Làng Xóm Việt NamPart 3
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Lớp dân đinh cũng như dân ngoại tịch không được quyền tham dự vào việc làng, phải chịu sự chỉ huy của mấy lớp trên, và phải chịu phần gánh vác mọi việc phu phen tạp dịch trong làng. Trong phần gánh vác này, những người ngụ cư phải chịu gánh nặng hơn dân đinh bản xã.
Qua các điểm trên, ta thấy rằng, sự phân chia đẳng cấp trong thôn xã thật là phức tạp, và ranh giới giữa mọi đẳng cấp cũng thật nhiêu khê, nhưng thật tỉ mỉ. có như vậy mới giữ được cái tinh thần ngôi thứ ở xã thôn, nó bảo đảm cho cái trật tự của làng xã.
Tuy đẳng cấp được phân chia, nhưng không phải ở hạng nọ
không lên được hạng kia, ngoại trừ người ngụ cư. Tại các làng đều có tục mua nhiêu, mua xã. người dân bạch đinh có thể bỏ
tiền ra mua nhiêu, mua xã, và được xếp vào hàng quan viên. Sự
kiện này cũng dễ hiểu. Tiền mua nhiêu xã sung vào quỹ làng, 42
Diện hình và Tổ chức
và số tiền này sẽ dùng vào công việc chung của làng, người dân bỏ tiền ra mua nhiêu xã tức là ghé vai vào gánh vác việc làng, để đền đáp sự ghé vai này, lẽ tất nhiên phải có quyền lợi gì để
những người dân khác trông gương đó noi theo.
ngoài ra, những kẻ hiếu học thi cử đỗ đạt cũng được xếp vào hàng quan viên, điều này chỉ là điều khuyến khích việc học.
Với quyền lợi của hàng quan viên và của lão hạng, với sự gánh vách mọi việc phu phen tạp dịch của lớp dân đinh và của dân ngoại tịch, ta nhìn thấy sự bất công, nhưng ta phải thấy qua sự
bất công này cái tinh thần tập thể của dân làng; dân làng dành quyền chỉ huy cho lớp người có văn hóa, có khả năng, có uy tín và có kinh nghiệm vì tuổi tác. Và sự bất công ta nhận thấy lại chính là sự công bằng đối với dân đinh. Lớp quan viên và lão hạng chịu trách nhiệm chỉ huy công việc làng xã phải được hưởng quyền lợi xứng đáng với trách nhiệm nặng nề đó.
có lẽ sẽ có người cho là không đúng vì tại nhiều xã thôn đã xảy ra những vụ dân đinh kiện các huynh trưởng trong làng.
Xin thưa: đây là nạn cường hào ác bá, và nạn này chỉ xảy ra ở những xã phong hóa suy đồi, con người bị mê hoặc bởi quyền lợi, nhất là dưới thời pháp thuộc, chính quyền pháp tìm cách mua chuộc lớp cường hào để công việc đô hộ đỡ gặp những chuyện chống đối, và dùng lớp cường hào để làm tay sai đè nén và bóc lột dân chúng.
Tại những nơi, nền đạo đức còn vững bền với những thuần phong mỹ tục, dân làng cùng nhau chung lưng đấu cật để lo sự
hưng thịnh cho làng, các cấp chỉ huy trong làng đều là những người nghĩ tới làng, nghĩ tới dân làng, và dân làng chỉ biết tuân theo những hiệu lệnh của các cấp này mà họ tin là những người xứng đáng để họ tin cẩn. Họ chịu những sự gánh vác, họ nghĩ
rằng đến phép vua, còn thua lệ làng, việc chịu đựng của họ chỉ
là sự đương nhiên nếu họ muốn làng mạc yên ổn, không có trộm cướp, đê điều được trông nom cẩn mật v.v...
Và ở nơi đây, tầng lớp chỉ huy, với sự thấm nhuần đạo đức Đông phương, đã chẳng bao giờ trở thành những cường hào ác bá bóc lột dân làng.
Ta phải hiểu rằng tại nhiều xã thôn, những người nghèo được miễn sưu thuế, theo đúng lệ xưa, và ngay đến thời pháp thuộc, số thuế mỗi làng phải gánh vác, tuy chính quyền tính theo sổ
đinh, nhưng trong dân xã, người ta vẫn bổ bán với nhau giữa những người có khả năng đóng thuế và miễn cho hạng cùng đinh cũng như những người tàn tật già nua.
Tứ DâN
phân chia dân làng làm hai loại, nội tịch và ngoại tịch, nhưng trong hai hạng này đều gồm đủ sĩ nông công thương, bốn giới của dân cư. Đây là bốn giới phân biệt theo nghề nghiệp, không phải là bốn loại phân hạng của dân xã.
Theo ông Gerald c.Hickey thì những nhà điều tra gần đây cho rằng ở các làng tại Bắc và Trung phần sự phân hạng như
thể(1) vẫn còn tồn tại trước thời kỳ chiến tranh, và tiếp tục có một ảnh hưởng đến sự chọn lựa về nghề nghiệp. Vì tính cách tương đối cô lập của Nam phần, nên cách phân hạng sĩ, nông, công, thương chưa bao giờ trở thành rõ rệt trong xã hội hương thôn của miền Nam. (2)
nhận xét trên không sát với sự phân hạng của dân làng. có nhiều làng cả làng đều làm thợ, lại có những làng khác cả làng 1. Nghĩa là chia làm 4 hạng: sĩ, nông, công, thương.
2. Gerald C. Hickey với sự cộng tác của Bùi Quang Đa, - Nghiên cứu một cộng đồng thôn xã Việt Nam Xã Hội Học, - Phái đoàn cố vấn Đại học đường tiểu bang Michigan tại Việt Nam, 1960, Võ Hồng Phúc dịch.
Diện hình và Tổ chức
đều đi buôn. Thường ra trong một làng mỗi hạng trong tứ dân đều có một số ít.
Sự phân hạng theo đẳng cấp đối với các làng xã Việt nam mới là một điều cần thiết, vì còn liên quan tới việc quản trị cộng đồng của thôn xã.
PhâN Chia giai CấP ở miềN Nam
Ở miền nam sự phân hạng dân chúng trước đây rất giản dị, tại các làng chỉ có các chủ điền và các tá điền. chủ điền có ruộng nương, tá điền là người cầy cấy các ruộng nương của chủ điền và hàng năm nộp cho chủ điền một số tô tùy theo số
lượng nhận khai thác.
cũng có thể nói, trong làng chỉ gồm hương chức và dân đinh.
Hương chức là những người giữ các chức vụ trong làng, còn dân đinh là tất cả những người khác ở trong làng. Thông thường các hương chức phần lớn là các chủ điền, vì chỉ những người này mới được dân đinh tín nhiệm bầu ra. Đôi khi dân chúng cũng bầu vào chức vụ trong làng những bậc khoa cử và trí thức.
những người ngoại quốc, gần đây, nhất là người Mỹ khi khảo sát về dân chúng Việt nam có lối phân hạng khác. chúng tôi xin nhắc lại nơi đây để bạn đọc hiểu rõ sự phân hạng này tuy chúng tôi không hoàn toàn đồng ý. Theo họ dân chúng có thể
phân biệt thành ba giai cấp: giai cấp thượng lưu, giai cấp trung lưu và giai cấp hạ lưu. Tuy có sự phân chia giai cấp nhưng đây chỉ là một cách phân chia để phân biệt ba hạng người trong xã hội, không phải là một sự phân chia để đấu tranh.
Trong khi nghiên cứu về xã Khánh Hậu, quận Thủ Thừa, tỉnh Long An, ông Gerald c. Hickey đã nói đến sự phân hạng theo đẳng cấp này:
Trên căn bản mức lợi tức kinh tế, phản ánh trong địa vị
nghề nghiệp, số ruộng mà nông dân có hay mướn và nếp sống, người ta có thể chia Khánh hậu ra làm ba giai cấp: Thượng lưu, Thượng lưu và hạ lưu. Trong mỗi giai cấp, lẽ tất nhiên là có sự khác biệt nhau, nhưng những người trong cùng một giai cấp đều có một số đặc tính thông thường đủ để chứng minh sự
kết hợp của họ. (1)
gIAI CấP ThượNg lưu
Theo tác giả, giai cấp thượng lưu ở Khánh Hậu có thể nhận ra trong đám dân có trên 4 mẫu ruộng hoặc mướn trên 5 mẫu ruộng. Mức lợi tức kinh tế của những người này cho phép họ
duy trì một nếp sống tiểu quý tộc. Ruộng nương của họ, họ cho mướn, hoặc thuê người làm. Họ có dư tiền làm công việc khác hoặc cho vay nợ.
Ruộng nương sẵn, lại sẵn tiền, họ ở nhà gỗ mái ngói. nếu nhà giàu ở miền Bắc có nhà ngói bể cạn cây mít, thì ở Khánh Hậu đây, giai cấp thượng lưu cũng vậy, và ở nơi đây, bể cạn lại càng cần hơn để bảo đảm sự có nước dùng quanh năm, nhất là trong mùa nắng.
Đồ đạc trong nhà của giai cấp thượng lưu cũng lịch sự với những bộ ngựa, bộ phản, bộ tràng kỷ chân quỳ chạm trổ theo lối cổ xưa, với những bát đĩa sang trọng đồ Tây hoặc đồ Tàu.
Đàn ông ở giai cấp này thường mặc quần trắng áo dài đen, đầu để tóc, búi lại và đội khăn khi giao thiệp, còn thường ngày họ cũng mặc bộ quần áo bà ba trắng. chân họ đi giày, dép hoặc guốc.
Y phục của đàn bà ở giai cấp này hơi khó phân biệt với các giai cấp khác. Ở nhà họ mặc áo bà ba trắng, quần đen. Ra đường 1. Gerald C.Hickey. - Sách đã dẫn.
Diện hình và Tổ chức
họ đội nón hay quàng lên đầu một khăn lông. những khi cần thiết họ cũng mặc áo dài đen hoặc trắng bằng thứ vải tốt.
gIAI CấP TRuNg lưu
Đây là những người ruộng nương ít hơn những người ở giai cấp thượng lưu, phần đông họ theo nghề canh nông, tuy cũng có đôi người làm tiểu công nghệ để kiếm thêm cho quỹ gia đình.
Họ thường có từ hai đến bốn mẫu ruộng, hoặc thuê mướn từ hai mẫu rưỡi đến năm mẫu. công việc canh nông cung cấp đủ ăn cho gia đình, và để sinh lợi thêm, ngoài tiểu công nghệ họ còn nuôi thêm tiểu gia súc như lợn, gà, ngỗng, vịt...
nhà ở của giai cấp này thường là nhà gỗ mái lá, cũng có đôi nhà dành dụm làm nhà gỗ mái ngói. Đồ dùng trong nhà tuy không sang trọng cầu kỳ như đồ dùng của những gia đình thượng lưu nhưng cũng đẹp đẽ. Họ thường dùng những đồ chắc bền.
Về y phục họ cũng tiện dụng hơn giai cấp thượng lưu.
Lúc làm đồng họ ăn mặc đúng kiểu dân quê miền nam: quần cụt, áo bà ba bằng vải đen, nón lá. Trông họ ta có thể lầm với những người nông dân nghèo ở giai cấp hạ lưu. Họ thường đi chân không khi đi làm đồng.
Trong khi giao thiệp, họ mặc đồ bà ba trắng và đi guốc, nhưng trong những trường hợp quan trọng họ cũng khăn đóng áo dài.
Ấy là đàn ông, còn đàn bà, họ ăn mặc tương tự như phụ nữ
ở giai cấp thượng lưu. Ở trong nhà họ cũng quần đen áo bà ba.
Ra ngoài, trong những trường hợp giao thiệp, họ mặc áo dài đen hoặc trắng, thường kén những thứ hàng ít đắt tiền hơn phụ nữ
giai cấp thượng lưu.
gIAI CấP hạ lưu
Giai cấp này gồm tất cả những người không ở hai giai cấp trên. Đây là những người thường không có ruộng nương, hoặc
nếu có thì số ruộng cũng không đủ nuôi gia đình. Họ làm công cho những người ở hai giai cấp trên. có nhiều người thất nghiệp ăn nhờ vào người khác hoặc làm những nghề nghiệp mà hai giai cấp trên không làm. có người sống nhờ vào con cái, hoàn cảnh những người góa bụa, hoặc đi buôn thúng bán bưng.
Thường tất cả mọi người trong giai cấp hạ lưu đều bó buộc phải tham gia vào công việc sinh kế để góp phần vào sự no ấm cho gia đình, kể cả trẻ em: đàn ông con trai đi làm mướn, đàn bà làm tiểu công nghệ hoặc buôn bán loanh quanh, con cái đi ở mướn, đi chăn trâu, đi kiếm củi, đi câu v.v...
nhà cửa của giai cấp này thường nhà gỗ mái tranh.
cũng có ít gia đình có nhà gỗ mái ngói, nhưng việc xây cất cũng giản dị hơn nhà cửa của hai giai cấp trên, lại chật hẹp chỉ
đủ để gia đình trú ẩn.
Đồ đạc trong nhà thường là những đồ rẻ tiền mộc mạc, và bày biện một cách đơn sơ. có khi là những đồ cũ mua lại hoặc xin được của những gia đình giàu có.
gIAI CấP TạI MIềN BắC Và MIềN TRuNg Việc phân hạng xã hội như trên tại xã Khánh Hậu, quân Thủ
Thừa tỉnh Long An, liệu có thể tiêu biểu cho sự phân hạng xã hội tại các làng khác ở miền nam nước Việt chăng? Sự phân hạng này chỉ nhằm trên mặt xã hội, vì tại bất cứ xã nào, cũng vẫn còn có sự phân biệt giữa những người giữ các chức vụ trong làng và dân đinh.
Ở miền Bắc và miền Trung khi nói tới ba giai cấp, người ta thường căn cứ vào sự sang trọng phong lưu, vào trình độ
học thức và vào cách xử thế của con người. những bậc thượng lưu là những người có học vấn, có địa vị, có uy tín và nhất là có đạo đức. Bậc thượng lưu không có quyền có những hành động hèn hạ của hạng hạ lưu. giấy rách phải giữ lấy lề, một 48
Diện hình và Tổ chức
người được dân làng coi là bậc thượng lưu, dù ở trong hoàn cảnh túng thiếu cũng phải giữ lấy cái sĩ diện của mình, tỷ dụ
như một ông đồ thường được dân làng kính trọng và coi vào bậc thượng lưu, không thể có những cử chỉ thô kệch, và cũng không bao giờ dù muốn kiếm tiền, hạ mình làm những công việc của hạng hạ lưu. Muốn đứng vững ở địa vị thượng lưu, con người phải giữ lấy cái giá trị của mình, phải đói cho sạch, rách cho thơm.
những người ở giai cấp trung lưu, ở địa vị trung bình. có thể
là người có nhiều tiền, và cũng có thể là người không có tiền, nhưng đây là những người tuy có học nhưng trình độ không bao nhiêu, chỉ thông văn tự, không có địa vị gì ở trong làng, nhưng là những người lương thiện và giữ được đạo đức để khỏi bị liệt vào hạng hạ lưu. Giai cấp hạ lưu là những kẻ hèn hạ, nhân phẩm thấp kém, bị dân làng coi khinh, thường làm thuê làm mướn nhưng lại thiếu căn bản đạo đức. Đây lại gồm cả những kẻ có án tích, những kẻ gian lận trộm đạo trong làng, và cả những anh cùng đinh, suốt đời không bao giờ đóng nổi xuất thuế thân đến nỗi dân làng phải gom nhau gánh vác hộ.
Việc phân biệt làm ba giai cấp thượng lưu, trung lưu, và hạ
lưu không ăn nhằm gì với việc phân biệt dân đinh thành nội tịch, ngoại tịch và chia đẳng hạng như trình bày ở trên. Một người ở
giai cấp hạ lưu, vẫn có thể khi đến tuổi được dự việc làng nếu chịu khao vọng đủ lệ làng. Trong trường hợp này, thường thường các đương sự sau khi được dự vào việc làng, tư cách của họ cũng tự được sửa đổi để xứng với địa vị mới chốn đình trung và dần dần họ sẽ được người làng nhìn bằng con mắt khác và như vậy họ không phải ở giới hạ lưu nữa.
Tuy nhiên, không phải bất cứ người nào cũng được khao vọng. nếu là dân ngoại tịch, nếu là dân nội tịch cùng đinh mà suốt từ lúc thập bát cho đến khi đáo tuổi khao vọng không đóng
nổi thuế đinh của mình thì cũng không được phép khao để nhập đình trung. Lại cả những người làm những nghề quá hạ tiện như
làm mõ ở một xã khác hoặc liệt vào hạng xướng ca vô loài cũng không được khao vọng để nhập đình trung.
Qua các điểm trên ta thấy rằng việc phân biệt ba giai cấp thượng lưu, trung lưu và hạ lưu ở miền Bắc và miền Trung không căn cứ vào khả năng kinh tế như người Mỹ nhận xét ở miền nam.
PhâN hạNg theo tuổi táC
phân hạng theo đẳng cấp hoặc phân giai cấp đều là những cách phân hạng nhắm vào địa vị, vào trình độ văn hóa, vào khả năng tài chính của mỗi người. Hai lối phân hạng này phải căn cứ vào những yếu tố bên ngoài mà không căn cứ vào chính con người.
người dân quê chất phác, mặc cho ai muốn xếp hạng mình ra sao, bảo mình là trung lưu, bảo mình là bạch đinh cũng không hề
gì. phần đông họ không quan tâm tới những điều mà các hương chức cho là quan trọng vì đằng nào dân đinh, họ cũng chỉ là dân đinh, miễn là đừng ai khinh miệt họ khi họ không có điều gì đáng khinh miệt. Họ vui lòng chịu tất cả những sự gánh vác trong làng mà mọi người phải chịu. nếu có điều họ quan tâm tới, đó là tuổi tác của mỗi người trong làng, và theo họ phải có già có trẻ và sự phân hạng của họ là sự phân hạng theo niên kỷ.
Đó là lối phân hạng thông thường ở các làng ngoài sự phân đẳng cấp.
CáC Cụ gIà
Trước hết phải nói đến các cụ già, tuổi đã cao, đầu râu tóc bạc. Dù giàu, dù nghèo, dù nam hay nữ, tuổi trời là tuổi trời, và đã được thọ thì được xếp vào hạng lão.
Tuổi già được kính trọng và càng cao niên bao nhiêu dân làng càng kính nể chừng nấy.
Diện hình và Tổ chức
các trẻ em trong bài học luân lý, cũng như trong những lời khuyên của phụ huynh đều có sự kính trọng người già. Ra đường gặp người già phải nhường bước, phải giúp đỡ. Một cụ già lỡ
đánh rơi chiếc gậy, một em nhỏ gần đó phải nhặt lấy đưa cho cụ. Gặp người già, các em nhỏ phải chào kính, dù người đó giàu hay nghèo, dù người đó áo lành hay áo rách, dù người đó quen hay lạ, dù đây là một cụ ông hay một cụ bà.
Và các cụ già khi được các em nhỏ chào bao giờ cũng tươi cười gật đầu nhận sự chào kính và tỏ lời khen ngợi các em. có cụ hỏi thăm em là con cái nhà ai rồi khen con nhà này con nhà khác ngoan ngoãn lễ phép.
các em đối với các cụ già còn kính trọng huống gì người lớn.
những người không biết kính già nể tuổi thường bị mọi người chê cười cho là thiếu lịch sự.
Sự kính trọng người già được thể hiện trong những tiệc thọ, tiệc lão ở trong làng.
nhiều làng mỗi khi xuân đến có tục rước lão và yến lão.
Rước lão
Đây là đám rước người già. các cụ khi đến một tuổi nào, thường từ năm mươi tuổi trở lên, những làng đông dân đinh, từ
sáu mươi tuổi, được dân làng tôn là lão ông và lão bà. Trong ngày xuân dân làng tổ chức một đám rước để rước các cụ tới đình. các lão ông và lão bà tụ tập một nơi, dân làng mang âm nhạc cờ quạt tới rước. Đám rước đi suốt làng để các cụ nhận sự
chào mừng của mọi người, các cụ đi theo thứ tự tuổi tác, các cụ
nhiều tuổi đi lên trên, các cụ ông đi trước, hết các cụ ông rồi mới tới các cụ bà.
các cụ mặc quần áo màu đỏ rực rỡ tượng trưng cho sự vui mừng. các cụ ngồi trên cáng hoặc trên võng có dân đinh khiêng và có con cháu đi theo.
có nhiều địa phương, các cụ tới họp tại đình làng, từ đó dân làng sẽ rước các cụ đi một vòng quanh xã, rồi lại trở về đình.
Tuổi già được trọng chung không kể nam nữ, tuy nhiên trong việc rước lão, nhiều nơi chỉ có các cụ ông được dự và được dân làng rước đón, còn các cụ bà tuy có thọ, tuy có được sự kính trọng của dân xã, nhưng cũng không được dân làng rước trong đám rước lão. các làng này theo đúng lời dạy của người xưa là phụ nữ không dự việc làng.
yến lão. Bữa yến dành thết các cụ gọi là yến lão.
Sau cuộc rước lão, các cụ được dân làng mời dự yến tại đình cứ bốn người một mâm.
Trong bữa yến, thường các cụ được xơi yến; cũng có nhiều làng, tuy gọi là yến lão nhưng đây chỉ là mâm cỗ sang trọng để
mời các cụ xơi.
Trong bữa yến có bát âm cử nhạc, lại có ca nhi ngâm lên nhiều bài thơ hoặc ca trù chúc mừng các cụ có đốt pháo tưng bừng, và có cờ quạt, tàn tán cắm trước cửa đình phấp phới.
Yến dự xong, các cụ có phần mang về. Thường theo tục lệ, mâm yến các cụ thật là thừa thãi, các cụ chỉ ăn một phần, còn lại các cụ mang về chia cho con cháu để cùng hưởng lộc làng.
Kính già, già để tuổi cho, tuổi thọ là một điều hạnh phúc mọi người đều mong mỏi. Kính trọng người già để được sống bằng người già và để khi tới tuổi thọ cũng được sự tôn kính của lớp người tuổi trẻ.
nhiều làng không có lệ rước lão và yến lão, nhưng các cụ
già, tại bất cứ làng nào cũng đều có quyền lợi dành riêng cho tuổi mình, và ở chốn đình trung, chỗ ngồi của tuổi thọ bao giờ
cũng là những chỗ ngồi danh dự. Xin nói thêm là các cụ già quê thường để tóc để râu mái tóc trắng xóa và chòm râu bạc phơ.
Diện hình và Tổ chức
NhữNg NgườI lớN
Tính theo tuổi tác, dưới hàng các cụ là những người lớn.
Hai tiếng người lớn có vẻ mơ hồ và không có cương giới nào, nhưng ta phải hiểu đây là những người trẻ chưa qua, già chưa tới, những người tuổi chưa đến năm mươi, còn khỏe mạnh, chưa thể xếp vào hạng lão được, và những người này, ở trong làng phải kể là những người đã lập gia đình để phân biệt với hạng trai gái làng. cũng có thể có những người chưa lập gia đình, nhưng cũng đã luống tuổi lỡ thì không thể cùng đứng với hạng trai gái đang xuân của làng được.
Đây là những phần tử đông nhất trong làng và đây cũng chính là những cột trụ của những gia đình trong làng. Họ đã có nhiệm vụ đối với làng xã, có bổn phận nặng nhọc đối với gia đình.
Làng xã vững mạnh được chính nhờ sự đóng góp cả về mặt tinh thần lẫn vật chất của hạng người lớn này.
Họ không còn là những chàng trai mơ mộng, những cô gái ngây thơ nữa. những cái bông lông của tuổi trẻ đã biến thành sự
đứng đắn. Lập gia đình, họ lo về gia đình. Và dù cho họ có còn muốn giữ cái bông lông của tuổi trẻ, họ cũng không có quyền, và họ bị giữ gìn bởi chính người phối ngẫu với họ.
Một chàng đã có vợ mà còn muốn cợt ghẹo một cô gái ư?
Lập tức chàng được trả lời.
Đã thành gia thất thì thôi,
Đèo bòng chi lắm tội trời ai mang!
có khi cô gái chưa chồng lại nhắc cho chàng cái tính ghen tuông của vợ chàng:
Thấy anh, em cũng muốn chào,
Sợ rằng chị cả dắt dao trong mình.
Thế là anh chàng có vợ rồi, đâu còn dám giở chuyện nguyệt hoa. Anh phải lặng lặng quay đi, không biết có phải quay về
với ai kia ở nhà không?
Mẹ quê
(Ảnh: Nguyễn Mạnh Đan)
Diện hình và Tổ chức
Gái quê: Cô gái Cầu Lim
(Ảnh: Trần Lê Sinh)
Trai có vợ đã vậy, gái có chồng càng phải giữ gìn hơn. Đã có chồng, không được tỏ ý ong bướm lả lơi với bất cứ chàng trai nào, dù trai tân hay đã có vợ. Đàn ông ngoại tình còn khả
dĩ tha thứ được, chứ đàn bà ngoại tình, phong tục không dung và pháp luật cũng trừng phạt rất là nghiệt ngã.
chồng bắt được vợ ngoại tình ngày xưa có quyền gọt gáy bôi vôi, đóng cọc phơi nắng, và nghiệt ngã hơn lên quan, có khi quan xử bè chuối trôi sông.
Bè chuối trôi sông. Đây là một hình phạt hết sức nặng nề để
xử những người đàn bà đã có chồng còn ngoại tình.
người ta kết một bè chuối và trói ghì người có lỗi trên bè chuối này, có khi để ngồi, có khi để nằm. Trên bè chuối có một mâm cơm, một ấm nước, một âu trầu. Tay người này có thể cử
động để tự ăn uống lấy được nhưng không tự cởi trói được.
Bè chuối mang phạm nhân được đẩy ra giữa dòng sông, muốn trôi đi tới đâu thì trôi, mặc trời mưa nắng. Trên bè chuối có cắm bản án kể rõ tội lỗi của phạm nhân. Bè chuối theo dòng sông trôi đi, nếu vì sóng gió giạt vào bờ một xã nào, dân làng xã ấy sẽ lấy gậy, lấy sào để đẩy bè chuối ra. người đàn bà có tội phải chịu chết trên bè chuối, rồi diều hâu, quạ, kên kên sẽ cùng nhau xâu xé thân xác người này. Ta có thành ngữ đồ quạ mổ, đồ quạ
rỉa, để rủa các cô gái lẳng lơ, chính vì những cô gái lẳng lơ bị
quạ rỉa, quạ mổ khi mắc tội bè chuối trôi sông.
Kể ra, việc trừng phạt quả là nặng, nhưng người xưa muốn bảo toàn luân lý, muốn ngăn cản những trò trên bộc trong dâu thường phải nhắm mắt thi hành những hình phạt nặng nề này.
những người đã lập gia đình sớm muộn rồi cũng có con, phải nghĩ đến gia đình, phải nghĩ đến con cái.
Đây là những người lớn. những người lớn này, nếu mới lấy 56
Diện hình và Tổ chức
nhau chưa có con được gọi là anh đỏ, chị đỏ, (1) chữ đỏ nói lên sự vui mừng của cuộc hôn nhân hai người vừa kết hợp xong.
Khi đã có con rồi, anh đỏ, chị đỏ được đổi là anh cu, chị cu, hoặc anh đĩ, chị đĩ tùy theo đứa con đầu lòng là con trai hay con gái. Và người ta dùng ngay tên đứa con đầu lòng để gọi bố
mẹ. Thí dụ đứa con đầu lòng là con trai và tên là nam, người ta sẽ gọi bố mẹ nó là anh cu nam, chị cu nam. Lối xưng hô đặc biệt Việt nam này đã được nhiều tác giả ngoại quốc nói tới và cho rằng có nhiều điểm đáng lưu ý; Một là có sự nể nang giữa lớp người lớn với nhau khi họ đã có gia đình, con cái, hai là xác nhận một sự thay đổi vị trí của kẻ có con, làm cho kẻ đó và con của họ có một ràng buộc hiển nhiên, lại giữa kẻ đó với người bên ngoài cũng có một sự thông cảm tương giao rõ rệt. (2) Lớp người lớn, hoặc có vợ có chồng có con cái, hoặc vì luống tuổi lỡ thì, luôn luôn là lớp người nêu gương cho con trẻ, và mỗi khi hành động đều đoan chính nghiêm trang. Khi ra đường, y phục tề chỉnh không lôi thôi lốc thốc, và lớp người này gặp nhau thường chào hỏi nhau lịch sự. Trẻ con gặp người lớn cũng phải chào kính như khi gặp người già và những người lớn khi gặp người già cũng phải chào kính, và người già cũng lễ phép chào lại.
TRAI gáI làNg
Lớp người này không đông bằng lớp người trên, nhưng chính là lớp người đã khiến cho xóm trên thôn dưới rộn ràng tiếng nói tiếng cười, và đây là lớp người mang đầy hy vọng trong lòng và nuôi nhiều mộng đẹp trong tâm tưởng.
1. Cách xưng hô tại nhiều làng vùng Bắc Ninh, như các làng Thị Cầu, Đáp Cầu huyện Võ Giàng v.v...
2. A.Pazzi (tức nhà văn Vũ Hạnh) - Người Việt Cao quý. - sđd.
Đây là những chàng trai, cô gái đang ở tuổi dậy thì, mới lớn lên, lòng còn trinh trắng, trai thì khỏe mạnh căng đầy nhựa sống với mọi sự hăng say, gái thì duyên dáng xinh tươi, má hồng môi thắm, mắt trong và đen lánh với tiếng nói dịu dàng, với nụ cười êm ái.
Họ chưa thành gia thất, chưa được liệt vào hạng người lớn, họ lại đã qua lứa tuổi đánh bi đánh đáo, chơi truyền, chơi ô, đã vượt khỏi bọn trẻ con.
Trong họ đã có những cái gì trẻ con chưa có, thể xác nảy nở
hơn, tâm hồn phức tạp hơn. Gái lạ gặp trai lạ tự nhiên má đỏ
hồng, đôi bên mang tai như bừng nóng, và trai lạ thấy gái lạ như
ngập ngừng muốn nói muốn không, nhìn cô gái chỉ thấy xinh như tơ, đẹp như ánh sáng, và tim dồn dập như càng đập mạnh.
Tuổi thọ bắt đầu tìm yêu đương, và ở đâu có họ là vui đấy, nhất là khi một bọn trai gặp gỡ cùng một bọn gái.
chàng trai này nhìn cô gái nọ, cô gái nọ bấm chí cô bạn kia cùng nhau cười rúc rích, rồi vì là người làng đôi bên trai gái trao đổi cùng nhau những câu chuyện không đâu. Họ gặp nhau lúc đi làm đồng, lúc đi chợ, cũng như lúc cùng sang chuyến đò làng bên sông.
Chợ chiều hẹn chuyến đò ngang,
Trai làng cùng với gái làng qua sông.
Ngập ngừng câu chuyện bông lông,
hôm sau thành vợ thành chồng với nhau(1) Thực ra họ không thành vợ thành chồng dễ dàng như thế đâu!
còn phải các nghi thức của hôn lễ, còn hỏi còn cưới, còn đưa rể đón dâu, nhưng nói thành vợ chồng, là nói sự thành tựu ban đầu của đôi trai gái để đưa tới lứa đôi.
1. Vũ Quỳnh Bang, - Làng tôi, Bách Khoa số 49. ngày 1/15/1959.
Diện hình và Tổ chức
nhạc sĩ phạm Duy trong bản nhạc “Quê nghèo” có đoạn: làng tôi nghèo, nho nhỏ bên sông,
gió bấc lạnh lùng thổi vào mái rạ.
làng tôi nghèo, gió mưa tơi tả,
Trai gái trong làng vất vả ngược xuôi!
Làng quê Việt nam đã mấy làng là trù phú, thường hình thức bao giờ trông cũng nghèo nàn nhưng trong cái nghèo nàn luôn luôn tiềm tàng một sức lực, chính sức lực này nó đã duy trì làng xóm, đã bảo tồn dân tộc và chính sức lực này đã là sức lực chống ngoại xâm khi cần thiết.
còn trai gái trong làng, lẽ tất nhiên là phải vất vả ngược xuôi dù làng giàu hay làng nghèo. Trai vất vả ngược xuôi cày sâu cuốc bẫm để tạo cánh đồng chiêm nên những ruộng lúa vàng với mùi thơm lúa chín, với
lúa rạp rạp ngả theo chiều gió thổi.(1) Trai lại còn vất vả ngược xuôi về làng việc nước, nào đê điều, nào canh gác, nào phận sự này, nào nhiệm vụ nọ, lo đường lo sá, lo giữ làng, lo bảo vệ cánh đồng v.v...
còn gái làng thì ngược xuôi để buôn tần bán tảo trước là giúp đỡ mẹ cha, sau là gây chút vốn riêng, sắm bộ quần áo đi hội đi hè, hoặc nếu không buôn bán thì cũng hàng xay hàng xáo, hái dâu chăn tằm, dệt lụa quay tơ, hoặc phụ giúp công việc đồng áng, cắt cỏ cấy lúa, lo cơm nước thợ đồng...
Trai gái trong làng vất vả ngược xuôi, nhưng họ vất vả trong niềm vui, với tiếng cười giọng hát, với sự gặp gỡ trong làng ngoài ruộng, ngày phiên chợ, lúc sang sông.
Gặp nhau, đã quen thuộc, họ chào hỏi nhau. Tiện dịp họ mời nhau điếu thuốc miếng trầu. Miếng trầu là đầu câu chuyện. Gái ăn trầu cho môi thêm thắm, cho má thêm tươi, cho nụ cười thêm 1. Bàng Bá Lân, - Thơ Mùa Gặt.
duyên dáng, cho lòng thêm ấm trong những buổi trời đông tháng giá. còn trai ăn trầu vì tục lệ ăn trầu, ăn trầu cho chắc chân răng, ăn trầu để sẵn có trầu mời các cô gái làng e lệ nhưng tươi tắn.