Làng Xóm Việt NamPart 20

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Suốt trong mấy ngày Tết, ngoài các cuộc chúc Tết nêu trên, người trong làng gặp gỡ nhau, tới lễ Tết nhà nhà đều chúc nhau những điều thịnh vượng. Dân trong làng, tuy hàng ngày gặp gỡ

nhau, nhưng ngày Tết gặp nhau họ đều như hân hoan mừng rỡ.

Bao nhiêu những sự tị hiềm trong năm cũ hầu như mất hết, gặp nhau ai cũng niềm nở với ai, và ai cũng chúc cho ai toàn những điều mình mong mỏi.

Đấy là chỉ nói ở phạm vi trong làng, vì ngoài việc chúc Tết 332

Diện hình và Tổ chức

ở trong làng, các hương chức lý dịch còn họp nhau đi chúc Tết quan sở tại. Và cũng có những người làng này sang làng khác để chúc Tết bạn bè và đồng thời để lễ gia tiên nhà bạn.

Anh em bạn thăm nhau, mỗi người đưa nhau một cánh danh thiếp đỏ, đề mấy chữ tên. (1)

MừNg TuổI hoặC lì Xì

Với Tết, với Xuân, người ta được thêm một tuổi. Thêm tuổi tức là thêm thọ, và đây là một điều đáng mừng và ngày Tết từ

lớn chí bé thường ai cũng nhắc tới tuổi mình.

Bà lão nằm tính tuổi sắp thêm năm.(2) các em bé thêm tuổi là thêm lớn. chính vì vậy, nên trong lúc chúc Tết, ta có tục mừng tuổi, và như trên đã trình bày, người ta mừng tuổi bằng tiền. Tiền mừng tuổi phong bao trong những giấy hồng, thường có tiền lẻ, vì người ta có ý tiền đó sẽ sinh sôi nẩy nở thêm nhiều và sẽ đem lại may mắn cho con cháu.

Tiền mừng tuổi cũng gọi là tiền mở hàng để lấy may. Bạn bè gặp nhau cũng thường mở hàng cho nhau để cầu chúc cho nhau những sự phát đạt.

Tiền mở hàng người ta thường cất đi để giữ lấy cái may mắn.

Miền nam, mừng tuổi cho các trẻ em gọi là lì xì.

ngoài ông bà cha mẹ mừng tuổi cho con cháu, trong ngày Tết, các chú bác cô dì cậu mợ cũng mừng tuổi cho các cháu.

Và những bạn bè trong làng, khi tới nhà nhau lễ Tết, chúc Tết, người ta cũng thường mừng tuổi cho con các bạn bè, hoặc khi một người bạn tới chúc Tết, có em nhỏ đi theo, chủ nhà thường mừng tuổi cho em để em hay ăn chóng lớn, học hành thông minh sáng láng, khỏe mạnh và ngoan ngoãn.

1. Phan Kế Bính. Sách đã dẫn.

2. Cô Anh Thơ. Sách đã dẫn.

Và những người làng khi gặp gỡ nhau ở ngoài đường cũng mừng tuổi nhau, nhưng chỉ mừng tuổi nhau trong lời nói.

Các cô gái đội vàng hương ôm váy

Miệng tươi cười mừng tuổi những người qua.(1) Mừng tuổi những người qua, người ta thường dùng những câu thật là sáo nhưng trong hoàn cảnh ngày Tết lại là những câu thật chân thành:

năm mới mừng tuổi bác năm nay đẻ con trai, đắc tài sai lộc bằng năm bằng mười năm ngoái.

năm mới mừng tuổi cô năm nay cho chúng tôi ăn trầu.

năm mới mừng tuổi cụ năm nay mạnh khỏe bình yên v.v...

lễ TếT

Dân ta thờ phụng Tổ tiên. người ta thờ phụng tổ tiên nhà mình, lại tông trọng cả tổ tiên nhà người khác. Do đó tại các vùng quê có tục đi lễ Tết. nhân ngày Tết, người trong làng đến nhà nhau, không phải là chỉ để chúc Tết như người thành thị mà chính là để lễ Tết. Việc lễ Tết là việc chính, chúc Tết xã giao là thứ yếu.

con cháu phải đến lễ Tết tại nhà gia trưởng, các nhân viên trong hội đồng kỳ mục đến lễ Tết nhà ông Tiên chỉ, cũng như

đến lễ Tết tại nhà những nhân viên khác trong ban hội đồng.

Bạn bè đến lễ Tết nhà nhau, và lân bang hàng xóm cũng vậy, nhất là các người có họ hàng với nhau, việc đến lễ gia tiên nhà nhau là gần như bắt buộc.

Thường các gia chủ đi lễ Tết, nhưng vì làng xã rộng, và việc lễ Tết không thể bỏ sót được, nên một mình các cụ đi không hết, các cụ cắt con cháu đi thay.

Đến mỗi nhà, người đi lễ Tết phải lễ trước bàn thờ bốn lễ

1. Cô Anh Thơ. Sách đã dẫn.

Diện hình và Tổ chức

và ba vái. Lễ Tết xong lại chúc Tết, rồi nhà chủ mời khách xơi miếng trầu hớp nước, có khi lại ép ăn bánh ăn mứt mở hàng.

Trong khi đi lễ Tết, quần áo phải chỉnh tề, đầu phải đội khăn, ăn mặc lôi thôi là một sự bất kính không những đối với giới vô hình ngự trên các bàn thờ, mà cả với các chủ nhà mình tới lễ Tết.

Thường khi một người tới lễ Tết nhà nào, nhà nấy sẽ có một người khác tới đáp lễ, vì khi người ta đã lễ tổ tiên nhà mình, mình cũng phải lễ lại tổ tiên nhà người tay. Tuy nhiên cũng có những trường hợp không cần có sự đáp lễ trên: con rể đến lễ

Tết nhà bố mẹ vợ, học trò đến lễ Tết nhà thầy, người làm công đến lễ Tết nhà chủ, người chịu ơn đến lễ Tết nhà người đã ra ơn cho mình.

Đàn ông đi lễ Tết, đàn bà cũng đi lễ Tết. Trong một gia đình chỉ cần một người tới lễ Tết một nhà, nhưng khi là chỗ thân tình, thường cả hai vợ chồng cùng đến, đi cùng một lúc hoặc đi hai buổi khác nhau.

người ta đi lễ Tết trong suốt ngày mồng một và mồng hai rất đông, bước sang ngày mồng ba, người ta thường đi lễ đền chùa nhiều hơn, tuy vậy có những người là con cháu trong ba ngày Tết chưa kịp đến lễ tại một nhà gia trưởng, hoặc nhà ông chú bà bác, thì sáng sớm ngày mồng bốn người ta còn vội vàng tới lễ Tết để kịp trước khi các nhà này hóa vàng tiễn các cụ.

các trẻ em tuổi đã hơi lớn hơn, trong ngày Tết cũng phải đi lễ Tết các nhà họ hàng.

Khi lễ Tết người ta chỉ lễ bàn thờ gia tiên mà không lễ bàn thờ Thổ công.

hIếu KháCh

người Việt nam vốn xưa nay hiếu khách, với ngày Tết tinh thần hiếu khách càng tỏ rõ hơn. Mỗi người tới lễ Tết đều được gia chủ niềm nở chào mời, và người khách sau khi đã lễ gia tiên

nhà chủ xong, thế nào cũng phải cầm miếng trầu, uống hớp nước.

Khách không thể từ chối, vì từ chối sẽ làm giông (rủi) nhà chủ.

nhiều nhà bày bánh mứt chè lam mời khách, khách muốn từ chối cũng không được. có chủ nhân lại ép khách nếm bánh chưng nhà mình, tuy rằng ngày Tết ở nhà quê nhà nào cũng có bánh chưng. Mời được khách nếm miếng bánh, được khách khen ngợi bánh ngon, người chủ nhà cho là điềm tốt. Bánh chưng ngày Tết thường được mời ăn với giò lụa hoặc cá kho.

Mời khách nếm bánh chưng ngày Tết các bà nội trợ cũng có ý muốn khoe tài bếp núc của mình. Giò ngày Tết thường là giò gia chủ đánh đụng lợn giã lấy và gói lấy. Khách khen ngon làm cho chủ nhân vui sướng.

có người sẽ bảo rằng như vậy đâu phải là hiếu khách mà đây chỉ là tính khoe khoang của chủ nhà.

Đúng, nhưng sự khoe khoang chỉ có một phần, còn chính là nhà chủ muốn mời khách ăn bánh của nhà mình, và người dân quên rất lấy làm hân hạnh được tiếp các bạn bè thân sơ ở các làng xa tới Tết nhà mình và mời dùng một bữa cơm Tết với mình. Trong những ngày hội xuân mở tại các làng quê, những người trong làng thường lấy làm sung sướng khi mời được những người quen biết tới xem hội làng vào nhà mình uống nước ăn trầu hoặc dùng cơm rồi nghỉ ngơi, nếu hội kéo dài nhiều ngày.

Trong ngày Tết, có nhiều người vì lòng hiếu khách thường dành bánh trái để mời khách, đúng với câu nhịn miệng thết khách.

KhAI BúT

các ông đồ, các tay văn tự, nhân dịp Tết thường chọn ngày giờ

tốt để khai bút. các ông làm một bài thơ, hoặc viết một câu đối.

Thơ hoặc câu đối này, làm xong có khách tới lễ Tết các ông đọc cho nhau nghe rồi cùng ngâm vịnh.

các học trò nhân ngày Tết cũng kén giờ hoàng đạo khai bút để

Diện hình và Tổ chức

cầu học hành tấn tới, thi cử đỗ đạt. Tục lệ khai bút của học trò, dưới thời pháp thuộc, tuy đi học chữ quốc ngữ và chữ pháp, vẫn được giữ. Tôi còn nhớ một bài thơ khai bút, lúc học ở trường làng, được thầy giáo đọc cho để học trò dùng khai bút trong ngày Tết: Mồng một tháng kiến dần

Cảnh sắc một màu xuân.

Cỏ hoa đà mừng mặt,

Mưa móc nhẹ đưa chân.

lớn khôn hơn một tuổi,

Mạnh giỏi chúc hai thân.

học hành ta tấn tới,

Thi đỗ cũng có phần.

gáNh NướC Đầu NăM Và NhấT BảN VạN lợI nhân ngày mồng một Tết, tại các làng quê, và ở ngay cả các thành thị nữa, có những người nghèo túng đi gánh nước ở giếng làng tới các nhà trong làng. Gánh nước đầu năm này được mọi gia đình đón nhận niềm nở, dù trong nhà không thiếu nước.

người ta tin rằng, đầu năm có người gánh nước tới nhà, quanh năm của sẽ vào trong nhà như nước. người gánh nước, sau khi đổ nước vào vại, vào chum, vào lu nước của nhà chủ thường được chủ nhân trả mở hàng một món tiền gấp năm gấp mười giá gánh nước, và người gánh nước cũng chúc chủ nhân những điều may mắn quanh năm.

có người lại cầu kỳ, hôm ba mươi Tết đi tìm người gánh nước dặn ngày mồng một Tết phải gánh nước tới nhà mình trước nhất để cái lộc đầu tiên sẽ được đổ vào nhà mình.

cùng một ý nghĩa như gánh nước, sáng ngày mồng một Tết, tại nhiều làng có những người đàn ông tới các nhà chúc Tết, mang theo những mảnh giấy đỏ có viết mấy chữ Nhất bản vạn

lợi, một vốn một vạn lời, hoặc Đại cát. người chúc Tết trao mảnh giấy đó cho chủ nhà với những lời chúc tụng, chủ nhà nhận mảnh giấy sẽ mở hàng cho người chúc Tết một món tiền.

gIÔNg (RủI)

Giông nghĩa là gặp sự không may quanh năm.

ngày đầu năm, người ta tránh mọi sự có thể giông.

Một đứa trẻ không ngoan ngoãn trong ngày Tết, phải mắng hoặc phải đòn bị giông sẽ phải mắng phải đòn quanh năm.

Đầu năm cãi nhau, quanh năm sẽ cãi nhau.

Mọi người đều giữ gìn trong mọi cử chỉ, luôn luôn vui vẻ

với mọi người, tránh mọi sự cau có, tránh những lời gắt gỏng, tránh những tiếng tục tằn, và tránh tất cả những cái gì có thể là một điềm gở báo trước một sự không may. người ta kiêng tiếng khỉ, tiếng chết. người ta lại kiêng mặc quần áo trắng, đội khăn trắng, trừ những người có tang, vì màu trắng là màu tang tóc. Và những người có đại tang, trong ngày mồng một Tết cũng kiêng không đến bất cứ nhà một người nào, e mang sự không may lại cho gia đình người đó.

KIêNg QuÉT Nhà

Trong ngày Tết nguyên đán, người dân quê kiêng quét nhà.

nếu nhà bẩn quá, người ta chỉ quét sơ, vun rác vào một xó, đợi ba hôm động thổ rồi mới đem đổ.

Quét nhà đổ rác ngày mồng một Tết, người ta sợ quét và đổ

đi mất Thần Tài.

traNh tết

nói đến Tết, không thể bỏ qua tranh Tết được, tranh Tết không phải chỉ riêng trẻ con chơi, người lớn cũng chơi tranh Tết, duy tranh Tết của người lớn có khác với tranh Tết trẻ con.

Diện hình và Tổ chức

TRANh TếT NgườI lớN

Để đón xuân về, người ta trang hoàng nhà cửa, và trong những đồ trang trí phải kể tranh Tết. Đây là những tranh nhắc lại những điển tích trong truyện cổ, đề cao tinh thần độc lập cũng như nền đạo đức của phương Đông.

có người treo giữa phòng khách một bức tranh Anh hùng độc lập tượng trưng bởi một con ó đậu trên mỏm đá cao. Hoặc có người treo trên vách bốn bức tranh về bốn mùa, tượng trưng bởi bốn loại cây có hoa hay không có hoa: mai, lan, cúc, trúc. cũng có khi là bức tranh trúc tước vẽ con chim sẻ đậu trên cành trúc, hoặc bức tranh lã Vọng, vẽ Khương Thái công câu cá ở Tây Kỳ.

những tranh trên ta thường thấy ở những gia đình trí thức, còn ở những gia đình bình dân đó là những bức tranh vẽ những cảnh trong các truyện Tàu: Tam Quốc, chinh Đông, chinh Tây... hoặc cũng có khi là những cảnh trong các truyện Việt nam: Thạch Sanh, nhị Độ Mai, Quan Âm Thị Kính... cũng có khi là những tranh vẽ những đoạn sử của dân tộc: phù Đổng Thiên Vương đổi giặc Ân, An Dương Vương và truyện Mỵ châu, Trọng Thủy, Sơn Tinh và Thủy Tinh v.v...

Tất cả những bức tranh giới bình dân ưa thích thường gồm từng bộ, mỗi bộ bốn tờ và một tờ có ba hình ảnh, tổng cộng mỗi bộ mười hai hình ảnh.

Tại những gia đình khá giả và trí thức trong làng, những tranh treo ngày Tết thường là những tranh Tàu, nghĩa là tranh do người Tàu sản xuất và bán tại Việt nam, có khi là một bức như bức tranh lã Vọng, hoặc bức tranh Anh hùng độc lập, có khi thành bốn bức, ta gọi là tứ bình. Bốn bức này có thể tả cảnh bốn mùa như mai, lan, cúc, trúc hay vẽ về nghề nghiệp như ngư, tiều, canh, độc...

có nhà, thay vì tranh Tàu, treo những bức tranh cổ cũng những đề tài trên, những bức tranh cổ này có thể do người Việt nam vẽ, có thể do người Tàu vẽ, và là của gia truyền của từng

gia đình. những bức tranh cổ gia truyền này, ngày thường được gói cất đi, chỉ được đem treo vào dịp Tết, hoặc vào những dịp chủ nhân tiếp khách lạ.

Lại có người trong giới trí thức không ưa treo tranh Tàu, ngày Tết cũng treo tranh, nhưng đây là những tranh in mộc bản, sản xuất tại Việt nam, cũng với những đề tài trên.

Tranh Tết của những gia đình bình dân cũng có hai loại: tranh Tàu và tranh bản xứ. Tranh Tàu in trên giấy trắng với kỹ thuật tinh vi hơn và chỉ vẽ lại những cảnh nhắc trong truyện Tàu. Tranh bản xứ in mộc bản, nét vẽ trông thô sơ, cũng vẽ những cảnh trong truyện Tàu, nhưng bên những bức tranh này, có rất nhiều những bộ tranh vẽ những sự tích ghi trong các truyện Việt nam.

nhiều người dân quê tinh thần quốc gia rất mạnh, ngày Tết chỉ chơi tranh Việt nam với những bức vẽ về lịch sử Việt nam hoặc về các sự tích trong các truyện Việt nam.

TRANh TRẻ eM

Đây là những bức tranh đặc biệt Việt nam, nhắc lại những sinh hoạt hàng ngày của dân quê Việt nam, hoặc đôi khi những truyện cổ tích Việt nam, hoặc những điều người Việt nam mong mỏi và cầu chúc cho nhau.

nhiều tác giả ngoại quốc đã nhắc tới loại tranh này với những sự phân tích tâm lý rất tỉ mỉ về người Việt nam.

TIếN lộC

những tranh trẻ em này, thường chỉ những trẻ em nhà quê ưa thích, các trẻ em ở thành thị, bị ảnh hưởng bởi sự chung đụng với ngoại quốc, nhất là với Tây phương dưới thời pháp thuộc, không chơi tranh Tết hoặc nếu có chơi tranh Tết thì đây cũng là những bức hình cắt trong sách báo Tây phương. Vả chăng ở

thành thị các em cũng không có chỗ nào để dán tranh, không 340

Diện hình và Tổ chức

như các em ở nhà quê, ngày Tết đến, ngoại trừ nhà thờ và phòng khách của người lớn, các nơi tường vách khác đều là các chỗ

để các em dán tranh.

Bước chân vào một nhà dân quê trước hoặc sau Tết ít ngày, mới đến cổng ta thấy ngay hai bức tranh đối nhau: Hai bức tranh này là hai bức tranh Tiến tài, Tiến lộc vẽ hình hai vị thần mũ áo triều phục văn quan, một vị mang biển Tiến tài, một vị mang biển Tiến lộc. Tục cho rằng dán hai bức tranh này ngoài cổng, tài lộc sẽ kéo vào trong nhà, và với năm mới, hai vị thần Tiến Tài, Tiến Lộc sẽ mang sự thịnh vượng lại.

cũng có nhà dán ngoài cổng không phải hai bức tranh Tiến Tài, Tiến Lộc, mà là hai bức tranh Vũ Đinh Thiên ái. Đây là hai vị thần y phục võ tướng, mỗi vị vác một thanh long đao.

Hai vị thần này trừ tà ma quỷ quái. người ta dán hai bức tranh này ngoài cửa để ma quỷ không dám vào trong nhà quấy nhiễu.

Vào trong nhà, trên các vách tường có thể, ta thấy la liệt những tranh:

Tranh đàn gà mẹ con, tượng trưng cho sự phúc đức đa đinh. Và đây cũng nói lên một cảnh sinh hoạt của người dân đồng quê: nuôi gà. Bức tranh lai còn tượng trưng cho tình mẹ thương con, con gà mái mẹ ấp ủ đàn con, sẽ vì đàn con mà chống lại một bạo lực.

Tranh con gà trống. con gà trống tượng trưng cho sự bất khuất không sợ kẻ thù, đồng thời nó cũng biểu hiện một đức tính cao quý là chữ Tín: hàng ngày nó gáy canh không bao giờ

sai. Gà trống là bạn của dân quê, nó đánh thức mọi người dậy đúng giờ đúng khắc để lo việc làm ăn.

Tranh lý ngư vọng nguyệt, hai con cá chép đối nhau, nhìn bóng trăng. Tranh này nhắc lại sự tích Cá chép vượt vũ môn để

hóa rồng. Đây là một sự khuyến khích các trẻ em phải cố gắng học hành để một mai thi đỗ cũng như cá chép vượt vũ môn vậy.

Diện hình và Tổ chức

Và tranh này cũng nhắc nhở người ta sự cần cù kiên nhẫn: con cá chịu khó còn vượt được vũ môn để hóa rồng thì con người ta hễ muốn là được, nhưng cần phải biết lập chí.

Tranh đàn lợn mẹ con cũng nhắc lại một cảnh sinh hoạt đồng quê: nuôi lợn. ngoài ra tranh này, cũng như tranh đàn gà mẹ

con, nói lên sự con đàn cháu đống và sự quây quần của gia đình.

Tranh đánh ghen với lời chú thích Nhân lão tâm bất lão, người già lòng chẳng già. Tranh vẽ cảnh vợ cả đánh ghen cùng vợ lẽ có ông chồng già ở giữa. Đây chỉ là một cảnh sống của dân quê. người đàn ông thường hay muốn vườn thêm hoa nên trong nhà mới sinh cảnh cả lẽ ỷ eo. Bức tranh có ý khuyên các bà vợ cả không nên ghen tuông, và các ông chồng cũng không nên đa mang vợ nọ con kia khiến cho cảnh gia đình lục đục.

nhưng nhân lão tâm bất lão, cả sông đông chợ, lắm vợ nhiều con, bức tranh dù muốn nêu điều gì, cũng không sao ngăn được người đàn ông năm thê bảy thiếp.

Tranh hứng dừa vẽ một người lên cây dừa hai quả ném xuống cho người ở dưới giơ váy lên hứng quả dừa. người ở dưới mải mê hứng quả dừa, đã không nghĩ rằng khi tốc váy lên thì để

hở cả cơ đồ ra, và quả dừa chỉ là lợi nhỏ, hở cơ đồ của mình ra là hại lớn.

Tranh đánh đu tả một cảnh hội Tết với cây đu, người thời lên đứng kẻ nhòm trông.

Tranh nông phu ngồi gốc cây với chiếc cày bên cạnh và con trâu nằm trước mặt.

Tranh Tờ tiền vẽ những đồng tiền xếp liền nhau. Dán tranh này trong nhà, người ta tin làm ăn sẽ kiếm ra tiền.

Mấy bức tranh trên dán trên vách nhà nói lên phần nào những nét sinh hoạt của dân Việt nam. Dưới đây là những bức tranh lịch sử và cổ tích các em thường mua về dán trong dịp Tết:

Tranh vua Đinh Tiên hoàng cưỡi trâu cầm cờ lau, nhắc lại lúc nhà vua còn nhỏ, cùng lũ mục đồng cờ lau tập trận. có điều hơi ngộ nghĩnh là vua Đinh cưỡi trâu cầm cờ lau nhưng lại mặc giáp trụ, tức là hình ảnh của nhà vua khi dẹp loạn Thập nhị sứ quân.

Tranh vua Đinh Tiên hoàng cầm cờ lau, cởi trần, chống kiếm đứng trên lưng con rồng. Đây là sự tích Chú chém cháu, cháu nhảy xuống sông, con rồng nó đỡ, nhắc lại truyện vua Đinh Tiên Hoàng đi chăn trâu của chú, đã giết trâu để khao lũ mục đồng, bị ông chú đuổi chém chạy đến bờ sông, gặp lúc đường cùng, nhảy xuống sông thì có con rồng vàng đưa lưng lên đón đỡ.

Lại còn một bức tranh nữa cũng về tích này vẽ nhà vua đứng trên lưng rồng ở dưới sông, còn ông chú ở trên bờ chắp tay lạy.

Tranh bà Trưng Trắc cưỡi ngựa cầm gươm, mình mặc giáp trụ, sau lưng có cắm bốn lá cờ.

Tranh Thạch Sanh bắn chim đại bàng, Thạch Sanh cứu công chúa dưới hang, Thạch Sanh giết mãng xà vương v.v...

Tranh Ngưu lang Chức Nữ, vẽ ngưu Lang ngồi dưới gốc cây, có con trâu nằm trước mặt ở một bên bờ sông ngân, đàn quạ

Diện hình và Tổ chức

đang bắc cầu Ô Thước, còn chức nữ ở bên kia bờ sông ngồi dệt vải, tay đang đưa thoi. Tranh này nhắc lại sự tích vợ chồng ngâu.

Tục truyền tháng Bảy mưa Ngâu,

Con trời lấy chú chăn trâu cũng phiền.

Một là duyên, hai là nợ,

Mối xích thằng ai gỡ cho ra?

Vụng về cũng thể cung nga,

Trăm khôn nghìn khéo chẳng qua mục đồng.(1) Tranh Chuột đỗ Trạng nguyên vinh quy bái tổ, ngựa anh đi trước, kiệu nàng đi sau. Và đám rước vinh quy này mang chim mang cá tới biếu chú mèo. Trên bức tranh có đề mấy hàng chữ: Thử bối đệ ngư: chí, chí, chí, nghĩa là đàn chuột dâng cá kêu chí chí chí.

Miêu nhi thủ lễ: mưu mưu mưu, nghĩa là chú mèo giữ lễ: meo, meo, meo.

Lại có hàng chữ nôm ở góc trái phía trên: Tác lạc: nghĩa là làm vui.

Khôn khôn khôn đã có dễ

Đỗ cao cưới vợ tiếng rằng hời.

Bức tranh này còn gọi là bức tranh Đám cưới chuột.

Tranh Thầy đồ cóc dạy học, trên bức tranh có bài cổ thi: Xuân du phương thảo địa,

hạ thưởng ngọc hồ trì,

Thu ẩm hoàng hoa tửu,

Đông ngâm bạch tuyết thi.

Tranh vẽ Thầy đồ cóc ngồi trên sập, có hai học trò cóc đang kể bài hai bên phía trước. Dưới có ba con cóc đang viết, một con quạt siêu nước. Lại có một con cóc bị ba con cóc khác nọc ra đánh đòn. chắc đây là chú cóc lười không thuộc bài.

1. Tản Đà.

Diện hình và Tổ chức

Hai bức tranh Đám cưới chuột và Thầy đồ cóc thường nhà nào cũng thấy có dán, và các trẻ em dường như thích những bức tranh này lắm.

Kể ra về loại tranh lịch sử và cổ tích còn nhiều: tranh Táo quân, tranh Quan Âm Thị Kính, tranh Lý Thường Kiệt v.v...

Và dưới đây là một số các bức tranh thuộc loại nêu lên những điều người Việt nam mong mỏi và cầu chúc cho nhau: Tranh Trường sinh, vẽ một cụ già râu dài, tay cầm quạt lông, cởi trần hở rốn, trên vai gánh một cành cây có treo lủng lẳng hai bên hai quả đào, một bên mang chữ trường và một bên mang chữ sinh. Trường sinh nghĩa sống lâu. Trên bức tranh cũng có một bài thơ nôm đại ý nói về sự sống lâu.

Tranh Bình an cũng vẽ một cụ già tay cầm quạt lông, cũng râu dài, cởi trần hở rốn và cũng gánh một cành cây mang hai quả đào viết hai chữ Bình an. Bức tranh cũng có một bài thơ

nôm đại ý nói về sự bình an.

Hai bức tranh Trường sinh và Bình an dán đối nhau.

Tranh Song hỷ vẽ hai đứa trẻ độ lên ba lên bốn tuổi, đầu còn trái đào, ăn mặc lễ phục, chân đi hài, một đứa cầm chiếc gậy đầu rồng, ở đầu có mắc chiếc đèn lồng, còn một đứa bưng chiếc khay trên đặt hai chữ Hỷ dính liền nhau. Đấy là song hỷ, chỉ

hai điểm mừng là phúc và Thọ.

Tranh Phúc lộc Thọ, vẽ một cụ giá cưỡi con hươu, có con dơi bay ở vai bên trái. Tay phải cụ già cầm một quả đào tiên.

cụ già tượng trưng cho Thọ, con hươu tượng trưng cho Lộc, còn con dơi tượng trưng cho phúc.

Kể ra, với ngày Tết, ở chợ quê, người ta còn bày bán nhiều loại tranh khác, và loại tranh nào cũng được các em ưa thích cả.

Trên đây chỉ là một số các bức tranh nêu ra để các bạn đọc có một ý niệm về tranh ngày Tết của trẻ em đồng quê thời trước, cho tới năm 1944.

Diện hình và Tổ chức

Dưới thời pháp thuộc, các hàng tranh vẫn giữ nguyên nếp cũ với những tranh xưa, nhưng có vẽ bán thêm nhiều loại tranh mới về văn minh tiến bộ và về các danh nhân thế giới như Lê nguyên Hồng...

Xin nhắc lại đây là những tranh mộc bản, in bằng mực đen, nhưng được các nhà sản xuất dùng phẩm tô màu sặc sỡ xanh, đỏ, tím, vàng...

Tranh được các bà hàng tranh bày bán vào dịp Tết, tranh bày la liệt trước mặt nhà hàng cứ hai bức tranh một, đối nhau.

Thỉnh thoảng mới có những bức tranh đơn độc như tranh Táo quân, tranh Thổ công tranh Tam da... Đặc biệt tranh Táo quân có hai loại cùng một hình, một loại in trên giấy vàng, chỉ in đen không tô màu, còn một loại in trên giấy trắng có tô màu ngũ sắc như các tranh khác. cùng với các loại tranh trẻ em, các bà hàng tranh thường có bán thêm những bộ tranh của người lớn đã nói ở trên, với đủ sự tích, mỗi bộ bốn tờ với mười hai bức tranh.

Về loại tranh trẻ em, cũng có loại tranh Tàu vẽ những hình em bé nghịch trái đào, em bé ôm con vịt v.v... nhưng trẻ quê đâu có tiền mà chơi tranh Tàu, vừa đắt lại vừa không hợp với sở thích của các em.

Tục chơi tranh Tết ngày nay không còn ở vùng quê nữa, nhất là đối với các trẻ em, vì người lớn vẫn có thể mua những bức tranh Tàu về trang hoàng nhà cửa. chỉ các em là thiệt thòi, nhất là ở các làng quê, chơi tranh quả là một cái thú của tuổi thơ khi Tết đến.

Câu ĐốI

Tết đối với các làng quê phải có câu đối, nhất là trước đây hai chục năm. cho đến ngày nay ở thành thị, vẫn còn nhiều người chơi câu đối Tết.

chính vì những người chơi câu đối Tết, mà mỗi độ Xuân

sắp về tại các chợ quê lại có các ông đồ bày hàng bán chữ, viết những đôi câu đối, có khi viết sẵn theo trong sách, có khi viết theo khách hàng đọc ra.

câu đối viết trên giấy hồng điều, chữ mực tàu đen nhánh hoặc chữ kim nhũ vàng óng ánh. cũng có khi câu đối được viết trên giấy đỏ có dát vàng lốm đốm.

ngày Tết, thiếu câu đối chưa là đủ Tết. Trong nhà dù trang hoàng thế nào, thiếu những đôi câu đối đỏ, Tết vẫn phảng phất thiếu một cái gì.

chơi câu đối, người ta chọn từng đôi cho hợp với cảnh, bởi vậy, nhiều người tự nghĩ lấy câu đối, viết lấy hoặc thuê các ông đồ viết giúp.

câu đối cũng như tranh Tết, người ta dán từ ngoài cổng vào đến trong nhà.

ngoài cổng ngõ, câu đối được dán hai bên trụ cổng.

Môn đa khách đáo thiên tài đáo

gia hữu nhân lai vạn vật lai.

Lược dịch:

Cửa nhiều khách đến nhiều tiền đến.

Nhà có người vào lắm vật nào.

Đôi câu đối trên thường được dân ở nơi cổng ngõ và nói lên lòng hiếu khách của người dân quê Việt nam. người ta mong có khách để được tiếp đãi, không phải là khách sẽ mang tài lợi hại, nhưng khách tới trong nhà sẽ có vẻ tấp nập và sự vui mừng, đó là biểu hiện của sự thịnh vượng.

Bước qua khỏi cổng, vào tới trong sân, đến trước hiên nhà, nơi đây có hòn non bộ, có vườn hoa cây cảnh, hoặc không có gì nữa thì ở ngay hai bên cột hai hàng hiên cũng có dán một đôi câu đối: Sơn thủy thanh cao xuân bất tận,

Thần tiên lạc thú cảnh trường sinh.

Lược dịch:

Diện hình và Tổ chức

Phong cảnh thanh cao xuân mãi mãi,

Thần tiên vui thú cảnh đời đời.

Đôi câu đối nói lên vẻ thanh nhàn của chủ nhân, nhưng thực ra có khi chủ nhân vẫn quanh năm đầu tắt mặt tối. chủ nhân chơi đôi câu đối này chỉ vì sự cảm thông với đất trời khi xuân trở lại, vì xuân năm nay đi, sang năm lại còn xuân khác, và xuân còn đến, tại sao chủ nhân không hưởng cái lạc thú trường sinh của đất trời.

Rồi vào đến trong nhà, dịp Tết, nhà nào ít nhất cũng có đôi ba đôi câu đối, hoặc viết trên giấy đỏ, hoặc viết trên những đôi liễn bồi có vẽ hoa cỏ hoặc chim phụng chim loan.

Thiên tăng tuế nguyệt, niên tăng thọ, Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường.

Lược dịch:

Trời thêm năm tháng, tuổi thêm thọ, Xuân khắp đất trời, phúc khắp nhà.

Ý nghĩa đôi câu đối trên thật giản dị và hợp với tâm hồn chất phác của dân quê.

Và đôi câu đối sau đây, ta thường thấy ở nhiều gia đình.

Tổ tôn công đức thiên niên thịnh,

Tử hiến tôn hiền vạn đại xương.

Lược dịch:

Công đức tổ tôn nghìn năm thịnh,

hiếu hiền con cháu vạn đời ngay.

Vì xuân đến cùng với Tết, nên nhiều đôi câu đối nhắc đến xuân: Xuân như cẩm tú, nhân như ngọc,

Khách mãn gia đình, tửu mãn tôn.

Lược dịch:

Xuân như cẩm tú, người như ngọc,

Khách chật trong nhà, rượu kết chung.

có khi nhắc đến xuân lại là một câu đối nôm:

Ngoài cửa mừng xuân nghênh Ngũ Phúc, Trong nhà chúc Tết hưởng Tam Đa.

cũng có đôi câu đối, tuy nhắc đến xuân, nhưng vẫn nói tới phúc lộc và lễ nghĩa là những điều cẩn trọng trong nền luân lý Á Đông, mà dân tộc Việt nam luôn luôn gìn giữ.

Phúc sinh lễ nghĩa gia đường thịnh, L ộc tiến vinh hoa phú quý xuân.

Lược dịch: Phúc đem lễ nghĩa trong nhà thịnh, lộc nảy vinh hoa phú quý xuân.

Xuân đến người dân quê cầu một mùa xuân như ý, cũng như

hàng ngày người ta mong mỏi sự bình an. Một đôi câu đối có thể nói lên sự cầu mong này:

Niên niên như ý xuân,

Tuế tuế bình an nhật.

Lược dịch: Năm năm xuân như ý,

Tuổi tuổi ngày bình an.

Lại cũng có đôi câu đối có giọng tâng bốc chủ nhà và khen chủ nhà chỉ có những khách tài ba tới mừng xuân: Nhập môn tân thị kinh luân khách,

Mãn tọa dai đồng cẩm tú nhân.