Làng Xóm Việt NamPart 11

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Dân làng hội họp tại đình, kén chọn lấy một người có gia tư vật lực và là một người biết ít chữ cử ra làm việc. Tiên, thứ

chỉ, kỳ mục và các bô lão đều phải ký kết vào đơn bầu, rồi mấy người kỳ mục dẫn người mới được bầu ấy đem trình quan phủ, huyện sở tại, quan sở tại bằng lòng thì bẩm lên quan trên, cấp bằng triện cho lý trưởng, hoặc phê chữ vào đơn dân bầu mà cấp cho phó lý, hương trưởng làm bằng, từ đó thì người được bầu ra mới ứng hành công vụ. (1) 1. Phan Kế Bính. - Việt Nam Phong Tục.

Diện hình và Tổ chức

Khi dân làng nhận được tờ sức của phủ, huyện về việc bầu cử, không phải việc bầu cử tư động thi hành ngay, và dân làng họp ngay tại đình để bầu cử người mình cho là xứng đáng. phải có người ứng cử và người này phải nộp đơn trên phủ và huyện, khi nhận được đơn rồi, các viên tri phủ, tri huyện còn phải xét qua những điều kiện ấn định bởi luật lệ. nếu ứng cử viên hội đủ

những điều kiện bó buộc, đơn sẽ được chấp thuận và sẽ được tư

về làng để dân làng tổ chức việc bầu cử.

Không phải mỗi khi khuyết một chân lý dịch chỉ có một ứng cử viên, mà thường có hai ba người ứng cử. có người vì công tâm muốn lo việc dân việc làng, có người ham danh, có người nhằm vào lợi lộc khi đắc cử, và chính hạng sau này thường trở

thành cường hào ác bá!

Khi có năm ba người ra tranh nhau một chân lý dịch, việc tranh cử rất gay go và thường có những sự vận động với các chức sắc, kỳ mục để những người này bầu cho mình. Không khí tranh cử trong làng rất sôi nổi. Đã ra ứng cử ai cũng muốn trúng cử, và như vậy, phải tìm cách mua chuộc các cử tri, nghĩa là những người có quyền được đi bầu.

có những ứng cử viên làm tiệc tùng mời các quan viên, các bô lão, lại có những ứng cử viên khác, mua quà biếu các cử tri.

Việc vận động dưới thời pháp thuộc, người ta còn thường dùng tiền để mua chuộc lá phiếu.

Thời xưa, có làng, có lệ toàn dân từ 18 tuổi trở lên, không kể

đàn bà, đều được đi bầu, nhưng ở nhiều làng khác lại chỉ có các hàng bô lão, chức sắc, quan viên và hương chức đương và cựu mới được đi bầu. Việc bầu cử, dân làng thường xét theo tài đức, do đó thời xưa, nạn cường hào ác bá ít xảy ra hơn dưới thời pháp thuộc.

Dưới thời pháp thuộc, người pháp đã tìm cách để cho bọn tay sai được giữ những chức vụ tại các làng ngõ hầu dễ bề thao

túng sự cai trị, và người pháp đã dung túng cho những tay sai này làm nhiều điều áp bức dân chúng, đè nén dân chúng, cốt sao cho dân chúng ít nổi dậy chống pháp. pháp lại đã cải cách việc bầu cử lý dịch và dần dần thay việc bầu cử bằng việc tuyển trạch chỉ định như đã nói ở chương “Tổ chức làng xã”.

Trở lại việc bầu cử lý dịch, khi một người đã được bầu làm lý trưởng phó lý, trước khi lên tới phủ, huyện phải được các chánh, phó tổng hiệp cử.

Sau khi đã được sự chấp thuận của phủ huyện và của tỉnh, người trúng cử thường về làng khao vọng, trước là làm lễ thần linh trong làng, nộp lệ làng và sau là mời làng xã, nhất là các quan viên, chức sắc và bô lão đã bầu cử mình.

ngày xưa, những người trúng cử lý dịch, hôm bắt đầu nhận chức thường điếu tráp chỉnh tề, xuất bọn tuần phu, kẻ tay thước người sào gậy, rúc ốc, thổi tù và, và đi diễn từ đầu làng đến cuối làng một lượt, gọi là xuất tuần, nghĩa là trước mời dân sau cho tuần phu ăn uống một bữa, để tuần phu biết mình là người làm việc, cho từ sau dễ sai khiến bọn ấy, và xuất tuần đi như thế, để cho dân làng ai cũng biết mình là người đã ra cáng đáng công việc cho dân làng. (1) Bữa rượu mời dân làng và tuần phu hôm nhận việc gọi là bữa rượu xuất tuần.

Từ trên mới nói tới việc bầu cử hàng lý dịch. Dưới hàng này là các trương tuần, khán thủ, hương mục v.v... cũng do dân làng bầu ra, nhưng dân làng bầu xong là xong, không cần phải có sự ưng thuận của quan trên. Tuy nhiên, muốn được công nhận thường cũng có bữa tiệc khao vọng và cũng có sự xuất tuần như hàng lý dịch.

Đã nói về bầu cử, tưởng cũng nên nói qua về việc bầu cử

chánh, phó Tổng, tuy những vị này là chức dịch của hàng tổng nhưng vẫn có liên quan tới hàng xã.

1. Phan Kế Bính. - Việt Nam Phong Tục

Diện hình và Tổ chức

Việc bầu cử chánh, phó tổng cũng như việc bầu cử lý dịch mỗi khi có khuyết, các quan sở tại sức bầu người khác, hàng tổng mới tổ chức việc bầu cử. phải có người ứng cử, và các ứng cử viên, lẽ tất nhiên phải hội đủ một số điều kiện của tục lệ. Tất cả các kỳ mục trong hàng tổng đều được tham gia sự bầu cử

này. Việc bầu cử, khi thi hành xong phải có biên bản, và biên bản này phải được duyệt bởi quan trên.

Trong những cuộc bầu cử chánh, phó tổng thường các vị huyện quan hoặc phủ quan chủ tọa, và duyệt y biên bản do tỉnh quan.

các chánh, phó tổng trúng cử, cũng như các lý dịch thường có tiệc khao, và đây là tiệc khao hàng tổng. Trong tiệc khao này, tất cả các hương chức thuộc các xã trong hàng tổng đều được mời dự, và nhân bữa tiệc này chánh, phó tổng thường đem trình cho mọi người thấy bằng sắc giấy tờ của mình để chứng minh sự đắc cử và cũng để cho cả hàng tổng biết mình đã bắt đầu cáng đáng công việc trong tổng.

Tiếng nói rằng khao hàng tổng, nhưng các đương sự vẫn có cỗ bàn mời dân làng và có lễ tới đình để cúng thần linh.

Dân làng dự tiệc khao, công nhận quyền nhất chánh chi tổng của đương sự, và dân làng cũng lấy làm hãnh diện vì có người làng được làm đàn anh trong hàng tổng.

Việc bầu cử, cả chánh, phó tổng lẫn các chức dịch hàng xã, dưới thời pháp thuộc có nhiều sự thay đổi, và người pháp đã dần đi tới sự chỉ định để cố đặt các tay sai của mình vào các chức vụ quan trọng cai trị từ hàng xã trở lên.

CáC SiNh hoạt CộNg ĐồNg kháC

Trên đây là mấy sinh hoạt cộng đồng đáng kể của dân làng, nhưng ngoài những sinh hoạt trên còn nhiều sinh hoạt khác, cũng rất quan trọng đối với dân làng, như việc hộ đê làng trong

vụ nước, việc cử phu phen tham gia các công việc hàng tổng hàng huyện, việc bổ bán sưu thuế, việc tương tế, việc tế tự, và các việc lễ lạc khác như cầu mát, kỳ an v.v...

Tóm lại, sống ở làng, dân làng tuy có sinh kế riêng, nhưng vẫn có những sinh hoạt chung trên nhiều bình diện mà đã là người dân không thể không tham gia được. chính những sinh hoạt chung này đã tạo cơ hội để dân làng đoàn kết chặt chẽ với nhau hơn, để thương yêu làng nước hơn và do đó cuộc sống hòa đồng đã gây được niềm thông cảm giữa mọi tầng lớp trong dân xã, đã củng cố lệ làng, đã bảo toàn thuần phong mỹ tục, đã giữ vững đạo đức, đã duy trì lễ nghi và nhất là dân làng đã cùng lo tới việc làng. Làng mạnh là nhờ dân, và dân có an cư

lạc nghiệp cũng là nhờ làng.

Diện hình và Tổ chức

TàI LIệU Đọc THêM

trồNg dâu ChăN tằm

Nếu chúng ta có dịp xuôi nhất là những xứ kém mở mang theo dòng nước trên các

về kỹ nghệ như nước ta. Người

con sông miền Bắc, từ sông

dân quê Việt Nam, trăm người

Đuống đến sông Cầu, từ sông

như một, đã thạo nghề nông họ

Nhuệ đến sông Thương, chúng

biết cả nghề tằng tang nữa.

ta sẽ phải chú ý tới những ruộng

Sách có câu ‘‘ Tích cốc phòng

dâu ở hai bên bờ ven sông. Nếu

cơ, tích y phòng hàn ”, thì người

phong cảnh hai bên bờ của một

dân quê Việt Nam, nhất là ở

dòng sông được thay đổi bởi núi

Bắc Việt, khi đã lo đến đói, tất

cao rừng rậm ở miền thượng

nhiên họ phải phòng tới rét. Bởi

du, thì khi dòng sông chảy tới

thế cho nên, muốn có ăn họ cấy

trung du, ăn về đồng bằng

lúa cày ruộng, và muốn có mặc

những cảnh núi rừng cao rậm

họ phải trồng dâu chăn tằm.

đã được thay thế bằng những

Trồng dâu chăn tằm liên

ruộng ngô, ruộng đậu, và nhất

quan rất nhiều tới đời sống

là ruộng dâu. Ruộng dâu có

hàng ngày của người dân, nên

nhiều về mạn trung du hơn. Có

ruộng dâu và guồng tơ đối với

lẽ đất nửa núi nửa sông ở mạn

họ cũng quý giá không kém

này hợp với cây dâu, và khí hậu đồng lúa và bịch thóc.

ở nơi này cũng thuận tiện với

Người dân quê sống giữa

nghề tằm tang nhiều!

ruộng dâu, cũng như sống bên

Nông tang là hai nghề cốt

ruộng lúa, cạnh lạch nước, trên

cán của những xứ nông nghiệp

đám đậu, nương khoai.

Nhà em ở dưới đám dâu,

Cùng trông lại mà cùng

Thân trên đám đậu, đầu cầu

chẳng thấy,

ngó qua.

Chỉ xanh xanh những mấy

Ngó qua nhà trống bên

ngàn dâu.

sông,

Ngàn dâu xanh biếc một mầu,

Thấy con bìm bịp khăn

Lòng chàng ý thiếp ai sầu

hồng quay tơ.

hơn ai.

Dâu trồng bằng cành. Người

Bao nhiêu dâu xanh là bấy

trồng dâu, đốn cành ở các cây

nhiêu tiền bạc của người dân.

dâu khác, dăm xuống đất,

Người trồng dâu mong lá dâu

những cành đó nẩy mầm, bén

tốt cho tằm hơn tơ.

rễ rồi mọc cây.

Thường thường hái dâu chăn

Mỗi năm dâu phải đốn hai

tằm là công việc của phụ nữ.

lần để chặt hết những cành già,

Chỉ phụ nữ mới có đức tính

thân cỗi, cho những mầm non

chịu khó nhẫn nại cần cù để

mọc lên, nẩy ra nhiều chồi lá.

theo dõi việc nuôi tằm, bận rộn

Lá dâu xanh um, trông mơn

vất vả hơn nuôi con mọn.

mởn như lụa nõn. Lá dâu hái

Người nuôi tằm tùy theo số

để nuôi tằm lấy tơ.

tằm đang gây, đã ăn ngủ mấy

Vườn dâu xanh ngắt, liên

lượt, phải đi dạm mua dâu từ

tiếp ở cạnh những bờ sông, đón

trước. Họ đến từng chủ vườn

tia nắng sớm, hứng ánh sương

dâu, đặt tiền mua lứa dâu sắp

đêm, hút hơi ẩm bốc từ mặt

tới, và khi cần đến họ mới cắt

sông khiến là dâu thêm tốt, tằm

người đi hái dâu.

ăn sẽ đượm tơ.

Trồng dâu ở ven bờ sông,

Du khách xuôi dòng sông chỉ

nhưng người ta trồng cả trong

thấy những ruộng dâu bát ngát,

vườn nữa. Một vườn dâu, một

xanh xanh rồi lại xanh xanh.

năm bán được nhiều lứa. Loạt

Giá có những buổi tiễn đưa,

lá dâu này hái đi, vài tháng

chắc người đi kẻ ở sẽ:

sau, loạt lá dâu khác đã mọc

Diện hình và Tổ chức

lên, cũng xanh nõn rậm rạp

nếp khăn. Những con bướm đậu

như lứa trước.

trong đám lá khi thấy động bay

Đi hái dâu, các cô thường rủ

vụt ra vàm lá lượn quanh khóm

nhau vài ba người, như thế để

dâu trước khi đậu vào một cành

vườn dâu nào đã hái thì hái cho khác. Vài con chim khuyên líu xong hẳn, và công việc làm cho

lo hót ở một bụi xa xa. Mây trời

bạn bao giờ cũng nhanh chóng

giăng hàng lững thững. Tia

nhẹ nhàng hơn.

nắng mặt trời tỏa từ thấp lên

Vườn dâu xanh xanh, ánh

cao. Dòng sông bên cạnh vườn

nắng bình minh tía chói những

dâu chảy lửng lờ. Vài con thuyền

hạt sương sớm lóng lánh như

đủng đỉnh trôi theo dòng nước.

muôn ngàn hạt trai trên những

Các cô ham với công việc.

lá dâu. Cơn gió nhẹ làm rung

Mỗi lá dâu các cô hái đều là

cành lá để bóng các cô hái dâu

món ăn của tằm và mỗi con tằm

thấp thoáng hiện ra như những

sẽ nhả tơ kết kén, kéo kén dệt lụa

nàng tiên trong vườn. Má các cô

các cô sẽ có những chiếc áo đẹp.

ửng hồng dưới nắng mai, môi

Em đi hái dâu,

các cô thắm, mắt các cô trong.

Lá dâu xanh xanh

Chiếc khăn mỏ quạ để lộ khuôn

Nuôi tằm dệt áo dâng anh

mặt trái soan xinh xắn. Các cô

chờ ngày:

cười có hai hàm răng đều như

Trúc mai có đó có đây

hạt lựu và đen nhánh như hạt

Có tay Nguyệt Lão buộc dây

na già. Tay các cô thoăn thoắt

tơ hồng.

đưa những lá dâu. Cành dâu lay

Vừa hái dâu các cô vừa nghĩ

động theo ngón tay các cô hái lá.

đến công việc chăn tằm ươm tơ.

Mỗi khi các cô vít cành dâu cao,

Lá dâu xanh, tằm ăn dâu, tằm

lại làm rung rinh cả bụi dâu,

nhả kén vàng, kéo ra tơ nõn.

khiến những hạt sương rơi lả tả.

Các cô cùng trò chuyện, nào

Gió sớm như muốn vờn vài sợi

chuyện làm ăn, nào chuyện

tóc của các cô phơ phất ngoài

làng trên xã dưới nào lứa kén

này được, lứa kén kia hỏng. Các tằm ăn rỗi tức là lúc tằm sắp cô làm quên mỏi. Đôi bàn tay

chín, có thể cho tằm ăn cả lá

trắng muốt đưa đi trên đám

dâu.

dâu xanh. Hết nhánh dâu này,

Nuôi tằm lúc tằm nhỏ tuy

các cô hái sang cành dâu khác,

vất vả nhưng không phải chạy

hết khóm dâu này, các cô đi tới

dâu, nhưng lúc tằm lớn, phải có

khóm dâu kia. Bao giờ cho lá

sẵn dâu, không thể để tằm thiếu

dâu đầy giành đầy giỏ, các cô

ăn được.

mới rủ nhau ra về.

Một bát trứng tằm nở ra, lúc

Có khi các cô cùng nhau hát

nhỏ chỉ để trong một cái mẹt,

vài câu để quên mệt. Giọng các

rồi theo với sức lớn của tằm

cô vút trên ngàn lá, văng vẳng

phải chuyển sang một chiếc nia,

xa đưa, lan trên giòng sông.

một chiếc nong rồi nhiều chiếc

Có những câu hát tâm tình, có

nong. Một nong tằm khi chín,

những câu hát cổ tích, có những kéo kén, số kén sẽ được nhiều câu ca dao dịu dàng và cũng có

nong:

những câu hát khôi hài ý nhị.

Một nong tằm là năm nong

Một cô hát lên, vài ba cô hát

kén,

đáp, vườn dâu như trở nên linh

Một nong kén là chín nén tơ.

hoạt hơn. Rồi có tiếng cười hồn

Công em trăm đợi nghìn

nhiên xen vào vài câu chuyện

chờ,

vui vẻ.

Mà anh rứt chỉ guồng tơ cho

Dâu hái về hoặc để nguyên

đành.

cả lá cho tằm ăn, hoặc phải

Nuôi tằm rất khó khăn, phải

thái nhỏ từ khi tằm mới nở cho

che nắng che gió, phải phòng

tới khi đã ngủ ba. Tằm có khi

nóng, phòng lạnh. Trời đang tự

ăn khi ngủ. Lúc tằm nhỏ, phải

nhiên, nếu chuyển gió tây, tằm

cho ăn đầy bữa, và lá dâu phải

sẽ bị hỏng. Có thể tằm mắc bệnh

thái thật nhỏ. Tằm lớn dần thì

nghệ, nghĩa là toàn thân con

dâu thái bớt nhỏ đi, đến khi

tằm vàng như nghệ, hoặc mắc

Diện hình và Tổ chức

bệnh ủng, nghĩa là thân con

Người nhà cũng phải ngưng

tằm mọng những nước mà chết:

công việc khác để giúp đỡ vào

Lạy giời đừng chuyển gió tây,

lứa tằm.

Lứa tằm em đã đến ngày

Rồi đến lúc tằm chín. Loáng

nhả tơ.

thoáng trong nong vài con tằm

Tằm đã ăn rỗi nghĩa là tằm

nhả tơ cuộn kén. Bây giờ là lúc

đã sắp chín. Lúc này là lúc rất

phải cho tằm lên né.

cần nhiều dâu cho tằm ăn. Mỗi

Chiếc né tằm giống như một

lá dâu lúc này là một sợi tơ.

chiếc vỉ lớn bằng chiếc nong,

Thiếu ăn khi tằm kéo kén, thân

đan bằng tre hoặc nứa. Ở các

kén sẽ mỏng, ươm kén sẽ thiệt

mắt chiếc vỉ lớn này, có ken

tơ. Lúc này là lúc bao nhiêu

rơm. Những con tằm chín được

vườn dâu đặt trước, người nhà

nhặt từ nong đặt lên trên né

phải chia nhau đi hái để đủ cho

bám vào những cụm rơm để

tằm ăn. Như vậy tằm mới đầy

làm kén.

kén, và đượm tơ.

Cảnh bắt tằm chín đặt lên né

Phương ngôn có câu “Ăn như trông rất hoạt động. Ở những tằm ăn rỗi” để chỉ sự ăn nhiều,

chiếc nong to, tằm còn đang ăn,

ăn nhanh, ăn bỗ bã, thật là

người ta chọn những con nào

đúng. Tằm cắn vào lá dâu rào

đã bắt đầu nhả tơ kéo kén, nhặt

rào. Lượt dâu vừa rứt vào nong

để trên né. Một dãy nong dài

tằm, không mấy chốc đã hết,

dầy tằm, lẫn lá dâu đặt ngay

lại phải vứt luôn lượt dâu khác.

trên mặt đất. Vài cô thiếu nữ

Thân những con tằm trông óng

tiếp tục vứt dâu cho tằm ăn. Bà

ánh mọng những tơ. Người nuôi nội trợ và vài bà già nữa lựa tằm đã phải vất vả, nhưng nhìn tằm mang lên né. Lũ trẻ con đến kết quả người ta càng chịu

chạy quanh, bi bô chỉ chỏ, như

khó hơn.

hình chúng chia vui với kết quả

Các cô chia lượt nhau đi

tốt đẹp của lứa tằm sẽ mang lợi

hái dâu và săn sóc cho tằm ăn.

cho gia đình.

Một đẫy né treo theo xà

cho những nong tằm không còn

nhà, chừng hai chục chiếc song

nữa. Mỗi nong kén là chín nén

song, khẽ lắc lư theo sự đụng

tơ và mỗi nén là một số tiền

chạm của người đặt tằm vào

trả công khó nhọc cho gia đình

né. Những con tằm bám vào

chăn tằm.

cụm rơm, cuộn tổ. Đầu tiên là

Thường thường, trong những

những chiếc kén vàng mờ mờ

lứa tằm được, những con tằm

mong mỏng, còn để cho ta thấy

được nhấc lên né đều kéo kén

rõ con tằm qua lượt tơ óng ánh.

nhả tơ hết họa hoằn mới phải

Rồi chiếc kén dầy dần, hình con

một vài con tằm yếu không kéo

tằm không còn lờ mờ qua lượt tơ

tơ nổi, rơi xuống đất.

nữa. Những chiếc kén vàng ánh

Một lứa tằm xong người ta

nằm bên nhau, phủ lên chiếc né.

như vừa xong một gánh nặng.

Thật là trồng cây đến ngày ăn

Bao nhiêu là vất vả, bao nhiêu

quả. Người ta sung sướng nhìn

là sự săn sóc, bao nhiêu công

những ổ kén đậm tơ vàng.

trình. Nào thức đêm, nào dãi

Tằm đã lên né hết, mỗi con

dầu mưa nắng để hái dâu.

tằm đều đã cuốn kén. Người

Những nong kén đã xếp lên

ta bắt đầu gỡ kén để vào nong.

cũi tằm, lứa tằm mới thật là

Người ta khe khẽ nhặt từng

xong.

chiếc kén khỏi cụm rơm để

Từ nay người ta có thể nghỉ

xuống nong. Những chiếc kén

vài bữa để lấy sức và người nhà

dây tơ được nhặt trước, và

đã phải phục dịch khi tằm chín,

những con tằm còn bám trên

nay có thể quay lại công việc

né tiếp tục nhả tơ kéo cho xong

của mình.

chiếc kén của mình.

Số kén thu hoạch được, người

Những nong kén dầy, màu

ta có khi đem bán cả, và sau

vàng óng ánh. Mùi tơ thơm

vài ngày nghỉ ngơi lại tiếp tục

thơm. Từng nong kén một,

nuôi lứa tằm mới. Mọi công

người ta xếp lên cũi tằm, thay

việc hái dâu, thái dâu cho tằm

Diện hình và Tổ chức

ăn, lo tằm ngủ lại bắt đầu.

Chàng ngồi đọc sách, nghĩ tới

Cũng có khi người ta chỉ bán

ngày võng anh đi trước, võng

một phần kén, người ta để lại

nàng đi sau, trong khi nàng

một số để ươm tơ dệt lụa.

guồng tơ đều tay, sợi tơ theo

Kén cho vào nồi nước sôi, rút đà tay cuốn lên chiếc guồng tre ra những sợi tơ gốc và sau đó

quay lạch xạch một nhịp đều

cho vào guồng ươm để quay lấy

hòa. Ngọn đèn le lói như soi

tơ nõn. Chỗ tơ gốc kéo ra, lại

tỏ sự cố gắng của đôi người.

phải cho vào guồng tơ để guồng

Chàng lo làm sao cho kinh sử

thành từ con tơ, tiện cho việc

làu thông, một ngày kia danh

dệt lụa, nái, dũi hoặc sại. Còn

chiếm bảng vàng, trước là bõ

chỗ tơ nõn sẽ dệt ra lụa nõn.

công đèn sách, sau là báo đền

Thường thường những người

công sinh dưỡng của mẹ cha,

trồng dâu chăn tằm không tự

và sau nữa là làm vinh dự cho

ươm lấy tơ, chỉ những khi cần

người vợ cần cù, nuôi chồng

có áo quần mặc, họ mới dành

ăn học mải lo đêm lo ngày với

lấy một số kén nhỏ để tự ươm

chiếc guồng tơ, với nong tằm

kén kéo tơ.

chín, với bao nhiêu sự vất vả

Xưa kia, họ thường guồng tơ

nhọc nhằn. Nghĩ đến ngày vinh

về ban đêm. Trong những lúc

quy bái tổ, làng nước mừng,

phụ nữ guồng tơ, thì các ông

họ hàng khen, chàng càng cao

chồng đọc sách, ngâm thơ:

giọng đọc sách.

Sáng trăng, trải chiếu hai

Còn nàng cố công lo làm ăn,

hàng,

guồng tơ cho đều tay, dệt những

Cho anh đọc sách, cho nàng

tấm lụa nõn. Lụa sẽ may áo cho

quay tơ.

chồng, lụa sẽ đem bán để thêm

Quay tơ phải giữ mối tơ,

tiền cho chồng kinh sử. Có phút

Dù năm bảy mối vẫn chờ

nào nhàn, nàng lại lo việc thêu

mối anh.

thùa may vá, như suốt từ thời

Thật là một cảnh nên thơ.

con gái.

Gái thì giữ việc trong nhà,

Ăn mừng hai họ đủ ba tháng

Khi vào canh cửi khi ra thêu

chầy.

thùa.

Hàng phủ, hàng huyện đông

Trai thì đọc sách ngâm thơ,

tây.

Dùi mài kinh sử để chờ kịp

Rủ mừng quan trạng tới

khoa.

ngày hiển vinh.

Mai sau nối được nghiệp

Nhưng người dân quê Bắc

nhà.

Việt dù xưa hay nay, bản tính

Trước là đẹp mặt sau là ấm

không bao giờ thay đổi.

thân.

Đàn ông thì ham học, phụ nữ

Cái thời xưa đã qua, nay

thì ham làm. Nam nữ đều lo tới

không còn nữa. Không còn đâu

bổn phận của mình. Những bản

chuyện:

tính thuần chất Việt Nam mặc

Trai thì đi học đỗ ba khoa

mọi cuộc biến thiên vẫn tồn tại

liền,

với xứ sở. Người dân quê vẫn

Khoa trước thì đỗ khôi

trồng dâu chăn tằm, guồng tơ

nguyên.

dệt lụa, vẫn có mối tình thắm

Khoa sau tiến sĩ đỗ liền ba

thiết với quê hương, cái mối

khoa.

tình nó đã làm cho dân tộc Việt

Vinh qui bái tổ về nhà.

được trường tồn bất diệt.

Diện hình và Tổ chức

lệ làNg

ta có câu “Phép vua thua lệ làng”, và các cụ lại hằng nói “hương đảng, tiểu triều đình”, vì mỗi làng đều như một nước nhỏ có những tục lệ riêng của mình mà phép vua cũng không vượt được, nhất là đối với những điều gì không liên quan tới quốc gia.

chính vì vậy, nên thời xưa, thường những đạo chỉ dụ của nhà vua đối với các làng xã không chú trọng tới phần tổ chức, chỉ

nhắc nhiều tới bổn phận của làng xã đối với quốc gia như ấn định thuế khóa, tuyển dụng binh lính, hoặc đôi khi tới những vấn đề liên quan tới một vài khía cạnh riêng như cải cách điền địa, tổ chức an ninh, kiểm soát tài nguyên của đất nước.

ngoài ra, một sự điều hành trong làng đã có lệ làng. Đây là một điểm đặc biệt của làng xã Việt nam. Làng xã không do pháp luật tổ chức, trái lại luật pháp chỉ công nhận là có làng với luật lệ riêng.

hươNg ướC

Tất cả những luật lệ riêng của làng xã đều bất thành văn, và người làng hiểu với nhau như những sự giao ước, do đó luật lệ

của làng được gọi là hương ước.

Dưới thời pháp thuộc để buộc dần các làng quê và khuôn phép, người pháp bắt buộc mỗi làng phải lập bản hương ước, có hội đồng kỳ mục ký vào, các quan tỉnh phê chuẩn và đệ trình tỉnh hiến người pháp duyệt y.

Thực ra, cho tới thời pháp thuộc, hương ước khẩu truyền của các làng chưa bao giờ được nghiên cứu kỹ lưỡng và hương ước mỗi làng không giống nhau. những hương ước này được dân làng áp dụng cho nhiều vấn đề rất khác nhau và rất tạp nhạp, từ việc tổ chức trong làng đến phụ quyền, từ những vấn đề tư

pháp tới đời tư của dân làng.

những hương ước được tạo thành dường như căn cứ một phần theo lẽ phải tự nhiên, một phần theo nền nếp đạo đức của nho học và một phần dựa vào các chỉ dụ của triều đình.

Đạo Dụ CủA VuA lê TháNh TÔN

Sử gia Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam sử lược có nhắc tới đạo dụ của vua Lê Thánh Tôn về việc sửa đổi phong tục các làng. Đạo dụ này gồm 24 điều đã là một đạo luật có giá trị chi phối tổ chức làng xã dưới thời bấy giờ.

Để bạn đọc tìm hiểu cặn kẽ về hương ước có sẵn tài liệu xin ghi lại dưới đây bản dịch Đạo dụ này đã in trong “Việt nam Sử Lược”:

1- Cha mẹ dạy con phải có phép tắc, trai gái đều có nghề

nghiệp, không được rượu chè cờ bạc tập nghề hát xướng để bại phong tục.

2- Người gia trưởng tự mình phải giữ lễ phép để cho cả nhà bắt chước, nếu con em làm càn thì bắt tội gia trưởng.

3- Vợ chồng cần kiệm làm ăn, ân nghĩa trọn vẹn, duy chỉ có khi nào người vợ phạm tội thất xuất thì mới được bỏ, chứ không được khiên ái, cẩu dung làm hại tới phong trào.

4- làm kẻ tử đệ nên yêu mến anh em, hòa thuận với hương đảng, 194

Diện hình và Tổ chức

phải lấy lễ nghĩa mà cư xử, nếu trái phép thì người tôn trưởng đánh đập dạy bảo, có tội to thì phải đem nộp quan để trừng trị.

5- Ở chốn hương đảng, tông tộc, có việc hoạn nạn thì phải giúp đỡ lẫn nhau; nếu ai có tiếng là người hạnh nghĩa tốt, thì các quan phủ huyện sở tại phải bẩm lên tòa Thừa, tòa hiến, để

tâu vua mà tinh biểu cho.

6- Đàn bà có lỗi mà cha mẹ và chồng đã trừng trị thì nên phải sửa mình đổi lỗi, không được tự tiện trốn đi, làm hư mất nết đàn bà.

7- Người đàn bà góa không được chứa những đứa trai trẻ ở

trong nhà, nói dối là con nuôi để âm hành những việc gian dâm.

8- Người đàn bà góa chồng đối với các con vợ cả hoặc vợ

lẽ, nàng hầu, nên có lòng thương xót, không được mưu mô để

chiếm đoạt gia tài làm của riêng mình.

9- Đàn bà góa chồng, chưa có con cái, phải ở nhà chồng để

giữ đủ tang lễ, không được chuyển vận của cải mang về nhà mình.

10- làm đàn bà thì phải theo chồng, không được cậy cha mẹ

mình phú quý mà khinh nhà chồng, nếu không như thế thì bắt tội đến cha mẹ.

11- Kẻ sĩ nên quý phẩm hạnh và giữ phép quan nếu cư xử xu nịnh những kẻ quyền quý để cậy thế làm càn thì phải cách bỏ

đi không kể đến nữa.

12- Kẻ điển lại chỉ việc giữ sổ sách giấy má để làm việc quan, nếu làm những sự điên đảo án từ, thì quan trên sẽ xét ra trừng trị.

13- Quan dân đều phải hiếu đễ và chăm chỉ làm ruộng, cùng giúp đỡ lẫn nhau, khi đi làm việc quan không được trễ biếng, trốn tránh. Nếu ai có tiếng là người lương thiện thì các quan Phủ

huyện phải trình tòa Thừa tòa hiến để tâu vua mà tinh biểu cho.

14- Kẻ thương mãi phải tùy thời giá mà buôn bán với nhau không được thay đổi thưng đấu, và tụ tập đồ đảng để đi trộm cướp, nếu phạm điều ấy thì trị tội rất nặng.

15- Việc hôn giá tế tự phải giữ lễ phép không được làm càn.

16- Chỗ dân gian có mở trường du hí hoặc cúng tế thì con trai, con gái đến xem, không được đứng lẫn lộn, để khỏi thói dâm.

17- Các hàng quán bên đường, có phụ nữ đi xa đến trọ, thì phải phòng giữ. Nếu để hà hiếp ô nhục người ta, việc phát giác ra, thì người phạm cùng với chủ nhà đều phải trị tội cả.

18- Phủ huyện phải lập bia ở các nơi ở tại để cấm con trai con gái không được cùng tắm một bến, để cho có phân biệt.

19- Các xã thôn phải chọn một vài người già cả đạo đức làm trưởng. Những ngày thong thả đem dân ra đình tuyên giảng những lời cáo dụ, để khiến dân bắt chước làm điều thiện thành ra mỹ tục.

20- Trong hạt phủ huyện có kẻ cường hào xâm chiếm điền thổ, ức hiếp cô độc và xúi giục người ta kiện tụng, thì cho xã thôn cáo giác lên để quan xử trị, nếu mà tuẩn ẩn thì phải biếm bãi.

21- Các nhà vương, công đại thần dung túng những đứa tiểu nhân, đưa người khấn lễ, và để cho người nhà đi ức hiếp dân gian mà mua rẻ các đồ vật, thì cho dân được đầu cáo để trọng trị.

22- Những người làm quan Phủ huyện mà biết khuyên bảo dân gian làm điều lễ nghĩa khiêm nhượng, có quan Thừa chính, hiến sát xét thực, thì được cho vào hạng tốt, nếu ai không chăm dạy bảo dân thì cho là người không xứng chức.

23- Các huynh trưởng ở chốn xã thôn và phường biết dạy bảo con em trong làng cho nên được phong tục tốt, thì quan Phủ, huyện phải bẩm tòa Thừa, tòa hiến để tâu vua ban khen cho.

24- Các dân Mường, Mán ở ngoài bờ cõi, nên giữ lời di huấn, không được trái đạo luân thường, như cha, anh, chú, bác đã chết thì con em không được chiếm lấy những thê thiếp, nếu mà trái phép thì sẽ trị tội rất nặng.

Đạo dụ của vua Lê Thánh Tôn đã được các làng mạc căn cứ

Diện hình và Tổ chức

vào để giữ gìn phong tục trong dân gian, và một phần các hương ước chính là những điều ghi trong Đạo dụ này.

Gần hai trăm năm sau, vua Lê Huyền Tôn vào năm 1662 lại có chỉ dụ khác để sửa đổi phong tục trong dân chúng. chỉ dụ của vua Lê Huyền Tôn cũng chỉ nhắc lại những điểm chính mà vua Lê Thánh Tôn đã nói tới với một vài điều mới, sơ lược như sau:

“Dân làng phải tôn trọng lẫn nhau theo thứ vị tuổi tác, chỉ

bảo cho nhau để giữ lấy sự công bằng chân thật và liêm sĩ.

Người già phải rộng lượng với người trẻ, đừng cậy tuổi tác tỏ

vẻ khinh bỉ kẻ ít tuổi hơn mình. Người trẻ phải kính trọng người già đừng ỷ thế giàu có coi người có tuổi không ra gì. Trong những ngày hội, những buổi tiệc làng, người trẻ phải kính cẩn nhường người có địa vị và già cả lựa chọn khẩu phần, không nên vì ly rượu miếng thịt mà gây xích mích, trái với tình tương thân tương ái giữa dân làng.

“Dân làng không được ỷ quyền cậy thế, dựa vào số anh em đông mà hạ uy tín của các xã trưởng, tự nhận quyền phán xét trong việc tranh tụng hà hiếp, kẻ cô quả. Nếu trong làng có những kẻ xấu ấy, xã trưởng thôn trưởng được quyền bắt giải quan để trị tội.