịch vang động trong yên lặng tịch mịch, chứng tỏ sức sống

của dân làng dồi dào và sự sinh hoạt của dân làng liên tục từ

ngày này qua đêm khác.

Trong công việc đập lúa, trai gái thợ đồng trong làng lại gặp gỡ nhau. Đây là những buổi vừa làm vừa vui, tuy vất vả, nhưng mau lẹ bởi những câu chuyện trao đổi giữa trai gái làng, bởi những câu hát tặng nhau hoặc chòng ghẹo nhau. Và những câu chuyện bông lông trong công việc, thường khởi đầu cho những cuộc nhân duyên bách niên giai lão.

ngoài những người làm việc ở trong nhà trong sân, tuy đêm hôm, vẫn còn những người làm việc ở ngoài đồng. Đó là những người đi tát nước đêm để có nước hôm sau cày ruộng cấy lúa.

Lại có những người đánh dậm giương vó, đánh cá bì bõm ở

ngoài đồng cùng với những người cầm đuốc đi soi ếch.

Mọi người đều làm việc, công việc chỉ ngừng lúc trời đã thật khuya.

nói đến công việc nhà nông, nhưng chỉ nói tới những người làm ruộng, cấy lúa. phải kể là nhà nông, cả những người trồng dâu chăn tằm, ươm tơ kéo kén, mà công việc phần lớn do các bà các cô đảm nhiệm cũng rất vất vả, có phần nặng nhọc hơn cả những người làm ruộng.

công việc nhà nông vất vả, nhưng công việc cảu thợ thuyền, của những người buôn bán, sống theo nếp sống trong làng, họ

cũng chẳng nhàn nhã hơn gì những người theo nghiệp canh nông.

gIA ĐìNh Thợ ThuyềN

người làm thợ, sáng dậy phải sửa soạn đồ nghề, lo bữa cơm sáng rồi đi nhận công việc để làm suốt ngày. có khi họ phải dậy sớm hơn nhà nông, vì công việc họ nhận được không phải ở ngay trong làng, mà ở làng bên cạnh, cách xa làng mình ít nhất cũng vài ba cây số, có khi còn xa hơn nữa, năm sáu cây số là thường.

Diện hình và Tổ chức

những người thợ bạn phải đến nhà ông phó cả, nghĩa là người đứng đại diện cả bọn thợ nhận công việc để cả bọn cùng làm; ông phó cả cũng phải dậy sớm, ăn uống rồi chờ các thợ bạn tới để cùng đi làm việc, và công việc tính ngày tính buổi, phải đến nhà chủ sớm.

Họ cũng làm việc suốt ngày, tùy theo nghề, ở trong nhà hoặc ở ngoài trời. Thợ mộc làm nhà làm cửa đóng đồ đạc có thể làm việc ở trong nhà, thợ nề xây, tùy theo việc làm, phải làm việc ở

trong nhà hoặc ở ngoài trời. Thợ đấu, đào móng, đào ao thường làm việc ngoài trời.

Mỗi bọn thợ thường có một hoặc nhiều phó nhỏ, tức là những trẻ em đang tập việc học nghề.

Bọn thợ làm việc tại các nhà chủ, làm từ sáng tới trưa, thường công việc bắt đầu rất sớm, trưa nghỉ một lúc để ăn cơm, cơm do nhà chủ phải chịu. cơm nước xong cũng có nghỉ ngơi, nhưng thời gian nghỉ chẳng bao lâu họ lại phải tiếp tục công việc cho đến chiều. Thường họ chỉ nghỉ buổi chiều vào lúc mặt trời đã lặn, nghĩa là không còn đủ ánh sáng để họ làm việc. cơm chiều cũng do nhà chủ cung cấp. cơm nước xong, họ sửa soạn đồ đạc để trở lại nhà. như vậy về đến nhà thường cũng đã rất muộn.

Qua ao làng, có khi họ lội xuống tắm rửa.

Về nhà, xếp lại đồ nghề, họ xoay vào công việc trong nhà, giúp đỡ vợ con, hoặc xay thóc giã gạo, hoặc làm những công việc khác, nhưng thường thì cũng rất khuya họ mới đi ngủ.

Trên là những bọn thợ làm việc ăn công ngày, nhà chủ trả

công tùy theo loại thợ, và mỗi nghề nghiệp giá biểu cũng thay đổi từ ông phó cả đến người thợ bạn. Thường các phó nhỏ chỉ

làm việc cơm không.

Đừng ai nghĩ rằng đấy là họ bóc lột sức lao động vì bọn thợ

phải làm việc quá nhiều. Ở nhà quê không ai bóc lột ai, có làm

thì mới có ăn, và đất lề quê thói là như vậy. nhà chủ có công việc, bọn thợ cần việc làm, đôi bên thuận với nhau thì nhà chủ

trao việc và bọn thợ nhận việc, đôi bên không thuận, không ai bó buộc ai. Đây chỉ là sự thuận tình của mọi người trong nếp sống hòa đồng từ nghìn xưa của người Việt nam.

ngoài những trường hợp làm việc ăn công ngày, lại có những công việc làm khoán, có khi vì người chủ sợ làm công ngày, thợ

thuyền kéo dài công việc, sáng rửa cưa trưa mài đục, hết ngày hết giờ tốn kém nên thuê khoán, hoặc có khi vì người phó cả

muốn làm công việc cho mau xong, và công xá dứt khoát để tiện tìm thợ bạn, không muốn làm công ngày, chỉ nhận làm khoán.

Làm khoán, nhà chủ không phải lo cơm nước cho thợ thuyền; đi làm việc bọn thợ phải mang theo cả bữa ăn thường là bữa ăn trưa. Và làm việc họ cũng rất ít nghỉ ngơi, kể cả buổi trưa, họ cố

gắng làm cho công việc mau xong để còn nhận công việc khác.

Đi làm khoán như vậy, buổi chiều họ chỉ nghỉ việc vào lúc thật không thể làm việc được nữa, và lúc trở về nhà thường muộn hơn là những bọn thợ làm ăn công ngày.

Về nhà họ mới ăn cơm bữa tối.

Tiền nong công xá đều trích trong món tiền nhà chủ trả khoán cho phó cả. Thường lúc mới bắt đầu làm việc, người phó cả được nhà chủ cho vay trước một món tiền. Món tiền này, người phó cả

chia cho các thợ bạn mỗi người vay ít nhiều. Và khi công việc làm xong, nhà chủ trả nốt tiền, người phó cả lại chia cho các thợ bạn. Tiền chia cho các thợ bạn, tùy theo công việc của mọi người, và thường có sự thỏa thuận trước giữa thợ bạn với phó cả.

cũng có khi phó cả nhận khoán công việc, nhưng lại trả công ngày cho các thợ bạn, tiền công thường cao hơn khi ăn công ngày thẳng với người chủ có công việc. Trong trường hợp người phó cả trả công ngày cho thợ bạn, người phó cả thường phải lo bữa ăn trưa cho họ, còn bữa ăn chiều được tính gộp cả vào tiền công.

Diện hình và Tổ chức

Dù làm khoán hay ăn công ngày, người thợ vùng quê bao giờ cũng làm tận tâm và kỹ lưỡng như nhau, ít khi có sự dối trá trong công việc. Họ cần phải giữ lấy tín nhiệm, vì thường công việc chỉ nhận ở trong làng hoặc các làng lân cận, nếu người thợ

nào làm ăn không đứng đắn, cả vùng sẽ biết, và như vậy sẽ rất khó làm ăn, bởi lẽ không ai muốn mượn người thiếu cẩn thận.

Và đã làm việc là phải vất vả, làm khoán hay làm ăn công ngày cũng vậy. chính sự vất vả này nó điều hành nếp sống hàng ngày của người dân quê. Ở nhà quê ít ai ăn không ngồi rồi. những người ăn không ngồi rồi chỉ là những người không có nghề nghiệp, và như vậy thường bị dân làng coi là làm biếng, và nhìn bằng một con mắt rất ít thiện cảm.

ngoài những bọn thợ đi nhận việc làm, còn những thợ làm việc ngay tại nhà, hoặc mở một cửa hàng ở một nơi nhất định.

ngoài thợ rèn mở lò rèn ở quán đầu làng hay ở một gian lều chợ làng, sáng ngày phải dậy sớm ra nhóm lò thổi bễ; một vài người thợ kim hoàn trong vùng mở ngôi hàng hàng bạc ở ngay trong làng, người làng cũng như dân chúng các làng xã quanh vùng tới đánh đồ trang sức; một vài người thợ may mở những tiệm may nho nhỏ. Thợ may cũng có người mang kim mang kéo tới khâu vá tại các nhà trong làng. Đó là những người thợ

kém dồi dào về mặt tiền nong, không thể có được một cửa hàng, không có nổi một máy khâu, phải khâu tay, đi nhận việc khâu.

Thường thợ thuyền phần nhiều là đàn ông, duy chỉ có thợ

may, có một thiểu số là phụ nữ, và thiểu số này thường đi nhận việc khâu tại ngay trong xã.

ngoài các nghề với các thợ thuyền nói trên, cũng còn nhiều nghề khác như thợ nhuộm, thợ đóng cối v.v... những thợ này thường làm việc ở nhà như thợ nhuộm thợ thêu, hoặc đi tới các nhà để làm việc như thợ đóng cối, thợ hàn.

Trong lúc người thợ làm việc của nghề nghiệp, thường có khi vợ con phụ, hoặc vợ con lại làm công việc khác.

Việc làm ăn thật là đầu tắt mặt tối, nhưng nhất nghệ tinh, nhất thân vinh, dù không sung túc cũng không phải sở cậy tới người khác.

nếu giá trị con người ở chỗ biết tự trọng, người dân quê Việt nam bao giờ cũng là những người biết giữ giá trị của mình, lo làm lo ăn để khỏi là một ký sinh trùng ăn bám vào xã hội.

Gia đình thợ thuyền so với gia đình nông dân, sự vất vả cũng tương đương, và tùy nghề, có người dư dật và có người quanh năm chỉ đủ ăn và đủ đóng góp với dân làng để dự phần vào những cuộc sinh hoạt chung của làng.

gIA ĐìNh BuÔN BáN

Đúng như nhận xét của sử gia Trần Trọng Kim, việc buôn bán của ta xưa kia kém cỏi lắm... Nếu nói rằng sự buôn bán lớn không có ở người Việt Nam thời trước, cũng không phải là nói sai. Ta vẫn hằng nói “phi thương bất phú”, nhưng trên thực tế, những doanh thương lớn tại nước ta trước đây đều là người ngoại quốc, nhất là người Trung hoa, còn người Việt Nam ta chỉ buôn bán quanh quẩn, và người nào có một vài chiếc thuyền mua hàng nơi này bán nơi khác đã được coi là hạng thương gia đáng kể rồi, và số người này tại các làng cũng chẳng bao nhiêu.

Việc buôn bán của ta kém cỏi vì người mình cả đời không đi đến đấu, chỉ quanh quẩn ở trong nước, buôn bán những hàng hóa lặt vặt. (1) Gia dĩ, phần lớn, việc buôn bán ta lại chỉ giao cho đàn bà, khác hẳn ngày nay, đã nhiều đàn ông nắm lấy thương trường để cạnh tranh với ngoại kiều.