VEN BÃI BỂ ĐỒNG CHÂUPartie 6
À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.
Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.
Đồng Châu là một xã nhỏ thuộc huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình, ở ngay ven bờ bể, gần cửa sông Trà Lý. Dân làng sống về nghề chài lưới. Đất đai này phần nhiều ở ngoài con đê ngự hàm hàng huyện, thường bị
ngấm nước muối, không tiện cho việc canh nông.
Làng Đồng Châu có một bãi bể rộng, chạy từ cửa sông Trà Lý đi tới, suốt đầu làng đến cuối làng và kéo dài tới nhiều xã lân cận. Bãi bể
này sàn sàn ăn lan thẳng ra biển nên trước đây người Pháp đã có lập một nơi nghỉ mát tại đó.
Để chống gió bể, cũng như để giữ cho đất khỏi bị sóng bể đánh trôi đi, dân chúng trồng ven làng về mé biển hàng dãy phi lao. Nhưng cây phi lao xanh rờn, lá rủ thõng như lá liễu, gặp gió biển thổi qua, rền rĩ như khúc nhạc sầu, phản ánh cuộc đời vất vả của dân quanh bãi bể.
Dân chúng Đồng Châu, cũng như các xã lân cận, ven bãi bể, ngoài con đê ngự hàm vất vả thật. Họ chật vật với cuộc , sống hàng ngày.
Không có ruộng nương, sinh kế của họ chỉ trông nhờ vào biển.
Nước biển noi đây ở ven bờ đỏ ngầu, lẫn phù sa do sông Trà Lý đưa tới. Mãi xa xa mầu biển mới biến sang mầu xanh sẫm.
Biển đục thường nhiều cá, nhưng cá chỉ có ngoài khơi còn ở ven bờ nếu có, chỉ là những đàn cá nhỏ, tôm, cua, sam sứa...
Sống trông nhờ vào biển, người dân vùng này phải có đủ dụng cụ
để đi biển. Họ phải có thuyền, có lưới, có vợt, có buồm. Những vật dụng cần thiết này, dù nghèo túng đến đâu họ cũng phải sắm cho kỳ
đủ, nhiều khi phải vay nợ trả dần: Đó là nguồn sống của gia đình, được lưu giữ cha truyền con nối.
Hàng ngày từ sáng sớm tinh sương, dân làng đã rủ nhau ra khơi.
Cảnh bờ biển thật là ồn ào nhộn nhịp.
Trước ánh mặt trời vừa vươn khỏi mặt nước, tỏa ra những tia tía, nhuộm thẫm bầu không khí sớm hôm, ráng đỏ xuống mặt biển, sóng
nhẹ nhấp nhô, hàng nghìn con thuyền rải rác từ chân trời tới bờ biển.
Trên những con thuyền, bóng người ẩn hiện quăng lưới, kéo lưới, hoặc khua bơi chèo đuổi cá. Những cột buồm, sừng sững trên mỗi chiếc thuyền, theo với bơi chèo đi ngược đi xuôi, trở ra trở lại. Những làn sóng bật vào mạn thuyền làm bắn tung nước trắng xóa; lưng trời đàn cò bể là lượn trên đám thuyền. Thỉnh thoảng một vài con đột nhào mình xuống nước, và khi bay lộn trở lên, bao giờ trong mỏ cũng cặp một con cá bạc xinh xinh.
Mặt trời dần lên cao thì đám thuyền rải rác ngoài khơi cũng dần kéo nhau vào bờ, gần cửa sông Trà Lý. Thuyền nào thuyền ấy đầy cá, những con cá trắng như bạc quẫy nhảy làm lan vẩy óng ánh dưới ánh bình minh. Tiếng người nói ồn ào, ở thuyền này gọi, ở thuyền kia thưa.
Những người dân chài quần nâu áo vá nhộn nhịp chạy trên mạn thuyền, tay với, tay khua.
Ở trên bờ bể, gia đình họ túm tụm nhìn ra bể để đón đợi thuyền về. Gió sớm thổi vào mặt những người thiếu nữ ngây thơ làm làn tóc phơ phất bay trên nước da mặt mịn màng. Những manh áo nâu vá vai, đổi tay đứng xem nhau. Họ đợi chờ thuyền về với biết bao hy vọng. Chồng họ ra khơi buổi nay có may mắn không, cá có nhiều không? Dân làng họ ra đi có ai bị rủi ro gì không? Bể cá hôm nay có rộng lượng với đám dân chài không?
Bên đám người nhà dân chài, có lẫn những phường buôn đợi chờ
cân cá. Trông họ quần áo sang trọng hơn, và trong óc họ cũng tính toán những điều khác nhau: liệu hôm nay họ có cân được nhiều cá với giá hời không? Liệu những người vay tiền trước của họ hôm nay có cân đủ cá trả họ không-?
Các thuyền dần dần vào bờ. Thật là một sự ồn ào nhộn nhịp!
Một chiếc thuyền vào bờ là người ta đổ xô xuống. Thân nhân nhà chài xuống để giúp đỡ người nhà kéo thuyền lên bãi bể, bưng cá, xếp luới, bọn con buôn thì xô vào khoang cá, lọc con này, lựa con khác, phân loại để cân.
Tiếng nói ầm ĩ, tiếng hỏi, tiếng trả lời: Pha lẫn vào có những tiếng cười trong trẻo hồn nhiên của người dân quê bên những tiếng cười xã giao của bọn con buôn, chỉ mong mua được giá hời.
Từng chiếc thuyền một vào bờ. Khi mặt trời lên độ hai con sào thì ở ngoài khơi lơ thơ chỉ còn vài con thuyền và ở trong bờ biển cảnh nhộn nhịp cũng không còn nửa. Việc mua bán cá đã xong. Những gia đình dân chài đã thu xếp những dụng cụ của mình để sửa soạn cho buổi ra khơi hôm sau.
Đời sống của dân chúng ven bãi bể Đồng Châu cũng như phần đông dân quê ở ven bể thật khó khăn. Đất đai khó trồng trọt vì nước mặn, họ sống nhiều về nghề chài lưới. Hàng ngày từ sáng sớm tinh sương họ đã đưa thuyền ra khơi để đánh cá. Những người chồng ra đi, những người vợ ở nhà đợi chờ hồi hộp; những người con trai ra đi, những người mẹ già trông ngóng lo âu; những người anh ra đi, các cô em gái phấp phỏng trông chờ; những vị hôn phu ra đi, những vị
hôn thê mong mỏi băn khoăn.
Người ra đi cũng như người ở lại, họ đều có một tâm sự như nhau.
Họ cầu mong, Trời đất ban ơn cho họ, cho chồng con anh em người yêu của họ, có đi thì có về. Người ra đi, thân ở ngoài bể khơi, nhưng lòng thật vẫn ở cạnh mẹ già, vợ dại con thơ, ở bên người em gái chân thành, ở gần người yêu khả ái. Họ mong bề trên ban phúc cho họ để
bể yên sóng lặng, cá đánh được nhiều, thuyền nhẹ lúc ra đi, thuyền nặng lúc trở về.
Còn người ở nhà, lòng họ thật là hồi hộp. Bể cả đã chẳng bao lần nổi giận, đập phũ phàng những người dân chài lương thiện, cuốn họ
theo sóng lớn, đánh tan nát chìm đắm thuyền lưới của họ, khiến cho họ lúc ra đi thì có, lúc trở về thì không. Đã bao nhiêu người vợ mất chồng, người con mất cha, người mẹ mất con, người anh mất em, đã bao nhiêu lứa đôi không trọn nghĩa và biết bao hạnh phúc bị tan tành vì những cơn giông tố bất ngờ! Bể cả đã là mồ của biết bao người dân chài luơng thiện!
Người ra đi trông trời trông nước, kẻ ở nhà nhìn gió nhìn mây. Có khi bể đang yên lặng, bỗng vần vũ ở đâu mây đen kéo tới, gió nổi lên, rồi mưa đổ xuống. Có khi là một cơn giông, có khi là một trận bão.
Sóng bể bốc cao như thác, vỗ ầm ầm; gió gào thét và như muốn ra uy, sấm chớp từ cao giáng xuống.
Những lúc ấy người đi khơi lo đã đành, cả kẻ ở nhà cũng không yên dạ. Người đi khơi lo cuốn buồm quay mũi mau cho thuyền đến được bờ, còn kẻ ở nhà nóng lòng sốt ruột cầu nguyện thương xót tới chồng con mình, run rủi sao cho qua khỏi cơn sóng gió.
Hàng ngày cứ bao giờ thuyền cá về tới bờ, người dân chài mới biết xong chuyện ra khơi hôm đó. Và cá phải bán xong, họ mới biết ngày hôm đó họ đã may mắn hay không?
Những cá to họ bán, còn những cá nhỏ không có người mua, họ
mang về phơi khô để các bà nội trợ mang bán tại các phiên chợ Tiền Hải, Trà Lý. Tiền bán cá, họ lo trả món nợ vay trước để sắm thuyền, mua lưới, mua chì... Sự vất vả về phần họ, nhưng hưởng lợi, thực ra là bọn có tiền ở các ấp Hưng Thịnh, Ông Hậu[1], cho họ vay lãi để trả
dần. Biết bọn người cho vay để lợi dụng họ ăn lời nhiều, nhưng họ
không hề phàn nàn. Họ coi đó là một sự dĩ nhiên, vì đi vay thì phải chịu lãi, và nếu không vay được tiền thì lấy gì mua sắm vật dụng cần thiết. Họ không oán các chủ nợ, nhiều khi họ còn nặng mang ơn là khác. Và những ngày từ ngày Tết, thường họ vẫn dành những con cá to, những con mực lớn, những chục cua đẫy để mang biếu chủ nợ.
Thuyền ở khơi vào, cá bán xong, họ kéo lên bãi bể. Đàn ông xem lại thuyền, có cần gắn lại chỗ nào, buổi ra khơi sớm ngày có hư hại gì đến thuyền lưới không. Nếu lưới rách, họ căng lên ngay bãi bể, và các cô thiếu nữ, các bà nội trợ sẽ vá lại những chỗ rách thủng để ngày hôm sau đánh cá khỏi bị lọt luới. Họ vừa làm vừa trò chuyện về buổi ra khơi, về những việc đã xảy ra ở quanh vùng, về lòng nhân hậu của người chủ nợ này, sự cay nghiệt của người chủ nợ khác. Đồng thời họ
săn sóc tới chỗ cá vụn đang phơi ở bãi biển.
Việc vá luới có khi tỉ mỉ rất nhiều công phu. Vá những mắt lưới xong, nhiều khi họ còn phải móc thêm những thỏi chì vào mép lưới.
Họ săn sóc cái lưới hơn một bảo vật, vì đây không những là một phần
[1] Tên này dùng để chỉ đồn điền của một người ở Thái Bình vốn được gọi là ông Hậu, có lẽ vì có chân Hậu bổ
gia sản của họ, mà còn là phương tiện để giúp gia đình họ sinh sống nữa.
Các cô thiếu nữ má ửng hồng, cặm cụi làm việc dưới nắng sớm.
Tay các cô đều đưa mũi kim. Các cô bâng khuâng nghĩ đến hoàn cảnh gia đình, đến tương lai của mình. Nhiều khi các cô nghĩ đến những chàng trai đã tỏ dấu yêu đương các cô, các cô nhẩm những câu đầy tình tứ các chàng đã tặng mình.
Bể sâu sóng vỗ rập rình
Bể bao nhiêu sóng thương mình bấy nhiêu.
Có khi, các chàng trai đó cũng đang lúi húi gắn lại chiếc thuyền hơi thấm nước ở ngay bên cạnh các cô. Như vậy thỉnh thoảng bốn mắt lại gặp nhau, và những nụ cười được trao đổi, theo những lời êm dịu.
Chàng trai khe khẽ ca:
Đôi ta như chỉ mới se
Như măng mới mọc như tre mới trồng
Đôi ta như lúa đòng đòng
Đẹp duyên mà lại đẹp lòng mẹ cha
Mắt cô gái sáng lên, má cô ửng nóng và lòng cô rộn ràng sung sướng. Các cô cúi nhìn lũ dã tràng xe cát tròn tròn dưới chân. Những con dã tràng vội vã chạy rào rào, lăn những hòn cát theo chân chúng.
Rồi như để giấu nỗi thẹn thùng với lòng mình cô gái nói:
-
Anh nhỉ, giống dã tràng chúng tốn công xe cát, thế mà chỉ một làn sóng, bao nhiêu công trình của chúng lại mất hết.
Chàng trai có thể trả lời thẳng cô gái, có thể chàng chỉ ngâm lại câu ca dao:
Dã tràng xe cát biển đông
Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.
Và chàng sẽ nói thêm:
-
Em ạ, tôi ước mong rằng công đeo đuổi của tôi sẽ không là công dã tràng xe cát.
Những cuộc hôn nhân đẹp đẽ thường thường đã là kết quả của những buổi nói chuyện trong việc làm ấy, nhưng cũng đã có những lứa đôi không cùng nhau trọn lời thề ước, anh đi đường anh, chị theo nẻo chị. Gặp nhau, nếu chàng có buông lời trách móc, cô gái chỉ biết đổ lỗi cho chàng:
Vì anh chẳng tại em đâu
Anh se chỉ mảnh em khâu sao bền.
Những buổi nói chuyện đó qua, những cuộc hôn nhân đã thành hoặc đã lỡ, người dân bể bao giờ cũng phải nghĩ tới cuộc đời thực tế
của mình. Những buổi ra khơi của những người đàn ông, nhiều khi không đủ chi tiêu trong gia đình, những người đàn bà, những cô gái thường phải đi làm thêm để giúp đỡ cho cha mẹ, giúp đỡ cho chồng.
Các bà các cô rủ nhau đi bắt don ở cánh đồng. Don là một loại trai nhỏ, sống ở các ruộng ven bờ bể. Các bà các cô dắt nhau đi mò don, có khi cả ngày mới được hai lưng thúng. Don này các bà các cô đem bán ở các chợ quanh làng, thêm tiền mua thức ăn cho con may mặc cho chồng. Còn các thiếu nữ, tiền bán don, các cô giúp đỡ cho cha mẹ một phần, một phần các cô dành dụm để làm vốn phòng lúc lấy chồng.
Đi bắt don họ phải chịu nhọc nhằn với nắng mưa, chân tay luôn luôn ngấm nước, nhưng họ vẫn tận tụy với công việc. Họ nghĩ tới mâm cơm của con, họ nghĩ tới mảnh vải của chồng, họ nghĩ tới số tiền sẽ
để dành dụm được, họ quên mọi nỗi nhọc nhằn. Sự vui sướng của chồng con, sự đầy đủ một phần nào trong tương lai, đấy mới là cái phản thưởng đích đáng cho mọi cố gắng của người dân đồng chua nước mặn.
Ngoài công việc đi bắt don, đàn bà vùng này còn kiếm thêm bằng cách ngâm sứa đem bán. Những con sứa chồng con bắt được ở bể
lên, họ ngâm bằng vỏ già cho đến khi sứa nổi mầu nâu tươi sẫm thì họ đem bán. Việc ngâm sứa cũng giúp đỡ cho gia đình được nhiều.
Người dân quê Việt Nam ở đâu cũng vậy, nhất là các bà các cô chất
phác, bao giờ các bà các cô cũng nghĩ về gia đình. Việc gì có lợi cho gia đình, dù cực nhọc cũng không bao họ từ nan.
Có nhiều bà nhiều cô, muốn cho gia đình được dư dật thường thuê đất ở trong đê ngự hàm để hàng năm trồng dưa hắu bán về vụ tháng năm. Việc trồng dưa phải tốn công nhọc sức, săn sóc theo dõi, dưa mới tốt và nhiều quả. Những quả dưa xanh xanh tròn tròn, nằm như
lũ lợn con ở các luống ruộng đã là niềm vui của các bà nội trợ. Tháng năm tới hái dưa đem bán, các bà sẽ được thêm tiền để giúp chồng thay chiếc lưới mới, mua thêm chì, hoặc chữa lại chiếc thuyền.
Mặc dầu chịu khó làm ăn, có nhiều gia đình vùng Đồng Châu vẫn không đủ tiêu, có khi vì làm ăn không gặp may mắn, có khi vì chồng con ốm đau. Các bà nội trợ những gia đình đem hết sức mình để giúp đỡ chồng con bằng mọi cách. Làm thuê, vá lưới mướn. Có người gạn nước bể để nấu muối đem bán. Việc làm này tuy không được lợi nhiều, nhưng cũng giúp thêm đôi món tiền cho gia đình. Khốn nỗi, việc nấu muối đâu có dễ dàng, họ cần giấu giếm, kẻo nhà đoan Diêm Điền biết, họ không những mất số muối nấu ra được, còn bị phạt bị giam là đàng khác.
Đời người dân ven bãi bể Đồng Châu thật là vất vả, nhưng họ vẫn vui sống.
Hàng tuần ngày chủ nhật, họ dắt nhau tới lễ và cầu nguyện ở nhà thờ
xã Bạch Long gần đấy.
Những phút giây này, họ thật là gần Chúa, lòng họ thật là bình tĩnh tin ở Chúa, tin ở cuộc đời.
Ở nhà thờ Bạch Long ra, nét mặt họ sung sướng, lòng họ thênh thang, bước đi họ nhẹ nhàng. Họ nói cười vui vẻ, quên hẳn mọi nhọc nhằn của cuộc đời.