Làng Xóm Việt NamPart 17

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Trên đây là mấy đám rước cử hành giữa các xã có giao hiếu với nhau. Đây chỉ là mấy thí dụ đơn cử ra. Thực ra, về các xã giao hiếu với nhau có rất nhiều, và những đám rước chung hoặc riêng ở các địa phương không phải ít. có khi cả một tổng cùng đi rước như tại phủ Giây, huyện Vụ Bản tỉnh nam Định (Hà nam ninh), nơi xã Bảo ngũ, có đền thờ Liễu Hạnh công chúa, đám rước cả

tổng cử hành, hoặc như tại Trường Yên, Yên Mô, ninh Bình (Hà nam ninh) đám rước vua Đinh Tiên Hoàng có rất nhiều xã dự v.v...

TươNg TRợ, TươNg ứNg gIữA CáC Xã gIAo hIếu các xã giao hiếu thường coi nhau như xã anh em do đó mối liên lạc giữa các xã rất mật thiết, không kể sự liên lạc về tế tự

như đã nói ở chương này.

các xã thường giúp đỡ nhau trong những cơn hoạn nạn, chia vui sẻ buồn cùng nhau. Khi đàn anh một xã qua đời, các xã kia đều có đồ phúng viếng, khi một xã có giặc cướp, các xã khác tự động tiếp ứng.

Khi hai xã giao hiếu giáp ranh nhau cùng chung một cánh đồng, tuần đinh thường canh giúp cả những ruộng lúa của xã kia ở gần địa giới xã mình. chẳng may một xã gặp thiên tai lụt lội, các xã khác sẽ giúp đỡ về mặt vật chất bằng cách cho vay lúa giống hoặc quyền đê cứu trợ.

Trong tục giao hiếu của các xã, nhiều khi có những tục rất lạ lùng, nhất là khi sự giao hiếu này lại cấu kết bởi ân huệ của xã nọ đối với xã kia. Trong trường hợp này, khi xã thi ân có hội làng, xã thụ ân thường có đồ lễ tới lễ thần, và những ngày Tết nhất, các xã đàn em cũng như các xã thụ ân thường cử một phái đoàn gồm một số bô lão quan viên tới lễ Tết và chúc Tết lại xã đàn anh hoặc xã thi ân.

Dân hai xã phú Đa và Trinh nữ, phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương (Hải Hưng), vì giao hiếu với nhau, nên trai gái hai làng không được lấy lẫn nhau.

Tục giao hiếu giữa các làng với tinh thần tương thân tương trợ, kể ra thực đáng duy trì, vì đây chính là sức mạnh của các làng quê nói lên sự đoàn kết giữa những xã anh em.

các làng đã giao hiếu với nhau phải chú trọng tới sự tế tự

và những sự liên lạc trong những kỳ đình đám hội hè. phải tôn trọng tục lệ của nhau, và nhất là phải giữ lễ với nhau. Làng này làng khác phải coi trọng đình đám hội hè của nhau và phải giữ

phần gánh vác của mình trong những kỳ đình đám chung.

Và không bao giờ xã nào được bỏ đám rước đánh giải khi làng vào đám đối với xã anh em. chính đám rước này đã củng cố tình giao hữu giữa những làng lân cận.

mấy hội làNg với vài Nét ĐặC biệt

Của PhoNg tụC Địa PhươNg

ngoài những điểm chung của nghi lễ, mỗi hội làng có những 284

Diện hình và Tổ chức

đặc điểm riêng của phong tục, và chính những đặc điểm riêng này biểu lộ qua các trò vui đã kéo khách thập phương tới xem hội.

Địa phương nào có tục lệ riêng của địa phương ấy, và mỗi trò vui lại có một khía cạnh, và đã tìm hiểu văn hóa của dân tộc không thể bỏ qua những khía cạnh này, hay dở tùy nhãn quan của từng người.

Kể ra, nếu nói về hết mọi hội, tất nhiên không thể gói ghém riêng trong mấy trang giấy được, nhất là khi người ta định tìm hiểu kỹ càng các thần tích với những trò diễn lại. Ở đây tôi không mang hoài bão nêu lên các hèm của chư thần, nhưng tôi muốn mượn những điều đã được một số các nhà văn trình bày qua sự sưu tầm để cống hiến bạn đọc một đôi nét độc đáo của phong tục Việt nam, những nét độc đáo này vì thời cuộc, vì mọi biến chuyển của đất nước đã mất đi nhiều, và có lẽ ngày nay chỉ còn là những dư vang.

các tục lệ của ta rất nhiều, nói hết không sao xuể trong phạm vi một chương sách. Tôi chỉ xin trích lại vài bốn bài để bạn đọc có ý nhiệm về những hội hè địa phương từ Bắc chí nam với những trò vui đặc biệt. ngoài những bài này, muốn tìm hiểu nhiều hơn, rất mong bạn đọc sẽ tìm kiếm trong những sách khác nói về phong tục Việt nam với hội hè đình đám.

có lẽ bạn đọc sẽ thấy là quá ít với bốn hội làng được trình bày sau đây, nhưng tôi tin rằng qua các hội này, các bạn cũng đã có một ý niệm về những tục lệ địa phương.

TụC ThI Thả DIều Và ThI ChọI DIều hàNg NăM CủA DâN ChúNg TổNg hà NAM (QuảNg NINh)

Trong các thú chơi ở đồng quê Việt nam có thể nói chơi diều là một thú chơi phổ thông nhất. phổ thông nhưng không phải là thiếu cầu kỳ. Vì có thấy tận mắt một người cặm cụi làm diều, ta mới rõ rằng thú chơi diều quả là đòi hỏi cũng lắm công phu,

không kém gì những thú chơi khác ở đồng quê như cây cảnh, chim cu, chim yến, chọi gà v.v...

nhưng nếu bảo rằng thú chơi diều biến trở thành tục lệ hẳn hoi thì quả thật không đâu bằng ở tổng Hà nam, tỉnh Quảng Yên (Quảng ninh), Bắc Việt(1) Tục lệ thả diều thi tại đây đã có từ lâu, đời này truyền lại cho đời khác, và nó đã nghiễm nhiên trở thành một tập tục không thể thiếu sót hàng năm của người dân trong vùng.

Tổng Hà nam vốn là một cù lao chung quanh toàn biển cả vây bọc. chung quanh tổng Hà nam có đắp một con đê để ngăn nước biển khỏi tràn vào. Ruộng ở đây phần đông toàn ruộng nước mênh mông. Lúa mọc rất cao. có khi từ thân cây lúa tới mặt nước đo được tới tám mươi phân hay hơn nữa. cây lúa mập và khỏe khác hẳn các cây lúa ở vùng khác. Từ thị xã Quảng Yên tới, người ta có thể đi đò len lách qua các ruộng lúa. Hoặc nếu dùng đường bộ thì có một con đường đất đỏ ở sát chân đê, sau khi đã đi phà từ bên tỉnh vượt qua một vùng biển nhỏ để tới tận chân đê bao quanh tổng Hà nam. chính con đường đất đỏ trên dẫn tới một ngôi chùa giữa cánh đồng, nơi có sẵn bãi đất rộng dùng để tổ chức cuộc thi thả diều hàng năm của toàn dân trong vùng.

ngôi chùa giữa đồng này ở cách làng Hải Yên và làng phong cốc cũng không xa, chỉ khoảng hơn một cây số. Vào những hôm rằm hay mồng một, thiện nam tín nữ trong vùng đi lễ chùa đông lắm. Trước kia chùa bị hư nát, tượng phật xấu xí sau được một nhà hằng tâm hăng sản bỏ tiền ra trùng tu lại, đúc thêm chuông tạc thêm tượng, ngôi chùa trở nên phong quang mỹ thuật nhiều.

Theo tục lệ hàng năm do người xưa lưu truyền lại, cứ đến ngày mùng tám tháng tư âm lịch, ngày phật đản, công việc lễ

1. Sự thật tục lệ thả diều có ở rất nhiều nơi, thí dụ như ở Vũ Dương, Bắc Ninh.

Xin xem bài Chơi diều trong Phong lưu đồng ruộng của soạn giả T.A.

Diện hình và Tổ chức

bái xong xuôi là toàn thể tổng Hà nam cùng bàn tính đến việc thi thả diều. ngày thì luôn luôn là ngày rằm tháng tư âm lịch.

Theo sự tin tưởng của mọi người, năm nào cuộc thi thả diều vào hôm rằm tháng tư được tốt đẹp, nghĩa là trời quang mây tạnh, trăng sáng vằng vặc, tức là năm ấy mùa màng sẽ được tốt tươi, dân tổng no ấm không phải lo sợ nạn đói kém.

các vị chức sắc kỳ mục trong toàn tổng Hà nam họp nhau tại đình làng phong cốc, một ngôi nhà lớn nhất tống để bàn bạc mọi việc tổ chức cuộc thi thả diều. Tiếp theo, mõ làng được lệnh đi rao cho tất cả mọi người đều hay để ai nấy kịp sửa soạn con diều của mình. có nhiều ông mê diều cố tìm cách sáng tạo nên những chiếc diều thật đẹp, những chiếc sáo thật hay để đem thi.

Lệ thi là phải thả loại diều cánh cung và phải diều lớn ít nhất từ hai thước tây chiều ngang trở lên.

các thứ diều trẻ con chơi không được dự thi. Diều bé dễ lên hơn diều lớn. công việc làm một chiếc diều lớn mất lắm công phu, chẳng phải bất cứ ai cũng làm được.

Trước hết muốn cho con diều sau này sẽ bay cao bay bổng người ta phải biết chọn tre. Tre càng già, càng nhẹ, con diều càng dễ lên cao. Tre già uốn diều cũng dễ, hai cánh diều sẽ cân và đều hơn.

nếu làm diều cho trẻ con chơi cầu kỳ một phần thì ngược lại vót diều cho người lớn đem đi thi cầu kỳ gấp cả ngàn lần. người ta phải nắn vuốt làm sao cho hai đầu cánh diều thật thuôn thật đều nhau, không bên nào được nặng hơn bên nào dù chỉ một li.

Ở giữa cánh diều, người ta buộc một sợi dây treo lên xà nhà, hai đầu cứ ngang bằng như cán cân thì mới được gọi là trúng.

Khi lắp thành khung diều rồi công việc cũng cầu kỳ không kém. Sợi dây chăng ở khung diều cũng bắt buộc phải được đo được kỹ lưỡng, để khi phất giấy lên chỗ nào cũng như chỗ nào, không có ô lớn ô nhỏ. những con diều lớn có khi dài tới năm

sáu thước tây rộng với hai thước rưỡi hay ba thước là thường.

Bởi vậy người ta không thể phất cánh diều bằng giấy được, mà phải dùng vải thay thế. Bên ngoài lớp vải người lại còn cẩn thận phất thêm một lần cậy hoặc một lần sơn để diều có thể chịu đựng được mưa nắng lâu ngày không bị hư mục. nguyên do, có khi con diều được thả bay trên trời hàng tháng hoặc suốt cả

mùa chơi, cho tới sang thu mới kéo xuống.

Khoản dây diều cũng hết sức quan trọng. Thời xưa người ta có thói quen làm dây diều bằng tre. Loại tre để vót dây diều cũng được chọn lựa kỹ lắm. Tre phải là thứ tre mảnh cật, giống tre thẳng và đốt không bị cháy hay sâu mọt đục khoét. Hơn nữa, cây tre dùng để làm dây diều phải là cây tre già vì tre non không được bền dai mấy. người ta chẻ cây tre thành từng mảnh dài suốt dọc từ gốc đến ngọn. Sau đó, mới lấy dao nhỏ ngồi vót cho thật đều và nhẵn. Một cây tre vót làm dây diều giỏi lắm chỉ được chừng hai ba trăm thước là nhiều. Muốn diều lên cao hơn phải vót thêm. những sợi dây tre đó được nối lại với nhau và đó chính là một công trình tỉ mỉ. Khi tre đã vót xong, nhất là tre già thường giòn và dễ gẫy nên không thể nối ngay vào nhau được. Mà nếu cứ để y nguyên như thế đem thả diều, thì chắc chắn chỉ vài cái vặn, diều chao lên chao xuống vài lần, là đứt. cho nên người ta phải tìm cách làm cho dây mất tính chất giòn đi. người ta bỏ dây tre vào một chiếc nồi lớn đem luộc.

có người cho muối vào luộc, có người lại gia giảm thêm vài vị

thuốc bắc để dây tre không những mềm mại mà còn kỵ được mọt nữa. Dây diều hết năm này qua năm khác vẫn lại dùng được khỏi cần phải làm dây mới. nội công việc luộc dây cũng mất ít nhất là nửa ngày. có người luộc kỹ gần suốt ngày nhưng đó là tùy theo độ già của cây tre. công việc chế tạo dây diều tuy có mất nhiều thì giờ thật đấy, nhưng khi mang ra dùng nó sẽ có nhiều lợi. Thứ nhất là không sợ đứt, thứ hai là nó rất nhẹ, diều 288

Diện hình và Tổ chức

thả lên không sợ bị võng dây v.v... Ấy là chưa kể dùng dây tre thật rẻ tiền vì ở nhà quê tre không thiếu.

con diều đã làm xong rồi, dây diều cũng đầy đủ rồi, ta có thể mang diều ra thả được ngay, không sao cả. nhưng nếu có một chiếc diều đẹp thả lên cao như vậy mà không có tiếng sáo kèm theo thì có khác nào như một giai nhân xinh đẹp mà lại mắc tật... câm? Không được. như thế không ai có thể chấp nhận được. Đã gọi là diều thì phải có sáo. Mà một khi con diều càng đẹp bao nhiêu, bay bổng bay cao bao nhiêu, thì nó lại càng cần phải có một bộ Sáo xứng đôi vừa lứa bấy nhiêu.

nói như thế có nghĩa là không phải là bạ sáo nào cũng cứ lắp vào diều được đâu. Sáo là những ống tre to nhỏ được gọt giũa kỹ lưỡng, hai đầu có gắn hai cái “miệng sáo” trông tựa hồ như

miệng cái nhạc ngựa để khi gió thổi vào thì sẽ phát ra tiếng kêu vi vu trầm bổng...

Muốn làm sáo diều, ống tre phải chọn ở những thân tre già, còn hai miệng sáo thì dùng thứ gỗ mỏ. Sở dĩ cầu kỳ như thế vì tre già gỗ mỏ vốn chịu đựng được mưa nắng, không sợ bị co dãn hay sứt mẻ. Muốn sáo kêu hay, sau khi lựa được ống tre rồi người ta phải gọt bớt lớp áo bên ngoài rồi dùng lưỡi dao nhỏ để

nạo ruột bên trong cho mỏng đi. có như thế tiếng sáo mới kêu lớn và thanh. chính giữa ống sáo người ta đục một lỗ để luồn cọc sáo rồi gắn lại cho thật kín để giữ gió sáo mới kêu vang.

nghệ thuật khoét miệng sáo càng khó khăn hơn, vì phải tính toán làm sao cho miệng sáo hút lấy gió và thổi vào trong lòng sáo, ngõ hầu tạo nên âm thanh theo đúng ý muốn của mình.

Miệng sáo nhỏ và dài, lòng sáo hút nhiều gió sẽ rít lên, miệng sáo khoét rộng và có hình vành cung thì gió sẽ thi nhau hút vào hết đợt nọ đến đợt kia, tạo thành những tiếng ngân dài êm ả...

những người sành chơi diều sáo khi xưa đã từng phân biệt được ra bốn loại âm thanh của sáo: chim, còi, đẩu và cồng. Sáo

chim người ta không buộc vào diều thả lên mà buộc vào chim bồ câu để thả thi trong những ngày hội hè. Thứ sáo này chỉ có một đầu, còn sáo buộc vào diều thì luôn luôn có hai đầu. Sáo còi thì có tiếng kêu the thé và kéo dài. Sáo đẩu phát tiếng kêu ngân nga vo vo và đều đều. Tiếng sáo cồng lớn nhất, mạnh mẽ

nhất, y hệt tiếng chiêng rền vang trong chốn ba quân vậy. Giới sành điệu thường nói “diều nào sáo nấy” không thể lẫn lộn được.

chẳng hạn như một chiếc diều khi đâm lên nhanh vun vút, thỉnh thoảng đảo ngang vài cái thật mạnh gọi là diều cánh cắt, luôn luôn đổi dây có khi kéo cả người theo. những luồng gió mạnh đối với loại diều này không ăn thua gì. Đó là loại diều phải lắp sáo còi, có khi lắp hai ba chiếc cũng được, để nó rít lên từng hồi inh ỏi. Diều càng no gió, sáo còi càng rít khỏe. Một chiếc diều có đeo loại sáo đẩu phải là chiếc diều khi đâm lên thì bốc một cách từ từ, ung dung, không có vẻ gì sôi nổi. nếu gặp lúc gió mạnh, nó hơi ngất ngây một chút như cốt làm duyên với đám người bên dưới chiêm ngưỡng nó. Lúc đó, đám người sẽ được thưởng thức tiếng sáo đẩu ngân nga thật dịu dàng nghe như tiếng ru con của một bà mẹ hiền trong những buổi trưa hè oi ả vậy.

nếu chiếc diều đó mà đeo bộ sáo còi vào thì thật không gì vô duyên bằng, vì có khi sáo câm tịt không ra tiếng, có khi phát ra những âm thanh ngập ngà ngập ngừng như một anh ngọng.

Riêng sáo cồng chuyên để ráp vào những con diều thật lớn. Diều nhỏ không thể đủ sức mang nổi nó.

Lẽ đương nhiên tất cả những người dân trong tổng Hà nam đều sành sỏi chơi diều sáo hơn ai hết. ngay mấy bữa trước ngày thi chính thức, người ta đã nô nức mang diều ra bãi đất cạnh ngôi chùa giữa đồng để thả thử, xem có gì khiếm khuyết thì sẽ

kịp thời sửa chữa. Bãi đất này là bãi đất công cộng, thường ngày trẻ chăn trâu tụ họp ở đây để chơi đùa trong lúc trâu bò gậm cỏ.

Trên khắp bãi đất cũng như chung quanh đó rất xa không hề có 290

Diện hình và Tổ chức

cây cối vướng víu, do đó là một nơi thả diều thật lý tưởng. Tuy nhiên, trước hôm thi người ta cũng cho dọn dẹp bãi đất cho được sạch sẽ quang quẻ hơn, và cấm không cho chăn trâu ở đó nữa.

Theo tục lệ của tổng Hà nam, ngày thi thả diều hàng năm cũng là một ngày lễ thánh để cầu khẩn đấng thiêng liêng phù hộ cho mùa màng của dân chúng toàn tổng được tốt tươi.

Sáng sớm ngày rằm tháng Tư âm lịch, theo chương trình đã dự định từ trước, các vị bô lão đại diện cho tất cả các làng trong tổng Hà nam kéo đến chùa cúng tế rất long trọng. chính buổi sáng hôm đó người ta mới lập danh sách những người có điều muốn được dự thi. Muốn dự thi không khó khăn gì, chỉ việc tới nói với vị chánh tế. Sau khi cuộc tế chấm dứt thì ông chánh tế

lo việc kê tên những người dự thi diều vào một cuốn sổ.

Thí sinh không phải mất một khoản lệ phí nào, chỉ phải tuân theo một điều lệ bắt buộc là mang diều dự thi của mình đến để

trình diện. Ông chánh tế điền tên thí sinh vào sổ xong, sẽ viết mấy chữ nho lên trên cánh diều của người đó. Viết bằng sơn để

khỏi bị mờ. có nhiều chiếc diều đã dự thi năm bảy phen, nét bút sơn ghi thành từng dãy dài, và đó chính là niềm hân hoan kiêu hãnh của người chủ diều. Lệ định chung là tới chính ngọ

ngày hôm ấy thì khóa sổ, những ai chưa kịp ghi tên phải đợi đến sang năm dự thi vậy.

Tới khoảng bốn giờ chiều khi trời đã nhạt nắng các tay đua bắt đầu đem diều ra bãi. năm nào cuộc thi thả diều cũng thu hút được rất nhiều khán giả tới xem. nhất là trẻ con thì đông vô kể. chúng cũng mang theo những chiếc diều tí hon ra và tổ

chức thi riêng với nhau như người lớn, tạo nên một khung cảnh ồn ào nhộn nhịp hiếm có.

Khi số diều dự thi đã hiện diện đầy đủ, người ta bắt đầu so sánh bàn tán xem cái nào hay cái nào dở. cuộc bàn cãi thật ồn ào gay cấn.

Tới đúng năm giờ chiều cuộc thi bắt đầu. Ông chánh tế ban sáng lần lượt phát số cho từng chiếc diều tùy theo số dự thi nhiều ít mà ông sắp đặt. chẳng hạn năm nay có hai chục diều dự

thi, thì ông sẽ chia làm bốn chuyến, mỗi chuyến thi năm chiếc diều. Không bao giờ được quá con số năm cánh diều đâm lên trong cùng một chuyến, bởi lẽ nếu nhiều quá thì các giám khảo sẽ khó nhận xét. Trong khi một chuyến diều sắp sửa được đâm lên, có một người đàn ông lực lưỡng, tay cầm nhăm nhăm cái câu liêm, cặp mắt hau hau nhìn... Đó là nhân vật chuyên môn...

cắt dây diều. những chiếc diều dự thi khi đâm lên mà đảo lên đảo xuống hoặc quay tít... sẽ bị vị hung thần câu liêm kia cắt đứt dây ngay lập tức. chính vì lẽ đó mà điều lệ thả diều đã cấm ngặt các chủ diều không được cột diều bằng dây thép hoặc dây kim khí. Một đôi khi những gã lưu manh ăn tiền của một người dự thi nào đó giả bộ lân la xán đến xem diều của kẻ khác rồi rình lúc người ta sơ ý, kéo lệch dây lèo đi một tí, thế là xong.

Dây lèo đã lệch thì lúc đâm lên diều không cân sẽ đảo ngang, đảo ngửa vị hung thần sẽ được dịp vung câu liêm ra để thi hành cái bổn phận kiểm soát của mình.

Vậy thì, giờ phút nghiêm trọng đã tới. năm người năm diều đứng cách nhau đúng mười thước tây. Họ cùng giơ cao con diều của mình lên, và phía trước mặt đàng xa thì người kéo diều, cách khoảng năm chục thước. Diều thi cỡ lớn phải dài dây như thế mới lên được. Dây ngắn quá không đủ sức cho nó bốc. nếu làm diều khoét sáo là một nghệ thuật thì khi đâm diều và kéo diều lại là một nghệ thuật khác nữa. Thật thế, muốn thả diều cho bốc phải biết lựa cơn gió. Gió mạnh thì đâm làm sao, gió nhẹ phải đâm cách nào... nếu áp dụng đúng phương pháp diều sẽ bốc thật mau thật thẳng. Bằng không thì sẽ nhiều chuyện lôi thôi lắm. Khi diều đã lên hết cả rồi và không có chuyện gì xảy ra nữa, các chủ diều phải từ từ nhử để đưa diều về một điểm ấn định trước rồi đóng 292

Diện hình và Tổ chức

cọc buộc đấy đợi cho tất cả diều dự thi bay lên hết rồi mới chấm điểm. Ban giám khảo sẽ căn cứ vào lúc diều mới thoạt đâm lên, xem cách diều bay có thẳng hàng không, có thường bị chao qua chao lại không v.v... những diều thi tuy không bị câu liêm cắt đứt từ lúc đầu nhưng khi lên cao rồi mà cứ đảo ngang đảo dọc thì coi như hỏng. chủ diều phải mau mau kéo xuống. cuối cùng ban giám khảo đồng ý chỉ để lại ba cánh diều nào được xem là hoàn hảo nhất, thi nhau bay trên trời cao, và đợi đến sáng hôm sau mới tuyên bố kết quả. Bởi lẽ người ta còn phải để cả một đêm dài suy nghĩ và lắng tai thưởng thức tiếng sáo của ba chiếc diều kia, xem tiếng sáo nào vi vút hơn trầm bổng hơn, nhiên hậu mới định ngôi cao thấp một cách hết sức công minh được.

Và sáng hôm sau, khi trời vừa hửng nắng, mọi người sốt sắng tề tựu ở sân chùa để nghe ông chánh tế và cũng là chánh chủ

khảo cuộc thi thả diều tuyên bố kết quả. Giải thưởng tuy không đáng là bao, nhưng ai cũng mong muốn được đoạt giải vì nó là niềm hãnh diện mà tất cả những dân chơi diều tổng Hà nam đều đã từng ôm ấp từ lâu. Sau khi kết quả đã được tuyên bố và những người trúng giải đã lãnh giải xong, diều của họ cứ việc cột ngoài đồng cho bay như thế trong ba ngày ba đêm liền. Tới hôm thứ tư, người ta mới đem kéo diều xuống. Thông thường, diều nào chiếm giải nhất thường được mọi người xúm lại hỏi xin chủ diều một đoạn dây để lấy khước.

cuộc thi thả diều hàng năm đã hoàn tất mỹ mãn rồi. Bây giờ mới là lúc người ta tổ chức một cuộc thi khác cũng về diều nhưng gay go và hào hứng hơn: Thi chọi diều.

nếu muốn thi thả diều, người ta phải mất công làm diều cho thật kỹ lưỡng thì trái lại làm diều để chọi người ta không quá cầu kỳ đến như thế. Diều chọi không cần phải đứng yên lặng, nếu không muốn nói là nó càng chao qua đảo lại bao nhiêu càng tốt, miễn đừng chao đảo xuống đất. Đồng thời, diều chọi cũng

phải có những đặc tính là luôn luôn tuyệt đối tuân theo sự điều khiển của người cầm dây để có thể bất thần bốc tướng lên cao hoặc trên cao bổ nhào xuống như máy bay khu trục tấn công phá hoại diều địch. Diều để chọi thường được buộc thêm ba cái đuôi ở phía sau dài lối hai ba thước tây cho cân...

người ta thường tổ chức cuộc chọi diều vào những hôm có gió thổi lớn. Gió càng lớn, cuộc chọi diều càng nhiều hào hứng gay cấn. Muốn được dự cuộc chọi, hai diều phải bằng nhau, không cái nào lớn hơn cái nào. Trái với loại diều thả thi, diều chọi được vót nhọn hoắt ở đầu diều, hai bên cánh buộc thêm hai mũi dùi bằng tre vót nhọn dài năm phân tây. Đó là ba món khí giới để tấn công diều địch.

Ở tổng Hà nam, điều lệ chọi diều được đặt ra như sau: Hai diều phải có kích thước y hệt như nhau về cả chiều dọc lẫn chiều ngang.

có khí giới đều nhau.

Dây thả diều dài bằng nhau.

Diều phải phất bằng giấy bản thường, không được phất cậy, sơn, hoặc bất thứ nhựa gì khác (cốt để cho khí giới đối phương có thể đâm thủng được).

nếu xem thi thả diều hào hứng một phần, thì xem chọi diều hào hứng gấp trăm. Điều quan trọng là tùy tài nghệ của người cầm dây điều khiển ở bên dưới. có những lúc diều nhào xuống rồi lại đâm bổng lên, hoặc xoay tít như chong chóng mà không hề bị rớt xuống đất, thế mới thật tài tình.

Diều chọi thường thả bằng dây đàn se bằng tơ tằm. Dây tơ

tằm nhỏ, đanh sợi và rất bền. Thoạt đầu hai bên xem xét diều của nhau một cách kỹ lưỡng và cùng công nhận cả hai rất hợp điều lệ để chọi. Họ bắt đầu đâm diều lên cao trong cùng một lúc. Thả diều lên hết dây rồi, họ đóng cọc để đấy, đợi nắng bớt gay gắt đã. chọi diều mà bị nắng chiếu vào mặt, chói mắt thì 294

Diện hình và Tổ chức

còn điều khiển ra sao? cần phải bớt nắng mới được. cũng trong lúc đó, các quan viên ưa đánh cá bắt đầu ngóng cổ quan sát hai con diều và đánh cuộc xem diều nào thắng, diều nào bại. cuối cùng, cuộc chọi bắt đầu. Hai chủ diều thong thả nhổ cọc và sửa soạn trổ tài. Giây phút hồi hộp đã tới rồi đây.

Trước tiên không ai bảo ai mà cả hai đều tìm cách thu ngắn bớt dây diều của mình lại. Đó là một miếng đòn thông thường của phép chọi diều, để bất thình lình khi đã lừa cho diều địch ở

đúng phía trên diều của mình rồi thì thả dây ra, cho diều mình bốc lên đâm một đòn chí tử hầu đoạt phần thắng lợi trong chớp mắt. nếu không tránh kịp miếng đòn này, diều địch sẽ bị đâm thủng một lỗ. Một lỗ rách là một điểm. nếu trong lúc giao đấu không có diều nào bị hạ đo ván thì người ta sẽ mang diều xuống mà định hơn thua.

Miếng đòn độc thứ hai của phép chọi diều là lối kéo diều mình đi chếch chiều gió để cánh nhọn tạt ngang làm thủng cánh diều địch. Đòn thứ ba là điều khiển cho diều từ trên cao bổ nhào xuống đâm thủng lưng đối phương v.v...

nói tóm lại, đòn chọi diều tuy không nhiều nhưng nếu biết áp dụng một cách tài tình biến hóa thì cũng tạo nên những pha gay cấn hồi hộp không thua gì cả hai võ sĩ trên đấu trường.

Trò chơi chọi diều của dân chúng trong tổng Hà nam còn kéo dài cho đến hết tháng tư âm lịch mới thôi. Sau đó người ta đem cất diều đi để lo việc đồng ruộng và đợi đến năm sau sẽ

lại dự giải thả diều cũng như sẽ đem diều ra chọi.

Hùng Phong

ĐáM RướC MụC ĐồNg Ở làNg PhoNg lỆ

Đây chỉ là một đám rước của mục đồng, nhưng đám rước này lại liên quan tới cả xã Phong lệ, tỉnh Quảng Nam. Đám rước

này chính cũng là một hình thức của hội làng nêu lên một sắc thái hội làng với nét độc đáo riêng. Tuy tác giả đem tục rước mục đồng đặt trong khuôn khổ một truyện ngắn, nhưng những nét chính của tục rước mục đồng đã được nêu lên đầy đủ, và đọc qua bài này, ai nấy đều có thể hiểu rõ đám rước này.

nông về nhà thì trời đã chạng vạng. Lùa trâu vào chuồng và gài khổng(1) xong, hắn đi ngay vào bếp như thường lệ.

cả nhà vừa ăn cơm xong, chị bếp đang vén tém mấy đĩa thức ăn thừa trước khi bày ra mâm để bữa cơm của chị và hắn ở xó bếp này xem đỡ phần bạc bẻo.

chị gọi hắn: “chú nông vô ăn cơm rồi có đi làm việc làng”!

Hắn mỉm cười náo nức nghĩ đến ngày mai, ngày vui nhất của giới chăn trâu, phải đợi ba năm mới xảy ra một lần cho bọn làm nghề hạ tiện này. Không giấu được niềm vui, hắn khoe:

“chị Ba hợ,(2) năm nay tui làm Trùm phụ(3) khỏi phải cầm cờ

như kỳ năm Dậu, gớm! có gì đâu mà cái cắn nắm tràm cả tay, lại thêm gió cứ vật mình ngã oành oạch như vật nhái, đứa nào đủ sức cầm cờ được ba lần hát mục đồng thì về già qua Giáng Động dự hát vật nhất định sẽ ăn giải”.(4) chị Ba nói sau tiếng cười: Giải gì thì còn ham chớ giải hát vật ai có khôn cũng xin vái! Hơn được, chẳng thấy no béo gì, còn rủi ro có thua thì là hết một đời! chú không nghe nói hể ai thua thì về nhà đau chết liền hay sao?”.

Hắn mỉm cười không đáp. Điều này hắn cũng có nghe người ta đồn nhiều nhưng hắn còn nửa tin nửa ngờ. Hắn thầm nghĩ: 1. Khổng: tiếng miền Trung gọi cổng chuồng trâu.

2. Hợ: trợ ngữ từ tương đương tiếng Này của miền Bắc, tiếng À miền Nam.

3. Trùm phụ: chức phụ tá cho Trùm chỉ trong việc giữ trật tự đám rước mục đồng.

4. Hát Vật: Song song với lễ mục đồng ở Phong Lệ (một xã ở tỉnh Quảng Nam) làng bên cạnh là Giáng Động có tục đấu vật, đô vật chỉ chọn những ông già năm sáu mươi tuổi.

Diện hình và Tổ chức

“Ừ, thì năm Dậu ấy quả có ông Biện Lương bị thua vật rồi sau đó qua đời thật, nhưng nghe nói năm ấy trước khi vật, ông bị

phát bệnh thình lình song sợ bỏ cuộc đấu thì làng bắt vạ nên phải ráng ra dự cuộc đấu, vậy chắc gì ông ta không chết vì bệnh hành! Với lại ông ta đã già, gân sức yếu ớt nên vật thua, nội dự

keo vật cũng đủ đáng “gần đất xa trời” rồi, huống hồ về nhà nghe người ta nói ra nói vào, con cháu cằn nhằn cưởi nhưởi nữa, riêng chuyện lo sợ cũng đủ chết rồi”.

Gà trong xóm mới gáy lượt đầu, đình Thần nông đã đông đặc người ta. Tất cả hào lý đều tề tựu đông đủ, không ai muốn thần thấy họ lơ là với vị thần đỡ đầu cho hoa màu đất ruộng của họ.

Về phía mục đồng, anh nào anh nấy đều trong ngoài hai mươi tuổi, mặt mày rám nắng sạn đen. Đằng sau những chiếc áo dài đi mượn, các bắp thịt cuồn cuộn của họ như muốn phá lớp vải cũ kỹ để chui ra ngoài, tìm lại màu trời, ánh nắng quen thuộc của chúng. nhắm chừng mọi người đã tập trung đông đủ ông Xã Mộc giữ chức Trùm mục, cất tiếng gọi to: Mấy ông Trùm chỉ,(1) thường chỉ lo phần trật tự. Trùm phụ