Làng Xóm Việt NamPart 22
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
khổ sở lắm vì Tết, khi năm cùng
Kể ra, nếu từ xưa không có
tháng tận đã phải chạy ngược
lối kiêng cữ như thế, thì có lẽ bây chạy xuôi, lạy van hết cửa này
giờ chúng ta cũng nên bày ra
đến cửa khác để vay chỗ nọ mà
cho có để người ta vui sống với
đập trả chỗ kia chỉ đến lúc giao
nhau, ít nào cũng được lấy năm
thừa mới yên tâm được để mà
ba ngày trong một năm, còn hơn
tết với nhất. Lại cũng có nhiều
là không có ngày nào cả.
người, công nợ quá rồi, chạy
Thú nhất và buồn cười nhất là
không đâu tiền trả, thì đành
vừa mới chiều ba mươi người ta
liều trốn nợ, đến đêm ba mươi,
mắng nhau như tát nước vào mặt,
mới dám lò dò về nhà, thấy
mà sáng mồng một ra đường gặp
khách nợ không còn ai thì bấy
nhau, đã lại nhoẻn miệng cười
giờ mới đóng cửa lại để lo thu
chúc nhau năm mới làm ăn phát
dọn mà ăn Tết.
tài bằng mười năm ngoái. Bao
Cái cửa đêm ba mươi đóng
nhiêu công nợ, bao nhiêu điều
lại như thế là một cái gì yên trí
ong tiếng ve, bao nhiêu giận hờn
lắm đối với con nợ khỏi bị réo róc, oán ghét, đến hết ngày ba mươi
chẳng được lâu thì ít ra cũng được là hết đấy. Lại cho đến khai hạ
đến ngày hạ cây nêu. Bởi trong
mới là bắt đầu lại cuộc sống bình
mấy ngày Tết, nếu cho người ta
thường, để bắt đầu nói chuyện lại
chẳng kiêng cho mình thì người ta
về những vụ đó.
cũng phải tự kiêng cho người ta để
Cái khoảng mấy ngày Tết là
Diện hình và Tổ chức
cái khoảng ngày mà người ta
lần những chuỗi ngày mới, với
thấy hoàn toàn nhẹ nhõm để vui
không biết bao nhiêu hy vọng
với gia đình, để ăn mà biết là ăn không biết bao nhiêu yêu đời.
ngon, mặc mà biết là mặc đẹp.
Dẫu cho có đứa con đau yếu
Có những đứa con hư, đi lang
vạn bất đắc dĩ người ta mới
bạt quanh năm suốt tháng, rồi
phải chạy tìm ông lang, còn có
làm bậy bạ, không ai còn muốn
thể nấn ná được thì người ta
nhìn mặt nó nữa, nhưng đến
cũng để qua ngày mồng một,
đêm ba mươi Tết, nó biết lò dò
trong khi gia đình thỉnh thoảng
vác mặt nó về, thì người ta cũng
ghé vào thăm nom, còn bên nhà
thôi, đánh chữ đại xá đi cho nó,
ngoài tiếp khách, người ta cũng
để nó được ăn Tết, xong rồi mới
vẫn tươi cười như không có điều
lại đuổi cổ đi. Không khí bao
gì âu lo trong bụng.
dung trong gia đình Việt Nam
Người ta nén bỏ những gì
thật là một không khí kỳ lạ.
buồn phiền, để không làm buồn
Chẳng rõ như vậy có phải vì
phiền sang những người khác
ảnh hưởng của những sự kiêng
trong dịp Tết. Người ta dấu kín
cữ, không thích thấy những gì là những đau khổ để không làm nặng tay nặng chân, nặng mày
mất thú vui của người khác trong
nặng mặt, và không muốn nhìn
dịp vui ấy. Dù ai muốn hiểu thế
những gì là đổ vỡ, hư hỏng,
nào đi nữa, tôi cũng vẫn phải nói
xấu xa? Để tất cả một xã hội
rằng: đó mới đúng là những thái
nhìn nhận ngày Tết là cái ngày
độ và cử chỉ văn minh.
gì khác hẳn với những ngày
Bởi ngày Tết là một ngày
thường trong đó chỉ toàn là tốt
thiêng liêng lắm. Một người sắp
đẹp và vui vẻ.
chết, hấp hối thêm một giờ nữa
Từ những người tài cao học
sau giờ giao thừa là đã tính kể
rộng, đến những người chẳng
thọ thêm một tuổi nữa. Một đứa
biết một chữ gì, người nào cũng
trẻ xổ ra trước giờ giao thừa
cảm thấy như mình vứt bỏ một
một giờ sang đến ngày mồng
chuỗi ngày cũ kỹ đi, để bắt đầu
một, là đã bắt đầu lên hai tuổi.
Không có ngày nào giờ nào
thế đấy, thế mới là Tết. Cho
khác trong năm lại có năng lực
đến cầm cái chổi quét rác trong
khiến toàn thể mọi người phải
nhà, người ta cũng không quét
công nhận sự kỳ dị như vậy.
nữa, để cho cái ý niệm nghỉ
Sự kỳ dị này đã đến một mức
ngơi thật hoàn toàn là nghỉ
không ngờ nữa là cả guồng
ngơi, không làm gì cả, cho cả
máy xã hội đã như ngưng cả lại
tâm hồn lẫn thể xác hòa đồng
cùng với bầu không khí, cũng
với cảnh sắc xuân tươi mà mới
như đọng cả lại mà chờ đón
hết cả lại. Thật cứ y như một
buổi giao thừa. Việc gì quan
tấm lụa nhuộm màu, phải lắng
trọng mấy cũng nghỉ hết. Từ
lại trong một thời gian rống
trong triều đình đến các tỉnh
rỗng cho màu kịp ăn vào đến
đường, huyện đường, mọi hoạt
trong lòng của từng tơ lụa.
động ở mọi ngành đều nhất
Ngày Tết, với những màu
loạt là nghỉ hết. Cho đến các
thiên tạo của cây cỏ hoa lá, với
đền chùa miếu mạo cũng chỉ
những màu nhân tạo của nhà
cúng một lần chót, lần tất niên
cửa đồ đạc, quần áo món ăn,
để rồi nghỉ qua năm mới. Kiện
quả là nhuộm thắm lại tất cả
cáo gì cũng nghỉ, giao thiệp gì
lòng người đến nét mặt của mỗi
cũng nghỉ, học hành gì cũng
người nữa.
nghỉ, làm ăn sắp đặt gì cũng
Cho nên người Việt Nam
nghỉ, tính chuyện đi xa đi gần
chúng ta đã ăn Tết mãi và sẽ
gì cũng nghỉ. Việc thật hết sức
còn ăn tết mãi như một cái thú
cần, nhưng nếu không phải là
mà Trời đã dành riêng cho kẻ
cháy nhà, là giặc giã cướp bóc,
biết thưởng thức cái giờ phút
giết người hại của, thì dầu phải
đẹp nhất của vũ trụ trong một
làm trong ngày Tết kiếm được
năm vậy.
nhiều tiền, người ta cũng không
Lê VăN SIêU
bao giờ làm.
Sáng Dội Miền Nam số 6
Hỏi tại sao thì chẳng ai cần
Tháng 1-1960
biết rõ hơn, mà chỉ nhận rằng
Diện hình và Tổ chức
dâN làNg Đối với
Người Chết
ta có tục thờ phụng tổ tiên, do đó đối với người chết ta có một sự kính trọng, và không bao giờ ta xâm nhập tới mồ mả cũng như không bao giờ ta nhắc tới người đã qua đời với sự oán hận.
chết là hết, dù người chết đó có là kẻ thù của ta, kể cả kẻ
thù ngoại quốc.
người Trung Hoa xưa kia bao phen xâm lấn Việt nam, và có những tướng lĩnh đã bỏ mình nơi trận địa đất Việt, nhưng khi chết đi, nếu những tướng lĩnh này được Hoa kiều lập đền thờ, người Việt nam không bao giờ ngăn, cả đến những tướng lĩnh đã từng chiến thắng người Việt nam, đền thờ của họ cũng vẫn được người Việt mặc nhiên coi như không nghĩ đến đây là nơi thờ tự một kẻ thù cũ, như đền thờ Mã Viện tại phố Hàng Buồm, Hà nội, Mã Viện đã chiến thắng quân Hai Bà Trưng, nhưng Mã Viện đã chết, người Việt nam không thù hằn người chết.
người Việt nam vẫn giết chết kẻ thù rồi thờ kẻ thù liền đó, bởi vì họ quan niệm rõ một sự cách biệt giữa cái giá trị thuộc về sự sống với cái giá trị thuộc về sự chết. Khi kẻ thù đã chết kẻ
thù không còn là cái đối tượng lúc trước cần phải tiêu trừ. Bây giờ là cái tinh anh còn lại của một con người đã có tài năng, đã có sự nghiệp, có một cuộc sống nào đó. Cho nên khi người Việt Nam giết Sầm Nghi Đống rồi lại lập miếu thờ họ Sầm không phải là trọng vọng tên giặc cướp, mà chính là hoài niệm một kẻ có bản lĩnh bị họ trừ khử vì sự tự vệ chính đáng. Trả lại cho kẻ bị thiệt thòi kia một chút an ủi tinh thần, đó là một thứ nghi lễ của một dân tộc có nền văn minh độc đáo. (1) Đối với kẻ thù, người Việt nam còn có lượng bao dung sau khi kẻ thù không còn nữa, và trong sự bao dung có lẫn phần kính trọng cái tinh anh con người của kẻ thù, huống chi lại đối với chính người Việt nam, nhất là khi đây lại là những người trong họ ngoài làng.
Thực vậy, dân làng đối với người chết ở trong làng không có họ xa thì họ gần, không thì là chỗ quen biết, hoặc tiền nhân những người mình quen biết, vì người trong một làng ai có lạ ai.
Quý người sống làm sao thì người ta quý người chết như vậy.
tha ma
người sống có nhà cửa, người chết có mồ ma và mồ ma của dân làng thường quy tụ ở một bãi tha ma.
Mỗi làng, đầu làng hoặc cuối làng, có một khu đất rộng để
làm chỗ tha ma mộ địa, trong làng có ông già bà cả mất thì đem chôn tại đó. (2)
những làng ở gần đồi núi, bãi tha ma thường ở chân núi, còn những làng ở đồng bằng, dân làng cũng dành một khu đất cao để an táng người chết.
1. A.Pazzi. Người Việt cao quý - Sách đã dịch.
2. Phan Kế Bính. Tài liệu đã dẫn.
Diện hình và Tổ chức
Ở nơi đây gò đống ngổn ngang, những ngôi mộ nằm như bát úp, không hàng lối, những ngôi mả dài bên những ngôi mộ tròn, những ngôi mộ xây bên những nấm mả đắp.
Bãi tha ma thường không có địa giới rõ ràng, khu đất rộng nằm ở chân núi hoặc ở đầu, cuối làng không biết rộng bao nhiêu.
Dân làng mỗi khi có đám ma, lúc đào huyệt, tìm huyệt đất nào trống thì đào, không kể gì thứ tự trước hoặc sau. có ngôi mộ
đào ngang, có ngôi mộ đào dọc, có ngôi mộ đào chênh chếch.
Không phải không có lý do mà mỗi ngôi mộ đào theo một hướng khác nhau. Đó là theo sự chỉ dẫn có các thầy tự, thầy pháp đã xem trong lịch để biết năm nào, người chết khi chôn phải quay đầu về hướng nào mới hợp và linh hồn mới được yên.
cũng có làng bãi tha ma được xây chung quanh và có lối vào bằng một hoặc hai cổng. những cổng này không có cánh cửa chỉ hai bên có hai cột trụ và mỗi bên cột trụ có một vế câu đối đại ý nói về sự yên nghỉ của những người chết.
nơi tha ma này được gọi một tên trang trọng hơn là nghĩa địa.
Thường người trong làng chết, người nhà thường mai táng tại nghĩa địa làng, nhưng cũng có nhiều người không chôn thân nhân ở nghĩa địa lại chôn ở ruộng hoặc vườn riêng của mình để
tiện việc săn sóc mồ mả.
Lại cũng có người vì kén đất, nhờ thầy địa lý tìm nơi huyệt tốt để an táng ông bà cha mẹ, những người này để mộ cha mẹ
không phải ở tha ma làng mà ở một nơi nào đã được thần địa lý tìm kiếm trước. các thầy địa lý bảo rằng những ngôi mộ chôn đúng vào những huyệt tốt sẽ phát, và con cháu sẽ khá giả, hoặc học hành thi đỗ, hoặc làm ăn giàu có, tùy theo sự phát của ngôi mộ về danh hoặc về lợi.
Ai đã có dịp đi thăm một bãi tha ma Việt nam ắt hẳn phải nhận thấy có những ngôi mộ mới chôn, nấm dài, cỏ chưa mọc
và những ngôi mộ đã sang tiểu nấm tròn. Lại có những lỗ huyệt cũ của những ngôi mộ đã cải táng.
người ta thường kén đất tân, nghĩa là đất mới chưa có ai chôn cất trước để an táng người thân, bởi vậy tại những huyệt cũ đã cải táng, không có ai dùng lại, và lỗ huyệt cứ bỏ trống với những mảnh ván hôi tức là những mảnh ván của chiếc áo quan cũ, đã mục vứt lay lắt bên cạnh.
những ngôi mộ nơi nghĩa địa phần nhiều là mồ có chủ, nhưng cũng có những ngôi mồ vô chủ không ai trông nom và bị hoang phế. những người nằm trong những ngôi mộ này cũng không được ai cúng vái.
am ChúNg SiNh
Để giảm bớt phần nào sự khổ cực của những linh hồn kém may mắn không người cúng vái, mỗi làng đều xây tại nơi mộ
địa một cái am năm ba gian hoặc một cái bệ lộ thiên, để thờ
cúng những ai nằm trong mồ mả vô chủ.
Am này gọi là Am chúng sinh và có mang ba chữ hàn lâm sở.
Am này có một bà đồng lo việc đèn hương thờ cúng. Mỗi khi trong làng có đám tang, các tang chủ cũng thường có đồ lễ
tới cúng nơi am. Đồ lễ này cúng xong, tang chủ để lại cho bà đồng được hưởng.
Để có tiền dầu đèn hương khói tại am, bà đồng trông chờ ở
sự từ tâm của người làng đối với những vong hồn vô thừa tự.
ngoài ra, bà thường bày một cái nong ra cạnh đường đi, trước mặt Hàn lâm sở, vì am này thường xây ở lối vào nghĩa địa, bên đường làng, để quyên giáo. Trên nong có một bát hương cắm vài ba nén hương đang cháy và có những thoi vàng hồ vung vãi.
Khách qua lại ai cũng cúng một vài đồng tiền để làm phúc, trong lúc đó bà đồng ngồi trong am đánh trống kể kệ.
Diện hình và Tổ chức
Thường ngày cũng có đôi ba bà trong hội Chư bà tới am để
giúp đỡ bà đồng trong công việc chuông mõ kinh kệ, hoặc đèn nhang tại am, nhất là những ngày có đám tang ở trong làng.
CúNg báCh liNh
Vì đây là nơi cúng tất cả những vong hồn vô thừa nhận, nên hàng năm vào dịp ba tháng hè là bà đồng có cũng cháo trong những ngày rằm và mồng một để các cô hồn được thừa hưởng.
Lễ cúng này gọi là cúng bách linh. Đồ lễ có vàng hương hoa quả, nhưng đặc biệt nhất là có cháo hoa nấu bằng gạo.
Bà đồng thường nấu một nồi cháo, múc ra bát để ở bàn thờ, nhưng ngoài ra còn múc vào các bồ đài lá đa, - những lá đa cuộn tròn lại, gài trên đầu một chiếc que tre, - cắm hai bên dọc đường.
Tục bảo rằng cháo ở bàn thờ có quan âm tới hưởng còn các cô hồn thì cướp cháo ở lá đa. Trong lễ cúng bách linh cũng có một mẹt những bánh kẹo hoa quả, mà ta tin rằng các cô hồn chia nhau cùng hưởng.
cúng bách linh được cúng trong ba tháng hè vào các ngày rằm và mồng một, hoặc vào các kỳ lễ lạc như Tết Đoan ngọ, hoặc kỵ làng v.v...
làm Chay
Vào tháng bảy, dân làng hoặc dân trong thôn xóm, nhân dịp xá tội vong nhân, thường tổ chức làm chay tại am chúng sinh.
chi phí về làm chay có thể do quỹ làng đài thọ, hoặc có thể do các nhà từ tâm hùn góp.
Làm chay cúng liền hai ba ngày có khi năm bảy ngày, và dân làng thiết lập đàn tràng ngay tại cửa am.
Trước khi cúng đàn chay, có cuộc chiêu âm hồn gọi là rước linh.
Rước linh do một vị hòa thượng cầm gậy tầm xích đi đầu, đi khắp đám tha ma mộ địa. Theo sau vị hòa thượng có các vãi, số
vãi trong làng rất đông, xếp hàng đôi hàng ba đi theo sau, hai vãi đi trước nhất cầm hai cành phướn nhỏ hoặc cầm nén hương đang cháy. Sau các vãi là vài ba người đạo tràng vừa đi vừa đánh trống khua não bạt.
Vị hòa thượng lâm râm đọc kinh, các vãi đi sau đọc theo. Tất cả đi như một đám rước, đi khắp bãi tha ma từ góc này qua góc nọ, từ hàng mộ dọc tới hàng mộ ngang.
Tục bảo rằng, các âm hồn vô thừa nhận đi theo đám rước này về đàn để được cúng lễ.
Khi đám rước đi khắp mọi nơi bãi tha ma, vị hòa thượng mới quay trở lại đàn. Lễ cúng lúc đó mới bắt đầu.
Đàn tràng chia làm ba lớp. Lớp trên cùng là tượng phật. Ở nơi này đồ lễ là đồ chay gồm vàng hương trầu cau và hoa quả. Lớp thứ hai cúng bách linh. Ở đây, đồ lễ ngoài thanh bông hoa quả
và trầu rượu còn có thêm đồ mặn, như gà vịt hoặc có khi có cả
lợn. Lớp thứ ba ở ngoài cùng là những đồ mã cúng cho các cô hồn và các quan âm, có hình nhân, voi, ngựa, thuyền bè v.v...
Lễ cúng bắt đầu bằng lễ phát tấu tụng kinh cầu nguyện cho vong hồn chúng sinh được siêu sinh tịnh độ, được giải thoát khỏi kiếp cô hồn đi đầu thai kiếp khác, kinh được tụng suốt ngày đêm. các bà vãi chia nhau lần lượt tụng kinh theo vị hòa thượng và lễ kinh, nghĩa là trong lúc có người tụng kinh thì có những người lễ phật.
Sáng ngày hôm sau là lễ dâng lục cúng, sau đó là lễ cát đoạn và các lễ phóng sinh thí thực như lễ cúng kỳ an hàng năm.
Sáng ngày thứ ba có lễ chạy đàn phá ngục.
Trong các đồ mã bày ở lớp thứ ba có một nhà ngục bằng giấy, lúc chạy đàn, người ta chạy chung quanh nhà ngục này.
Diện hình và Tổ chức
chạy đàn, có mấy người đạo tràng đóng các vai Đường Tăng, Đại Thánh, Sa Tăng và Bát Giới, các nhân vật chính trong tích
“Tây Du thỉnh kinh” chạy chung quanh đàn, vừa chạy vừa tụng kinh. Rồi ông thầy dùng gậy tầm xích đâm phá các cửa ngục, có ý cứu cho chúng sinh thoát khỏi sự giam cầm dưới âm ty.
Sau lễ chạy đàn là lễ tạ rồi vàng mã được đem hóa.
Với lễ làm chay phá ngục mọi người tin rằng có cô hồn được hưởng lễ cúng khỏi bị đói khát và những oan hồn được giải thoát.
lệ ĐàN
Am chúng sinh được xây ở mọi làng, nhưng tại các làng đã là nơi trận địa, có các tử sĩ bỏ mình trong việc can qua, ngoài am chúng sinh của dân làng, nhà vua còn cho lập một đàn thờ
để thờ các chiến sĩ vong thân, cả quân nhà lẫn quân địch. Đàn này gọi là lệ đàn, tức là ngày nay là đài chiến sĩ, duy có hơi khác là ở lệ đàn có sự cúng lễ, và ở nơi đây thờ tất cả những người chết trận trong cuộc chiến đã xảy ra tại chỗ.
có thể nói được rằng lệ đàn cũng là một thứ am chúng sinh, nhưng là am chúng sinh dành riêng cho anh hồn các chiến sĩ.
Việc cúng lễ tại lệ đàn, hàng năm nhà vua sai quan về tế, thường là các quan sở tại được phái về cúng lễ và làm chay cầu siêu cho các vong hồn tử sĩ. Trong dịp tế lễ này, các hội thiện thường góp tiền để cúng sau buổi tế chính thức của quan triều đình. các hội thiện đây, chính là hội thiện nơi làng sở tại, và việc cúng này được dân làng tham dự, cũng như khi có việc làm chay tại am chúng sinh.
Tục ta tin rằng am chúng sinh và lệ đàn là những nơi rất thiêng liêng, mọi người đều thành tâm với việc làm chay và cúng lễ tại các nơi này.
Ta đối với người chết, luôn luôn có sự kính trọng và động chạm tới mộ địa là một điều dân làng quê rất kiêng. người ta có thể di chuyển nhà cửa dễ dàng, chứ di chuyển một ngôi mộ
là việc vạn bất đắc dĩ. Trong trường hợp vì một lý do gì một bãi tha ma phải thiên đi nơi khác, xưa kia, những người giàu tranh nhau làm phúc mua tiểu để dựng những hài cốt vô chủ và gạch mua để đậy lên trên những chiếc tiểu khi chôn xuống bãi tha ma mới. Và dân làng, nam phụ lão ấu đều tham dự đám rước bách linh từ nơi tha ma cũ tới nơi mộ địa mới.
Ta thờ phụng tổ tiên, ta tin ở quỷ thần. Đối với ta người chết chỉ chết về thể xác nhưng linh hồn vẫn còn, vẫn có tri giác như
người sống. Và dương sao âm vậy, người sống, có ăn uống, có nhà ở, tại cõi âm người chết cũng có cuộc sống của cõi âm và cũng cần ăn uống, cần nhà ở như người sống. Ăn uống do người sống cúng lễ, và nhà ở chính là ngôi mộ, chính là chiếc nhà táng của con cháu đã đốt cho trong đám tang, hoặc nhà của con cháu cúng và hóa trong những dịp đốt mã vào ngày rằm thắng bảy, năm người chết mới qua đời, và năm liền sau, và nếu người chết đã tạ thế sau rằm tháng bảy thì vào hai năm sau nghĩa là hai năm có giỗ đầu và giỗ hết.
Ở âm phủ cũng có kẻ khổ người sướng như trên dương trần.
người có con cái giữ hương hỏa thì hồn phách có nơi đi về, người bất hạnh vô thừa tự không có ai cúng bái thì giống như
những người vô gia cư trên dương thế.
chính vì lý do trên mà tại nơi mộ địa nào ở làng quê cũng có am, có đàn, có người khói hương thờ phụng, để cho các u hồn oán quỷ dù vô thừa tự cũng thỉnh thoảng được hưởng sự
cung cấp.
Diện hình và Tổ chức
tảo mộ
chăm nom mồ mả của người chết, người sống hàng năm thường có những ngày tảo mộ.
Theo tục người Tàu, họ đi tảo mộ vào dịp Tết Thanh Minh, và họ gọi lễ tảo mộ này là hội Đạp Thanh.
người Việt nam đi tảo mộ cũng có nơi vào dịp Thanh Minh, nhưng cũng có nhiều nơi vào cuối năm hoặc đầu năm, như đã trình bày ở chương “Tết làng”.
Ta đi tảo mộ với mục đích sửa sang cho ngôi mộ được sạch sẽ. Bởi vậy khi đi tảo mộ người ta mang theo cuốc xẻng để vun lại nấm mồ, để dẫy hết những cỏ dại, những cây hoang mọc trèo lên mộ có thể phạm tới hài cốt người nằm trong mộ được.
Tất cả những nấm mồ có người trông nom trong dịp này đều được sửa sang và đều có cắm mấy nén hương đang cháy để
chứng tỏ ngôi mộ không phải là mồ vô chủ.
những nấm mộ không có người trông nom, cỏ hoang leo mọc, hương lạnh khói tàn, nấm thấp dần, lâu ngày có thể mất được.
nhiều người đi tảo mộ, gặp những ngôi mồ vô chủ động mối từ tâm thường cắm một nén hương để u hồn người nằm trong mộ đỡ bị lạnh lẽo.
Trong dịp đi tảo mộ, nhiều gia đình trong làng mang theo cả mâm cỗ để tạ những ngôi mộ mà theo thuyết phong thủy đã bị động khiến cho con cháu bị đau ốm hoặc có sự lủng củng trong nhà.
Đi tảo mộ để thăm nom mồ mả của ông cha, và như vậy con người không bao giờ quên được tổ tiên.
kết luậN
tôi xin ngừng bút ở đây, tuy hiểu rằng những điều tốt trình bày về làng xóm Việt nam còn nhiều điều thiếu sót và có thể có nhiều sự sai lầm được.
Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe. những điều biết tôi đã xin trình bày hết, giờ đây tôi xin dựa cột để
nghe các bạn mách bảo hoặc những điều còn thiếu sót, hoặc những điều sai lầm.
Thực ra về làng xóm Việt nam, còn rất nhiều điều đáng nói và rất nhiều chi tiết đáng kể ra để chúng ta cùng hiểu rõ nếp sống của đồng bào miền quê về trước đây, ngõ hầu có những sự cải tổ cần thiết cùng những sự bảo vệ các tục lệ tốt đẹp về
văn hóa và thuần phong mỹ tục, nhưng khuôn khổ tập sách này không cho phép chúng tôi đi sâu hơn nữa. chúng tôi mong sẽ
được gặp trở lại bạn đọc trong tập SỐnG Ở LànG, chúng tôi đang biên soạn.
Dù sao, với những điều sơ lược đã được trình bày, cuốn Nếp Cũ này cũng đã giúp các bạn ở nơi thành thị ngày nay hiểu rõ phần nào cuộc sống đồng quê ngày xưa, và để bạn đồng quê cũng mường tượng lại nhiều điều quý giá của phong tục mà thời 382
Diện hình và Tổ chức
cuộc và ngoại tộc đã làm cho mất đi. Và có lẽ, nhiều trang sách đã nhắc nhở cho những ai xa quê nhớ tới quê hương, trong số
những ai đó có cả chúng tôi. Viết tới những tục lệ các làng quê, nhiều tục lệ mình đã từng sống, chúng tôi không khỏi bùi ngùi mà nhớ đến quê xa. Trong một phút tình cảm dâng cao đối với xứ sở làng mình, chúng tôi đã ghi lại trong mấy dòng Buồn nhớ
quê, nay xin chép lại để đóng tập sách này.
Chiều nay buồn nhớ quê tôi,
Mịt mù miền Bắc xa vời tuyệt xa.
Khói lam chiều phủ mái nhà,
Chuông chùa, chiều vọng la đà ngân vang.
Trong xanh dòng Nguyệt đức giang,
Thiềm Sơn trầm lặng với hàng cây xanh.
Quê tôi dân chúng hiền lành,
làng tôi e lệ sau mành tre ron:
Thị Cầu xã, chốn viễn thôn,
Bóng người lẻ tẻ đường mòn quanh co.
Xa xa vẳng tiếng khoan hò,
Vài cô thôn nữ thập thò sau hiên.
Mùi thơm ruộng lúa đồng chiêm,
Sáo diều khoan nhặt êm êm lưng trời.
Biệt quê từ đã lâu rồi,
Chiều nay nhớ đến quê tôi chạnh buồn.
Sài Gòn, Quý hạ,
Mậu Thân, 1968
tài liệu tham khảo
• ĐàO DUY AnH. Việt nam Văn hóa Sử cương. nhà xuất bản Bốn phương, Sài Gòn, 1961.
• Vũ QUỲnH BAnG. Làng tôi. Bách khoa số 49 (1959)
• pIeRRe BILLOTeY. L’Indochine en Zigzags. Albin Michel, éd, 1929.
• pHAn Kế BínH. Việt nam phong tục, Đông Dương Tạp chí, 1914, 1915.
• G.cOULeT. culetes et Religions de l’Indochine annamite.
Imp. Ardin, Saigon, 1950.
• TẢn Đà. Tản Đà Vận văn, nhà xuất bản Hương Sơn Hà nội, 1943.
• nGUYễn XUÂn ĐàO. Tổ chức hành chánh ở cấp xã tại Việt nam. Phụ tập Nghiên cứu một cộng đồng thôn xã Việt Nam ở Ông lloyd Woodruff.
• cHRISTIAne FOURnIeR. en parcourant l’Indochine.
editions “les Flots bleus”, Monte Carlo 1954.
• nHUệ GIAnG. Yên Đổ tùng biên, 1967.
cỬU LOnG GIAnG Và TOAn ÁnH. người Việt Đất Việt. Nam chi tùng thư, Saigon, 1968.
Diện hình và Tổ chức
• pIReRRe GOUROU. Les paysans du Delta Tonkinois. paris Mouton et co Lahaye, 1965.
• DươnG QUẢnG HàM. Việt nam Văn học Sử yếu. Bộ
Quốc gia giáo dục xuất bản, Saigon, 1954.
• nGUYễn VĂn HUYên. La civilisation annamite. Coll.
de la Direction de l’Instruction pubtique de l’I.C.
• nGUYễn VĂn HUYên. contribution à l’etude d’un génie tutélaire annamite Lí phục Man. Befeo, 1938.
• GéRALD c.HIcKeY. nghiên cứu một cộng đồng thôn xã Việt nam. Xã hội học. Võ Hồng phúc dịch. Phái đoàn Cố vấn Đại học đường tiểu bang Michigan tại Việt Nam 1960.
• JAMeS B.HenDRY. cuộc nghiên cứu một cộng đồng thôn xã Việt nam. phần hoạt động kinh tế. người dịch nguyễn Văn Thuần, Phái đoàn cố vấn Đại học đường tiểu bang Michigan tại Việt Nam 1960.
• TRẦn TRọnG KIM. Việt nam Sử lược, Tân Việt Saigon.
• nGUYễn VĂn KIêM. Tân châu.
• nGUYễn HỮU KHAnG. La commue annamite, etude historique, juridique et étconomique. librairie du Recueil Sirey, Paris. 1946.
• Lê THànH KHÔI. Histoire de l’Asie du S.e. Coll. Que sais-je? Paris, 1959.
• Lê THànH KHÔI. L’economie de l’Asie du S.e. Coll.
Que sais-je? Paris, 1958.
• nGUYễn VĂn KHOA. essai sur le Đinh et le culte des génies tutélaires des villages du Tonkin Befeo 1930.
• pHạM nGọc KHUê. Bản dịch Minh Đạo Gia Huấn.
• TRọnG LAI. Đám rước mục đồng ở làng phong Lệ Chọn lọc số 6, 19-XII-1965.
• BànG BÁ LÂn. Thơ Bàng Bá Lân. Nhà x.b. Nguyễn hiến lê, Saigon, 1957.
• Vũ nGọc LIễn. Moeurs et coutume du Vietnam.
• AnDRé MASSOn. Histoire du Vietnam. Coll. Que sais-je? Paris, 1960.
• nGUYễn VĂn nGọc. Tục ngữ phong dao. nhà xuất bản Bốn phương, Saigon, 1957-1958.
• nHóM nGHIên cỨU Và Dự HOạcH, Lê Tài Triển chủ
trương người dân xã và Hội đồng xã. Saigon, 1968.
• A.pAZZI. người Việt cao quý. Hồng cúc dịch. Tủ sách thời đại - Cảo thơm, Saigon, 1965.
• pIeRRe pASQUIeR. L’Annam d’Autrefois.
• nGUYễn HồnG pHOnG. Xã thôn Việt nam. Nhà xuất bản Văn Sử Địa hà Nội.
• Lê VĂn SIêU. Ăn Tết. Sáng Dội Miền Nam, số 6, tháng 1, 1960.
• THẦn LIên Lê VĂn TẤT. Sự tích miếu Bà núi Sam.
Nhà xuất bản Phong Vân, Châu Đốc, 1960.
• Vũ QUỐc THÔnG. pháp chế sử Việt nam. cử nhân Luật khoa, năm thứ nhất. Tủ sách Đại học, Saigon, 1966.
• cÔ AnH THơ. Bức Tranh Quê. Đời Nay, hà Nội, 1943.
• TRẦn VĂn TRAI. La famille patriarcale annamite.
lp.Varet. Au pays d’Annam, les Dieux qui meurent.
lLloyd W.Woodruff, với sự phụ tá của nguyễn ngọc Yên.
nghiên cứu một cộng đồng thôn xã Việt nam. phần hoạt động hành chánh. phái đoàn cố vấn Đại học đường tiểu bang Michigan tại Việt nam 1960.
Diện hình và Tổ chức
diệN hìNh và tổ ChứC
NhậN diệN một làNg quê
dâN làNg
tổ ChứC làNg xã
NhữNg ĐơN vị Của làNg
SiNh hoạt
SiNh hoạt troNg làNg
trồNg dâu ChăN tằm
lệ làNg
dự PhòNg và tư CấP
tế tự
tế tự
lễ Cầu mát
hội làNg
tụC giao hảo kỳ lạ giữa hai làNg
Phú Đa và triNh Nữ
tết làNg
ăN tết
dâN làNg Đối với Người Chết
kết luậN
tài liệu tham khảo
Nếp cũ
chịu trách nhiệm xuất bản:
TS. QUÁCH THU NGUYỆT
biên tập:
NGUYỄN LỤC
vẽ bìa:
TrầN miNH dũNG
sửa bản in:
THủY Tú
kỹ thuật vi tính:
THU HÀ