Làng Xóm Việt NamPart 5
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
biệt. Triều đình không can thiệp tới việc đề cử này, và cho nếu triều đình có muốn can thiệp chưa chắc đã được vì phép vua thua lệ làng.
Thực ra, cho tới thế kỷ thứ XVII, các triều đại Việt nam cũng đã nhiều lần muốn nhúng tay vào việc làng xã tại các làng quê, nhưng rút cuộc làng xã vẫn là của dân và chính dân đã luôn luôn bầu lấy những người lo việc dân, trong số những người đó phải kể tới xã trưởng, mà sau này là gọi lý trưởng.
Ta cứ hằng nói xây dựng dân chủ, có biết đâu rằng dân chủ
đã có ở nước ta từ lâu đời bắt đầu từ làng xã và nền dân chủ này bắt nguồn tự óc tập thể của dân tộc ta qua các sinh hoạt hướng đời sống cộng đồng hết sức mạnh mẽ là hướng ẩm.
Dân chủ ở đây là dân chủ thực sự vì tất cả dân đinh đều tham dự trực tiếp hoặc gián tiếp vào công việc quản trị làng xã. Những chức vụ trong làng dành cho tất cả mọi người, không có sự phân biệt nào ngoài niên kỷ, kiến thức và khả năng. (2) Tìm hiểu về tổ chức làng xã, ta không thể không đi ngược lại thời gian mà bắt đầu từ lúc bắt đầu. Làng xã lập thành, dân chúng phải nghĩ ngay đến vấn đề tổ chức trong làng.
1. Vũ Quốc Thông. - Pháp chế sử Việt Nam - Tủ sách Đại học, Sàigon, 1946.
2. ...tous les habitants inscrits participent directement ou indirectement à l’Administration du village. Les fonctions commuanales sont ouvertes tous, sans autre distinction que celle de l’âge, du savoir et du mériete. - Nguyễn Hữu Khang. Sách đã dẫn.
Diện hình và Tổ chức
tổ ChứC làNg xã thời xưa
Tìm lại sử sách ta thấy danh từ xã Việt Nam xuất hiện vào khoảng từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIV.
Trong Việt Nam Sử lược, ông Trần Trọng Kim có nhắc lại nước ta cuối thời Bắc thuộc, ông Khúc Hạo làm Tiết độ sứ, lập ra bộ, phủ, châu, xã ở các nơi(1) nhưng cụ không nói rõ, các xã của ta xưa kia ra sao.
làNg Xã DướI CáC ĐờI ĐINh, TIềN lê Và hậu lý các đời Đinh, Tiền Lê, việc tổ chức làng xã cũng chưa được triều đình lưu tâm, mãi cho tới nhà Tiền Lý, các làng xã mới được chú ý tổ chức: các cơ sở chính trị và hành chính vững chãi của làng xã mới được thiết lập để trước là kiểm điểm nhân số, sau là củng cố việc tổ chức quốc gia ngõ hầu tạo sức mạnh chống đối quân xâm lăng tới từ phương Bắc và mở mang bờ
cõi về phương nam.
Tuy chỉ là những đơn vị nhỏ nhất, nhưng triều đình vẫn có cử các xã quan để cai trị, và mỗi làng đều có sổ dân đinh - đàn ông, - chia làm loại hạng.
Sổ dân đinh giúp việc kiểm tra dân số, và lần đầu tiên cuộc kiểm tra được thực hiện dưới đời vua Lý nhân Tôn vào năm 1082, niên hiệu Anh Võ chiêu Thắng.
nhà vua đích thân theo dõi công việc kiểm tra. Đồng thời với sự kiểm tra dân số, nhà vua cho lập sổ địa bộ về đất đai của mỗi làng, phân loại các hạng điền thổ.
làNg Xã DướI ĐờI Nhà TRầN
Hết đời nhà Lý sang đời nhà Trần, việc tổ chức làng xã được chặt chẽ hơn, và Triều đình bổ dụng hai loại xã quan 1. Trần Trọng Kim. - Việt Nam Sử lược, Tân Việt Saigon in lần thứ năm, trang 71.
cho các làng: đại tư xã và các tiểu tư xã. các tiểu tư xã phụ
giúp các đại tư xã trong việc quản lý xã thôn. ngoài ra, lại còn có thêm hai xã quan khác là xã chính và xã giám phụ lực với đại tiểu tư xã.
Đình làng bắt đầu được dựng lên để lấy nơi thờ phụng Thành hoàng, mặc dầu dân ta thờ Thành hoàng từ lâu đời. có thể rằng trước khi trở thành một đơn vị hành chính, xã Việt nam chỉ là một đơn vị tín ngưỡng mà những người cùng thờ chung một vị
thần quây quần sống với nhau.
Hình như bắt đầu từ đời nhà Trần, tại mỗi xã đều đã có một hội đồng kỳ mục với tính cách tư vấn để các xã quan hỏi ý kiến về mọi công việc.
các xã quan được tồn tại hầu như gần suốt đời nhà Trần, và chính vua Trần Thuận Tôn (1388-1397) đã bãi bỏ các xã quan, không hiểu vì lý do gì.
làNg Xã DướI ThờI MINh ThuộC
Đời nhà Hồ quá ngắn ngủi, việc tổ chức làng xã không có gì thay đổi, nhưng làng xã đã trải nhiều sóng gió dưới thời Minh thuộc, vì người Minh muốn đem những cơ cấu làng xã Trung Quốc đặt vào làng xã Việt nam. chúng bắt mỗi gia đình phải có một tấm hộ thiếp, tức là một sổ gia đình, và chúng lập ra sổ
bìa vàng để ghi thuế má. chúng chia dân chúng thành từng lý, mỗi lý gồm trăm mười gia đình, đứng đầu là người lý trưởng, danh từ lý trưởng nước Việt nam bắt đầu có từ thời kỳ này. lý của chúng thay làng Việt nam. Lý trưởng được cử hàng năm với chức vụ hết sức nặng nề. cứ mười năm, mỗi lý lại lập lại sổ dân đinh và sổ địa bộ, lấy gia hộ làm căn bản.
May thay, nhà Minh cai trị nước ta không lâu, và một khi chúng bị tống khứ khỏi đất nước Việt nam thì những cơ sở do chúng đặt ra cũng không còn tồn tại.
Diện hình và Tổ chức
làNg Xã DướI ĐờI Nhà lê
Vua Lê Thái Tổ khởi nghĩa tự Lam Sơn đuổi quân Minh ra khỏi đất nước, và ngay sau đó nhà vua lo tới việc chỉnh đốn hành chính từ làng xã trở lên.
các xã quan lại được lập lại. Mỗi làng từ một trăm dân đinh trở lên có ba vị xã quan, mỗi làng từ năm mươi dân đinh trở
lên có hai vị, và các làng nhỏ hơn có một vị - ở đây tính theo dân đinh mà không tính theo gia hộ như dưới thời Minh thuộc.
Muốn giúp đỡ dân chúng, nhà vua cho chia lại ruộng đất để
dân chúng canh tác, và các công điền công thổ cũng được chia lại cho các làng tùy theo dân số, và sự phân chia này đã thay đổi địa thế và ranh giới nhiều làng.
Việc tổ chức làng được giữ vững mãi cho tới đời vua Lê Thánh Tôn, nhà vua đã thay các xã quan bằng các xã trưởng, có điều xã trưởng có lẽ vẫn do triều đình chỉ định.
các làng xã phải nộp thuế cho công quỹ, mỗi dân đinh phải gánh vác tùy theo khả năng tài chánh của mình, và mỗi dân đinh đều được hưởng khẩu phần công điền công thổ để canh tác, khẩu phần cứ sau một thời gian ba năm lại được xét lại tùy theo nhân số dân đinh.
làNg Xã DướI ĐờI Nhà lê TRuNg hưNg
nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, nhưng trải qua mấy đời vua từ
Mạc Đăng Dung lên ngôi năm 1527 đến Mạc Mậu Hợp bị bắt giết năm 1592, triều Mạc không có thì giờ nghĩ tới việc tổ chức trong nước, vì còn luôn luôn bận đối phó với con cháu nhà Lê.
nhà Lê trung hưng với vua Lê Trang Tôn khởi quân đánh Mạc kể từ năm 1533 cũng không có gì thay đổi về chế độ xã thôn. Mãi cho tới đời vua Lê Thần Tôn, niên hiệu Vĩnh Thọ
(1653-1661), triều đình mới có sự lưu ý tới nền cai trị tại các
làng xã. Mỗi xã vẫn có xã trưởng do triều đình bổ dụng đứng đầu, nhưng để giúp việc cho xã trưởng, triều đình có cử thêm cho mỗi xã một viên xã sứ và nhiều viên xã ty, số xã ty tùy theo số dân đinh từng xã. những vị xã quan này, xã trưởng, xã sứ và xã ty tuyển chọn trong các người có học vấn, chịu trách nhiệm về công việc hành chính và tư pháp trong xã, dưới quyền kiểm soát của các quan châu, quan huyện, thừa ty và hiến ty, những quan chức của các quận và tỉnh.
Trong thời kỳ này các làng xã phải cung cấp lính cho triều đình, tính theo từng gia đình, tùy theo nhân số.
Việc cải cách của vua Lê Thần Tôn đã gặp phản ứng trong dân chúng, họ không lập những sổ đinh, sổ điền đúng theo sự
kiểm tra, nghĩa là có sự ẩn lậu dân đinh và điền thổ để tránh bớt gánh nặng về sưu thuế và tạp dịch. Triều đình gặp sự phản ứng này đã phải hứa với dân chúng chỉ thu sưu thuế và phần tạp dịch theo những sổ đinh sổ điền cũ.
Đời vua Lê Huyền Tôn, dưới niên hiệu cảnh Trị, nhà vua nghĩ đến chuyện tuyển lựa một cách đích đáng các xã quan, nhất là xã trưởng, có lẽ tại vì trước đây đã có nhiều sự lạm dụng trong việc chỉ định các viên chức này. các xã trưởng cứ ba năm, công việc lại được xét lại, những người nào có công trạng đặc biệt, sẽ có thể được thăng chức huyện, và phần nhiều đều được thưởng phẩm hàm.
nhà vua cũng tính đến sự đối phó với việc ẩn lậu đinh điền và quyết định thu sưu thuế theo sổ kiểm tra sau cùng được coi là bất di bất dịch, việc thu sưu thuế này nhằm mục đích tăng thu.
Đến đời vua Lê Dụ Tôn, niên hiệu Bảo Thái, các xã trưởng được nới rộng thêm quyền hạn trước, các xã quan phải đảm nhiệm thêm việc tuần phòng và việc thu sưu thuế.
Diện hình và Tổ chức
Về sau đó, việc thu sưu thuế ngày càng thêm nặng, vì công khố cần có tiền để chi tiêu về binh hỏa giữa hai họ Trịnh -
nguyễn. Bị đóng thuế nặng, dân chúng thường bỏ làng để lập nghiệp nơi khác, ruộng đất bị bỏ hoang rồi bị lập trang trại bởi một số người lợi dụng, do đó dân bị thiệt thòi. Triều đình phải ra lệnh cấm lập trang trại vào năm 1711, dưới triều vua Lê Dụ
Tôn, niên hiệu Vĩnh Thịnh. cùng với lệnh này, các làng xã được áp dụng lệ làng thay cho phép vua. Quyền hạn của dân xã được rộng hơn, và làng xã càng có nhiều quyền tự trị.
Với quyền tự trị này, xã trưởng trước đây do triều đình chỉ
định, dần dần do dân xã bầu lên và trở thành lệ làng kể từ đời các vua Lê Thuận Tôn và vua Lê Lý Tôn, từ năm 1732 đến 1740.
Việc dân đinh tự bầu lấy xã trưởng, khiến làng xã quyền tự trị càng rộng rãi hơn, và nền dân chủ nảy nở trong dân chúng ngay giữa thời đại đế quyền, nhưng chỉ ở trong phạm vi làng xã.
làNg Xã DướI ĐờI Nhà NguyễN
năm 1802, vua Gia Long thống nhất đất nước lập ra nhà nguyễn. Mười một năm sau nhà vua ban hành Hoàng Việt hình luật tức là luật Gia Long, nhưng nhà vua cũng không sửa đổi lại việc tổ chức các làng xã, nhất là các cơ cấu trong dân, lúc đó hầu như đã trưởng thành.
nhà nguyễn chấp thuận việc bầu xã trưởng và sự tự trị của làng xã, nền tự trị ngày càng vững mạnh nhất là trong việc quản lý công điền công thổ.
Việc phân chia khẩu phần công điền công thổ tuy có các phủ, huyện, châu kiểm soát, nhưng trên thực tế chương trình hương chức trong làng vẫn tự làm lấy và mọi quyết định đều do ở nơi họ lập trước.
cho đến cuối đời vua Tự Đức, quan của triều đình bổ ra chỉ
đến phủ, huyện, còn từ tổng trở xuống thuộc về quyền tự trị của dân. Dân tự chọn lấy người của mình mà cử ra coi mọi việc trong hạt. Tổng là một khu gồm có mấy làng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do hội đồng kỳ dịch các làng cử ra coi việc thuế khóa, đê điều và mọi việc trị an trong tổng.
làng hay xã là phần tử cốt yếu của dân. Phong tục lệ luật của làng nào riêng làng ấy. Triều đình không can thiệp đến, cho nên tục ngữ có câu “phép vua thua lệ làng”. làng có hội đồng kỳ dịch do dân cử ra để trông coi hết cả mọi việc.
hội đồng ấy có người Tiên chỉ và Thứ chỉ đứng đầu, rồi có lý trưởng và phó lý do hội đồng kỳ dịch cử ra để thay mặt làng mà giao thiệp với quan tư, có tuần đinh chuyên coi việc cảnh sát trong làng. Khi một người nào can phạm việc gì thì quan trách cứ ở làng, cho nên ai đi đâu hay làm việc gì cũng phải lấy làng làm gốc. (1)
Qua các điểm trình bày trên, ta nhận thấy rằng làng xã, lúc đầu chịu sự chi phối của triều đình, kể từ đời nhà Lê đã dần dần đi đến chỗ tự trị, và những công điền, công thổ như ở chương đầu đã trình bày, chính là quốc gia công sản đã chuyển sang cho làng xã.
Làng xã là đơn vị nhỏ nhất của quốc gia, nhưng lại là đơn vị
mạnh nhất, vì nếu tất cả các làng xã đều chống lại triều đình, lẽ
tất nhiên không triều đại nào tồn tại được. Bởi vậy, có phép vua, mọi công dân vẫn tuân theo, nhưng lại có lệ làng mà dân đinh trong làng không bao giờ bỏ qua được. Triều đình muốn tránh những phản ứng không đẹp của nhân dân đã đành chấp thuận nền tự trị của làng xã và nhiều khi phép vua đã đành chịu thua lệ làng.
1. Trần Trọng Kim. - Sách đã dẫn, trang 481.
Diện hình và Tổ chức
tổ ChứC làNg xã dưới thời PháP thuộC
Với hòa ước năm Giáp Tuất (1874), người pháp bắt đầu sự
thống trị tại Việt nam, và đầu tiên, người pháp chiếm đứt miền nam nước Việt, rồi dần dà sau đó đến Bắc Việt và Trung Việt.
chiếm giữ miền nam, người pháp nghĩ ngay tới việc cải tổ
các cơ cấu hành chính, bắt đầu từ làng xã để tiện việc đô hộ.
Họ để ý lưu tâm tới sự tự trị của làng xã Việt nam.
Họ nhận thấy làng Việt nam luôn luôn tránh sự nhòm ngó của người lạ. Người ta chỉ có thể vào trong làng một cách khó khăn, ngay đến các quan đại diện cho nhà vua, mặc dầu được đón tiếp kính cẩn theo lễ nghi của tục lệ, nhưng thường cũng chỉ
biết có ngôi đình hoặc ngôi chùa, nơi họ được mời tới.
Sự tự do của làng xã muốn được hoàn toàn sử dụng cần phải có một bức thành thực sự dựng lên chung quanh làng. Đây là một gia đình đóng cửa bảo nhau những chuyện riêng, không cưỡng chế
và cũng không chấp nhận sự hiện diện của một cái tai khách lạ. (1) (La liberté de la commune a besoin, pour s’exercer pleinemen, d’élever autour d’elle un véritable muraille. c’est une famille qui ferme ses portes pour discuter ses affaires personnelles, sans contrainte et sans admettre une étrangère.) Lưu tâm tới các làng Việt nam, người pháp thấy rằng họ cần phải thay đổi các cơ cấu làng xã để tìm cách đặt công việc ở
làng mạc dưới quyền kiểm soát của họ và làm nhẹ bớt quyền lực của các thân hào hương chức đối với dân làng. Ta có thể hiểu dễ dàng tại sao người Pháp đã thay đổi như vậy, nếu ta biết 1. P.Pasquier. - L’Annam d’autrefois. (Trang 54) Il s’est toujours dérobé aux regards de l’étranger. On ne peut y pénétrer que difficilement et mème les mandarins représentant l’autorité de l’Empereur, tout en y étant recus avec le respect et le cérémonial voulu par les rites et la coutume, n’en connaissent souvent que la maison commune, le đình ou la pagode où ils sont conduits.
rằng những cuộc khởi nghĩa thường phát khởi từ các làng mạc và tinh thần quốc gia được bảo tồn tại các nơi đó. (1) Tuy muốn thay đổi các cơ cấu này, song trước khi đi vào sự
cải cách có lợi cho họ, họ cũng chờ đợi hai chục năm sau khi đã chiếm đứt miền nam nước Việt mới ban hành nghị định đầu tiên vào năm 1940 ấn định việc cải tổ hành chánh xã tại nam Việt, và trước khi ban hành nghị định này, các viên quan cai trị
chủ tỉnh đã có một sự nghiên cứu kỹ lưỡng.
Việc cải tổ bắt đầu ở nam Việt trước để đi dần tới Bắc Việt và Trung Việt.
TạI NAM VIỆT
Trước năm 1904, hội đồng hương chức tại các làng nam Việt gồm những chức vụ chính sau đây:
Hương cả:
đứng đầu vì lý do tuổi tác.
Thủ chỉ:
giữ văn khố.
Hương chủ: giữ nhiệm vụ cố vấn chính trị.
Hương sư:
giữ nhiệm vụ trung gian chính thức giữa làng và các quan lại.
Hương lão:
cố vấn hội đồng.
Hương trưởng: cố vấn trong việc thi hành mệnh lệnh của các cấp trên.
Hương chánh: giữ chức cố vấn chính thức câu đương: giữ nhiệm vụ thẩm phán trong làng.
Hương quản: trưởng ban cảnh sát.
Thủ bộ:
giữ nhiệm vụ thủ quỹ.
Hương thân: chịu trách nhiệm về hành chánh tổng quát (cùng với Hương hào).
1. Nguyễn Xuân Đào. - Tổ chức hành chánh tại cấp xã ở Việt Nam. - Khảo sát về những diễn biến trong lịch sử.
Diện hình và Tổ chức
Xã trưởng:
giữ nhiệm vụ trung gian giữa làng và chính quyền.
Hương bộ:
giữ các sổ thuế.
Hương hào: chịu trách nhiệm về hành chính tổng quát cùng với Hương thân.
Qua các chức vụ trên, thường thì Hương cả đứng đầu Hội đồng Hương chức, nhưng riêng tại tỉnh Bà Rịa, nay là phước Tuy, Hương chủ lại đứng trên Hương cả.
Hội đồng hương chức với các chức vụ chính nêu trên bị người pháp coi là thiếu quy củ và cho là cơ cấu này đang bị đe dọa vì mọi hương chức đều thờ ơ với công việc xóm làng. người pháp nói là muốn nâng cao uy tín cho các chức vụ tại hương thôn nên cần một sự cải cách.
Thực ra với nền tự trị, làng xã Việt nam có rất nhiều ưu điểm mà chính người pháp cũng nhận thấy, nhưng họ muốn dùng cái ưu điểm đó có lợi cho họ. nghị định ngày 27 tháng 8 năm 1904 được ban hành thành lập ban hội tề tại các xã, còn gọi là hội đồng làng, mỗi nhân viên trong ban Hội tề lĩnh một chức vụ riêng biệt. Cũng vì mỗi nhân viên trong hội đồng làng có một nhiệm vụ rõ rệt như vậy, nên vị thứ các vị kỳ hào được ấn định theo tính cách quan trọng hay không của các chức vụ mà họ phụ trách. (1)
Ban Hội tề gồm các nhân viên với các chức vụ và thứ vị sau đây:
Hương cả:
Hương chức đứng đầu; chủ tọa Ban Hội tề; giữ
văn khố.
Hương chủ: phó chủ tọa; giữ nhiệm vụ thanh tra các cơ quan của làng và tường trình cho Hương cả.
Hương sư:
Giữ nhiệm vụ cố vấn trong việc giải thích luật lệ.
Hương trưởng: Giữ ngân sách làng; trợ giúp các giáo viên, nhân viên ban chấp hành.
Hương chánh: hòa giải những vụ tranh chấp nhỏ giữa những người trong làng.
Hương giáo: chỉ dẫn cho các hương chức trẻ tuổi; thư ký hội đồng.
Hương quản: trưởng ban cảnh sát; kiểm soát hệ thống giao thông và chuyển vận.
Hương bộ:
giữ sổ thuế và sổ chi thu của làng; trông nom công sở cùng vật liệu của làng.
Hương thân: giữ nhiệm vụ của một hương chức chấp hành, là trung gian giữa nhà cầm quyền tư pháp và ban Hội tề.
Xã trưởng:
giữ nhiệm vụ của một hương chức chấp hành, là trung gian giữ làng và chính quyền; giữ triện của làng; giữ việc thu thuế cho chính quyền.
Hương hào: giữ nhiệm vụ của một hương chức chấp hành.
chánh lục bộ: giữ sổ sách về hộ tịch; báo cho dân chúng biết để đề phòng những bệnh truyền nhiễm xảy ra trong làng.
ngoài 12 nhân viên trên, ban Hội tề, tùy từng xã với tục lệ riêng của mình, có thể có một số viên chức khác kém quan trọng hơn.
Hương lễ:
giữ nhiệm vụ chủ tọa các buổi tế lễ.
Hương nhạc: trưởng ban âm nhạc,
Hương ẩm:
tổ chức hội hè và tiệc tùng.
Hương văn: soạn thảo các bài văn tế vị thần làng.
Thủ khoản: chịu trách nhiệm về ruộng nương và gìn giữ công điền.
cai đình:
chịu trách nhiệm trông nom gìn giữ chùa chiền...
v.v...
Về nhiệm vụ hương chức chấp hành của ba vị Hương thân Xã trưởng và Hương hào phải kể việc giữ gìn trật tự an ninh, việc thi hành những quyết nghị của thượng cấp và của tòa án.
Diện hình và Tổ chức
Việc tuyển lựa các hương chức vào ban Hội tề, nghị định năm 1904 ghi là những người này sẽ được tuyển lựa trong số
các điền chủ trong xã.
Sở dĩ người pháp tin dùng các điền chủ là vì những người này vì quyền lợi của mình sẽ không có những hành động chống đối với những người không có tư sản, và do đó không có quyền lợi nhiều. người pháp với nghị định 1904 đã bắt đầu tạo ra lớp cường hào ác bá để làm tay sai cho chúng. Tuy vẫn tôn trọng tục lệ của dân làng, nhưng những tục lệ sẽ do chính chân tay người pháp bảo toàn. người pháp đã khôn khéo đặt tại các làng tùy theo tục lệ địa phương một số các chức vụ có tính chất phong tục nhiều hơn là tính chất hành chánh.
ngoài ra, cùng với việc thành lập ban Hội tề, người pháp đã phục hồi lại tục lệ thăng chức các hương chức. nói rằng để phục hưng tục lệ cổ truyền của dân Việt nam, nhưng chính ra người pháp đã dùng sự thăng chức này làm một sợi dây xích để trói buộc các hương chức đứng vào phe họ, có chịu tuân theo lời họ, hương chức mới có hy vọng được thăng chức.
Theo tục lệ này thì một kỳ hào ở cấp cuối cùng (tức là hương hào) muốn trở thành vị hương cả trong xã (tức là vị Chủ tịch hội đồng xã, giữ chức vụ cao nhất), cần phải lần lượt vượt qua tất cả các cấp bậc ở dưới. (1)
Với sự cải cách năm 1904, người pháp tuy tạo ra một lớp cường hào ác bá, sẵn sàng làm tay sai cho họ, nhưng vẫn còn nhiều sự dè dặt, nhất là trong vấn đề tuyển lựa nhân viên ban Hội tề, quyền tuyển lựa tuy không nói rõ nhưng còn ở trong tay dân làng, và các luật lệ địa phương tại các xã vẫn được tôn trọng mặc dầu có sự giám hộ của chính quyền thuộc địa.
1. Vũ Quốc Thông. - Pháp chế sử Việt Nam. - Tủ sách Đại học, Saigon 1966.
người pháp thấy rằng với chế độ làng xã 1904, họ chưa thực quyền nắm hẳn công việc quản trị làng xã, nên hơn hai chục năm sau, năm 1927, họ lại cải cách ban Hội tề để họ có thể can thiệp một cách triệt để hơn vào các công việc làng xã.
Trước khi cải cách ban Hội tề, họ nêu lên lý do sự thiếu hữu hiệu của ban này. Trong thông tư ngày 24-11-1926, viên Thống đốc nam Kỳ gửi cho các chủ tỉnh, đã nhắc tới sự khó khăn gặp phải trong việc tuyển lựa nhân viên ban Hội tề. Giai cấp thượng lưu bản xứ nhất là giới địa chủ và giới trí thức, không chịu tham gia ban Hội Tề, khiến các chức vụ làng xã lọt dần vào tay những kẻ bất tài và thiếu lương tâm.
Để tránh tệ hại thực sự hoặc giả tưởng trên, nghị định ngày 30-10-1927 của Toàn Quyền Đông Dương ra đời. Ban Hội tề
được gọi là Hội đồng kỳ hào và gồm 12 viên chức chính. Viên chánh lục bộ trước không được xếp vào hạng kỳ hào nay được nâng lên hạng này.
nhiệm vụ của các viên chức khác trong ban Hội tề cũng có sự thay đổi, và quyền hành chỉ huy được đặt vào trong tay mấy vị Hương cả, Hương chủ và Hương sư. căn cứ theo nghị định 1927, dưới đây là nhiệm vụ mới của nhân viên ban Hội tề, so với nhiệm vụ ấn định bởi nghị định năm 1904: Hương cả:
ngoài các nhiệm vụ cũ thêm nhiệm vụ trông nom tất cả các cơ quan trong làng, nhưng chuyển giao công việc giữ văn khố cho Hương bộ.
Hương chủ: giữ thêm nhiệm vụ thủ quỹ và giao nhiệm vụ
thanh tra cho Hương sư.
Hương sư:
giải trừ nhiệm vụ cũ. Trở thành nhân viên trong ban chấp hành giữ nhiệm vụ thanh tra và nhiệm vụ phó chủ tọa.
Diện hình và Tổ chức
Hương trưởng: giải trừ nhiệm vụ nhân viên ban chấp hành và nhiệm vụ giữ ngân sách làng; giữ nhiệm vụ trông nom việc học.
Hương chánh: thêm nhiệm vụ cố vấn cho các viên chức chấp hành.
Hương giáo: vẫn nguyên nhiệm vụ cũ.
Hương quản: thêm nhiệm vụ phụ tá của ông Biện lý.
Hương bộ:
thêm nhiệm vụ giữ văn khố và giữ ngân sách làng.
Hương thân: vẫn nguyên nhiệm vụ cũ.
Xã trưởng:
vẫn nguyên nhiệm vụ cũ.
Hương hào: thêm các nhiệm vụ Trưởng ban cảnh sát làng, nhiệm vụ thi hành luật lệ về đường sá và nhiệm vụ tống đạt giấy tờ của tòa án.
chánh lục bộ: như cũ.
Với sự cải cách mới, như trên đã nói, chức vụ chỉ huy cả ban Hội tề lẫn làng xã nằm vào trong tay ba viên chức đầu, và riêng vị Hương cả được quyền chuyên biệt chỉ huy mọi cơ quan của làng. Vai trò của Hương cả do đó được rõ rệt hơn và ảnh hưởng của vị này cũng trở nên quan trọng đối với dân làng; chính ảnh hưởng quan trọng này đã là đầu mối của nạn cường hào ác bá và nạn này xảy ra rất hợp ý muốn của người pháp. Gia dĩ việc tuyển lựa các viên chức xã, người pháp lại nhằm tìm một lớp người có đủ bảo đảm về lòng trung thành đối với nước pháp; những địa chủ, những người giàu có, những công chức các ngạch từ trung đẳng trở lên hồi hưu từ dịch, các quân nhân trong quân ngũ thuộc địa giải ngũ với các cấp bậc đội trở lên mới được ứng cử vào hội đồng kỳ hào. Để có thể tuyển lựa dễ dàng vào ban Hội đồng này những người khả dĩ có thể tin cẩn ở lòng trung
thành của họ được, nguyên tắc thăng cấp trước đây bó buộc các kỳ hào phải lần lượt vượt qua các cấp bậc dưới tuy vẫn được duy trì nhưng được áp dụng một cách mềm dẻo, linh động hơn.
Với sự mềm dẻo linh động này, nhiều chân tay của pháp được xung vào ban kỳ hào các xã.
Mặc dầu hậu ý của người pháp là muốn giao nhiều chức vụ
các xã cho bọn chân tay của họ, nhưng họ cũng không dám phạm vào tục lệ cổ truyền một cách trắng trợn, nghĩa là các kỳ hào mới vẫn phải do sự lựa chọn của các kỳ hào hiện diện trong ban Hội tề chỉ định. Tuy nhiên, với sự cải cách mới, các chủ tỉnh có quyền nhiều trong việc tuyển lựa kỳ hào, và việc tuyển lựa này muốn trở thành nhất định phải có sự duyệt y của chủ tỉnh.
nghị định ngày 30-10-1927 được áp dụng cho tới hết thế
chiến thứ hai. Trong thời gian này vấn đề cải tổ chế độ hành chánh xã trong Nam lại được đặt ra sau cuộc khởi nghĩa đẫm máu của anh em binh sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng tại yên Bái hồi tháng 2 năm 1930(1) Tháng 8-1930, Thống Đốc nam Kỳ
cho thành lập một Hội Đồng cải cách với mục đích cải thiện đời sống dân chúng. Hội đồng này đã đề nghị một sự cải cách sâu rộng chế độ hành chánh xã thôn và muốn các xã tại Việt nam được tổ chức như các xã bên pháp, nghĩa là trong xã sẽ
có các hội viên Hội đồng xã và các viên chức hàng xã. Đề nghị
này chỉ ở nguyên trong vòng đề nghị vì chính quyền pháp đâu có muốn sự cải cách sâu rộng vì quyền lợi dân chúng ấy. Họ
cho là không thích ứng với xứ thuộc địa này, mà lại có sự nguy hiểm là sẽ đảo lộn trật tự của các xã, và nhất là, người pháp sẽ
khó nắm nổi được các Hội viên của Hội đồng xã dự định kia.
1. Vũ Quốc Thông - Sách đã dẫn.
Diện hình và Tổ chức
chế độ 1927 cứ được áp dụng cho đến sau cuộc bại trận của pháp. Khi đó, trước mọi biến chuyển của tình hình chính trị
tại Đông Dương, chính quyền pháp lại nghĩ tới sự cải cách, và Toàn Quyền Đông Dương lại có ký nghị định ngày 5-1-1944
để cố gắng tập trung quyền hành một cách chặt chẽ trong việc chỉ định các hương chức tại nam Việt. nghị định quy định rõ ràng thể thức tuyển lựa các hương chức. hương chức phải lập một bản danh sách ứng cử viên để một hội đồng gồm tất cả các hương chức, cựu hương chức, cựu công chức và cựu binh sĩ đã từng cư ngụ ở trong làng được ít nhất là hai năm căn cứ vào đó mà tuyển lựa. Những sự bổ nhiệm vẫn phải được vị tỉnh trưởng phê chuẩn, như trước. Một mặt khác các ứng cử viên phải đã có tên ghi trong sổ ghi dân số của làng ít nhất được hai năm, có đóng thuế thân ở làng và không bị can án. (1) ngoài ra, với chế đội 1944, có thêm hai hạng ứng cử viên mới:
- những người có học từ bằng Thành chung trở lên.
- những binh sĩ tuy không có bằng cấp gì, nhưng đã tỏ ra can đảm trong khi lâm trận và được thưởng Anh Dũng Bội tinh.
những ứng viên này chỉ cần biết đọc và biết viết.
Với nghị định 1944, người pháp kiểm soát chặt chẽ hơn việc tuyển lựa viên chức làng xã và nhờ sự kiểm soát này, họ dễ đặt vào hội đồng kỳ hào những người trung thành với họ. chỉ riêng với thành phần ứng cử viên ta cũng thấy rằng, những người này, vì quyền lợi sẵn có của họ, họ sẽ không phản bội nước pháp.
chế độ 1944 hay hoặc dở và ảnh hưởng ra sao đến các tổ
chức thôn xã, chưa có thể biết được, đã xảy ra cuộc đảo chính 9-3-1945, và với cuộc đảo chính này người nhật đã thay thế
1. Nguyễn Xuân Đào. - Tài liệu đã dẫn.
người pháp ở Đông Dương, nghĩa là ở cả Việt nam trong đó có nam Việt.
Qua các giai đoạn trình bày trên, ta thấy rằng trong thời kỳ
thống trị Việt nam, người pháp đã dần dần nắm hết quyền kiểm soát nền hành chính xã, và lấn hết quyền tự trị xã thôn của ta tại nam Việt, và với sự lấn át này, bao nhiêu tập tục nghìn xưa của ta, đã bị người pháp dần phá hủy để tạo nên một lũ cường hào ác bá tay sai.