CHUNG QUANH ĐẦM VẠCPartie 9

À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.

Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.

Nếu chúng ta có dịp đứng trên núi Tam Đảo nhìn xuống Vĩnh Yên, chúng ta sẽ thấy sát ngay tỉnh lũ Vĩnh Yên một làn nước trắng bao la, giống hình một chiếc vạc ba chân: đấy là đầm Vạc.

Đầm Vạc là một chiếc đầm lớn rộng, ở liền kế ngay tỉnh lũ Vĩnh Yên, hình giống một chiếc vạc ba chân, ăn vùng qua chín làng thuộc hai huyện Tam Dương và Bình Xuyên đi từ xã Vĩnh Thịnh, Tịch Sơn, Đông Đạo, Vị Thanh, Vị Trù, Khai Quang thuộc huyện Tam Dương,

suốt đến mấy xã Quất Lưu, Ngọc Canh, Hương Canh và Tiên Hương thuộc huyện Bình Xuyên, ăn thông với hai con sông Cà Lồ và Tiểu Đáy.

Nước sông Cà Lồ trước kia chảy vào đầm Vạc và trút ra sông Tiểu Đáy do một nhánh sông đào nhỏ, nhưng ngày nay nước sông Cà Lồ chảy thẳng qua sông Đuống, và nơi ăn thông với đầm Vạc cũ đã bị ngăn lấp.

Nước đầm Vạc trong và mát; cá đầm Vạc béo và ngon, và những dân làng sống quanh đầm Vạc chỉ cần chịu khó đôi chút là được huởng tất cả những nguồn lợi thiên nhiên của tạo hóa chứa đựng trong đầm này.

Thật vậy, đầm Vạc rộng và sâu, nước lên xuống tùy theo mùa mưa mùa nắng, khiến đàn cá ở sông Đáy, khi nước lên, theo dòng nước vào đầm, và lúc nước ra, ở lại đầm, biến thành một nguồn lợi cho chín làng ở quanh đấy. Ngoài ra, đất ở đáy đầm là một thứ đất sét quánh, dùng để nung lon nặn nồi rất tốt người ta vẫn thường lấy để mang bán cho các nơi làm đồ gốm như Thổ Hà ở Bắc Giang, Bát Tràng ở Bắc Ninh, Định Trung ở Vĩnh Yên v.v...

Ven bờ đầm, những đám rong xanh dùng cho lợn ăn rất lợi, có thể

thay bèo và rau được.

Sống ở chung quanh đầm Vạc, lẽ tất nhiên người dân biết khai thác phải được hưởng những nguồn lợi vô tận của đầm này. Người ta đánh cá, người ta nuôi lợn, người ta đào rạch để lấy nước trong những năm hạn hán, người ta lặn xuống đáy đầm để lấy đất sét dùng cho nghề

nặn. Và cỏ mọc ở bờ đầm rất xanh tốt, trẻ con trong các làng vẫn cho trâu ra gặm cỏ, và các cô gái cùng nhau cắt cỏ nơi đây.

Sáng sáng, từ lúc tinh sương, trên mặt đầm đã có người, nhất là ở khu giáp mấy làng Vị Thanh, và Vị Trù. Dân mấy làng này ra đầm đánh cá, trai có, gái có, trẻ có, già có. Đánh cá ở đầm cũng vất vả như đánh cá ở sông và cũng cần đủ những dụng cụ như vậy: phải có chài, có lưới, có thuyền. Ngoài ra còn cần đặt thêm đó, thêm lờ ở những chỗ nước chảy vào đầm hoặc từ đầm chảy ra ruộng để đón cá.

Đầm Vạc tuy rộng và sâu, nhưng khu sâu nhất là ở ven xã Vị Thanh, mé bên kia tỉnh lũ Vĩnh Yên, và các cá lớn vẫn tập trung ở khu này.

Mỗi buổi sáng dân xã Vị Thanh đánh được rất nhiều cá. Cá ở đây có tiếng là ngon và sạch, nên phường buôn thường tranh nhau mua.

Cảnh đánh cá trên mặt đầm hoạt động và vui vẻ lắm.

Sáng tinh sương, ánh bình minh vừa hé ở phuơng đông, những người dân chài đã có mặt ở ngoài đầm. Mặt trời tự phương đông chiếu đỏ xuống mặt đầm. Gió sớm làm làn nước bạc rung rinh, gây nên những con sóng nhỏ gợn hồng dưới dương quang. Những con thuyền đi ngang đi dọc trên mặt nước. Bơi chèo khua xuống nước, nước bắn lên mạn thuyền tóe trắng như bạc. Thuyền từ từ đi, người thuyền chài chiếc lưới gai đen tỏa ra rơi xuống mặt nước, chùm một bề mặt khá lớn rộng, rồi khép dần lại ở dưới nước theo sức nặng của những thỏi chì, khiến những đàn cá ở trong vòng lưới đành chịu mắc nghẹt để chờ lôi lên khỏi mặt nước. Có những chiếc thuyền chài lội hẳn dưới nước chăng ra quây hẳn lấy một vùng đầm. Trong khi đó thì có những thiếu nữ, những ông già chở những chiếc thuyền nan đi đuổi cá về phía chăng lưới. Thuyền nan bơi nhè nhẹ, thiếu nữ hoặc ông già dùng hai miếng gỗ gõ mạnh vào nhau tạo nên những tiếng động xua cá về cả một hướng. Chiếc lưới chăng dần dần khép lại. Đàn cá bị đuổi, bơi mắc vào mắt lưới.

Mỗi lần một chiếc lưới kéo lên, những con cá bạc quẫy như muốn trốn. Chiếc lưới kéo dần dần, đàn cá mắc lưới nhoi dần lên khỏi mặt nước, được các người trên thuyền gỡ dần ra ném vào khoang. Cá to có, cá nhỏ có. Có cá chép, có cá trắm, có cá mè là những loại cá to, nhưng lại có cả cá mương, cá diếc, cá bống, cá mại là những con cá nhỏ. Người ta sẽ chọn để riêng từng loại cá để tiện bán cho những hàng buôn đang chờ đợi trên bờ đầm.

Vừa đánh cá người ta vừa trò chuyện nói cười với nhau. Mặt trời dần dần lên cao, cuộc đánh cá hàng ngày cũng xong dần. Những chiếc thuyền được đưa vào bờ. Mặt đầm vẫn nhuộm hồng ánh tía của mặt trời.

Cá được các hàng buôn mua ngay tại bờ, hoặc có khi vợ con các nhà chài tự mang bán tại chợ Vĩnh Yên.

Sau buổi đánh cá sớm ngày, đầm Vạc trở nên hoang vắng, tuy nhiên vẫn còn một đôi người đơm cá hoặc úp cá ở ven bờ, nhất là ở

các thửa ruộng sát liền với đầm, và mấp mé mặt nước đầm. Một vài ngư ông có tuổi, với chiếc cần câu, thủng thỉnh buông câu, dưới nắng sớm một cách thật là nhàn nhã. Chiếc thuyền nan bềnh bồng theo sóng nhẹ, mặt nước đầm lăn tăn. Đầu đội chiếc nón mê che nắng, ngư

ông ung dung mắc mồi, thả câu mặc cho thời gian đi, tuởng chừng như không biết tới đời là gì nữa. Thỉnh thoảng chiếc phao nổi dập dềnh, nhấp nháy, ngư ông giật cần câu lên, thường thường là một con cá bạc đã cắn câu, đương vùng vẫy ở đầu sợi dây để tìm lối thoát thân.

Trong lúc một vài ngư ông già còn buông câu một cách thanh bình như vậy, thì những người đánh cá ban sáng đã người nào việc ấy rồi.

Các bà nội trợ, các cô gái mang cá đi bán tại chợ tỉnh Vĩnh Yên; các thanh niên sau khi kéo thuyền vào một chỗ trên bờ, đang xem lại thuyền, đang sửa lại lưới để dùng ngày hôm sau. Những người đàn ông có lẽ đã đi thăm đồng, có lẽ đang đôn đốc công việc trong nhà, hoặc có khi đang nghĩ đến việc khơi mương cho cá theo nước chảy vào ruộng.

Cũng như tất cả dân quê miền Bắc người dân ở đây rất siêng năng chịu khó, ham công ham việc. Có việc tại dân số miền Bắc quá đông, cuộc sống quá chật vật nên người ta phải vất vả chăm làm.

Có làm thì mới có ăn

Không dưng ai dễ mang phần tới cho.

Những người dân ở đây, sáng dậy từ tinh sương, làm lụng suốt ngày, mãi thật khuya mới đi nghỉ. Ai có việc nào lo việc ấy, và việc nọ

vừa làm xong, họ làm ngay tới việc khác.

Những người đánh cá ban sáng, sau buổi chài, lại săn sóc ngay tới công việc cày cấy của mình, nào tát nước, nào làm cỏ, nào phát bờ.

Có nhiều gia đình lại lợi dụng đất gần đầm tiện việc tưới bón để trồng rau. Các thiếu nữ những gia đình này, trừ những buổi chợ, thường ngày luôn luôn ở ruộng rau. Các cô bắt sâu, các cô tưới nước, các cô bón phân, và khi rau ăn được, lại cũng chính các cô cắt rau mang bán.

Các cô không nề hà công việc tỉ mỉ hay nặng nhọc. Quần xắn cao, các

cô gánh nước đầm lên tuới rau, rồi các cô lại vén tay áo bắt từng con sâu, bón rau từng gốc.

Ruộng cau chia làm nhiều luống, màu rau xanh xanh nổi lên màu đất nâu nâu. Những cây rau ngày một tốt, màu xanh xanh biến dần sang màu xanh đậm. Rồi rau trổ hoa. Những luống rau để bán đã được cắt dần, còn những luống rau để giống thì có hoa rồi có hạt. Các cô gái quê tươi tỉnh, vui vẻ nhanh nhẹn săn sóc những luống rau.

Ngoài công việc trông nom các vườn rau, các cô cũng cần để ý tới công việc đồng ruộng nữa, vì nguồn lợi chính của gia đình các cô hàng năm là hai vụ gặt.

Các cô cũng như người nhà, theo từng tháng trong năm phải làm công việc ngoài đồng. Nào gieo mạ, cấy lúa, bón phân trồng màu, gặt hái v.v...

Chiều chiều những ngày mùa xuân, sau khi công việc khác đã vãn, các cô thường cùng lũ trẻ dắt trâu cho gậm cỏ ở bờ đầm. Với mưa bụi của ngày xuân, những ngọn cỏ non vươn mình mơn mởn. Đường bờ

đầm quanh co, mươi con trâu thủng thỉnh đi bước một hoặc đang cúi đầu gậm những đám cỏ non tươi. Lũ trẻ có đứa đang thổi ống sáo theo một bài hát cổ tự bao giờ; có đứa dắt trâu lững thững và thỉnh thoảng lại kêu một tiếng “họ” rất dài trước một bãi cỏ non. Các cô gái quê cũng chăn trâu, các cô cũng theo, sự vui sướng hồn nhiên của các em bé nói cười với chúng. Các cô cũng ngồi trên mình trâu hoặc cũng đang bước một theo con trâu của mình.

Chăn trâu cũng lắm cái thú. Nhìn con trâu ăn cỏ một cách ngon lành, dưới bầu trời rộng rãi, bên làn nước trắng trong, cạnh những cánh đồng bát ngát, làm sao lòng người ta không rộn ràng say sưa được. Gió nhẹ như đùa mái tóc mây, mùi lúa xanh bốc lên ở cánh đồng chiều ngào ngạt. Ánh mặt trời xuân tía úa ở non Đoài chiếu lan trên đồng rộng tô điểm cho lúa xanh nuớc trắng. Xa xa chuông chùa thu không, thong thả buông từng tiếng êm và dài. Đàn chim chiều bay về

tổ hiện rõ trên không trung nổi bật lên nền trời xám đục. Tiếng ca của em bé vẳng lên:

Ngày xưa Nịnh Thích chăn trâu.

Mà rồi đeo ấn công hầu trâu ơi!

Ngày này lưng nghé ta ngồi

Mai sau ta có một thời hiển vinh?

Bên đám trẻ và các thiếu nữ chăn trâu, có những cô khác đi cắt cỏ.

Lưỡi liềm sắc bén cứa vào cỏ soèn soẹt. Tay trái các cô nắm ngọn cỏ, tay phải các cô đưa liềm đều đều. Các cô xếp cỏ vào đôi quang gánh, lớp nọ trên lớp kia. Các cô lom khom bên bãi cỏ xanh, in bóng đen xuống nền cỏ. Có khi các cô hát vài câu.

Và không xa đấy, bên những thửa ruộng, có những chàng nông phu đang xẻ mương lấy nước, đang phát bờ hoặc đang cuốc ruộng màu.

Mặt trời dần khuất. Chàng nông phu ngừng tay, nhìn đàn chim bay về tổ. Chàng thở ra khoan khoái vì kết quả của một ngày vất vả.

Bỗng tầm mắt chàng bắt gặp cô cắt cỏ bên đầy bên vơi ở trên bờ

đầm. Chàng hỏi đùa vài câu chuyện, và cũng có khi chàng hát ghẹo các cô:

Mặt trời đã xế về Tây,

Hỡi cô cắt cỏ bên đầy bên vơi,

Cô còn cắt nữa hay thôi,

Để tôi cắt với làm đôi vợ chồng?

Nghe chàng nông phu hát cô gái có khi mỉm cười, có khi nguýt dài chàng một cái. Cô bảo:

- Sao nhà bác nói dễ nghe thế! Này tôi bảo cho nhà bác nhé: Giầu vàng còn để trong cơi

Anh kia đũa mốc chớ trèo mâm son!

Bị câu nói chanh chua, chàng nông phu chỉ mỉm cưòi, chàng cũng chẳng lạ gì các cô gái làng nữa, các cô khẩu xà nhưng tâm Phật. Chàng lại nói trêu hát ghẹo. Chàng nói:

- Sao nhà chị chua ngoa thế.

Giầu vàng đâu mãi trong cơi.

Sợ mai giầu héo, giầu ơi là giầu!

Trời tối dần dần. Đàn trâu trên bờ đầm lần lượt đi về làng. Các cô cắt cỏ cũng xếp lại quang gánh ra về, và các chàng nông phu cũng vác cuốc trên vai lững thững đi theo các cô trên nẻo đường làng. Vừa đi có chàng vừa tiếp tục cuộc nói chuyện dở dang, đem những lời ong bướm cợt trêu người thiếu nữ vừa cùng chàng đối đáp. Trước những lời chòng ghẹo của chàng trai, nhiều khi cô gái đã cự tuyệt một cách tinh tế.

Bao giờ trạch đẻ ngọn đa,

Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mìnhBao giờ rau diếp làm đình Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta.

Trời tối hẳn, bóng lẫn vào bóng tối: bờ đầm, bãi cỏ trở nên vắng vẻ. Mọi người đã về làng, cho đến sáng sớm hôm sau ngoài đồng mới lại có bóng người.

Và đầm Vạc, với ánh bình minh, trên bờ dưới nước lại có cảnh hoạt động hàng ngày.

Có làng như làng Khai Quang tuy ở gần đầm Vạc, nhưng không sống về nghề đánh cá. Hoạt động của dân làng này ngoài công việc đồng áng, họ chuyên việc nặn và nung các đồ sành. Hàng ngày trong khi đàn bà trẻ con ở nhà nặn đồ nung thì có những người đàn ông ra đầm lấy đất sét. Họ rủ nhau từng bọn hai ba người, mang thuyền ra giữa đầm để lấy đất. Đất sét ở đáy đầm Vạc quánh và mềm, dùng trong nghề nung rất tốt, nhưng việc lấy đất rất công phu.

Chiếc thuyền gỗ không mui chèo ra giữa đầm được cột chặt vào chiếc sào cắm sâu xuống đáy đầm. Một người ở lại trên thuyền còn mấy người khác chỉ quấn mỗi người một chiếc khố lặn xuống nước dí chiếc mai để đào đất. Đất họ xén thành từng tảng vuông. Mỗi lần được một tảng đất, họ lại nhoi lên đưa cho người ở thuyền đỡ lấy, xếp

vào khoang thuyền. Người lấy đất lại ngụp xuống và một lát sau họ

lại mang một tảng đất khác lên.

Từng tảng đất một, họ kiên tâm lấy cho tới chất vừa thuyền họ

mới thôi. Những tảng đất sét lấy ở dưới đầm lên còn uớt nước ở bên ngoài, trong như bôi mỡ. Ánh mặt trời chiếu vào lớp nước ngoài óng ánh những tia đỏ chói.

Khi đã lấy đất xong, họ thủng thỉnh bơi thuyền vào bờ. Những tảng đất sét lấy đó, qua bàn tay đàn bà con gái ở nhà, sẽ biến thành những chiếc nồi đất màu ngói, những chiếc chậu màu da lươn hoặc những chiếc chum màu gạch già.

Những người dân chung quanh đầm Vạc mỗi làng mỗi nghề. Họ

quanh năm làm lụng để lo sao cho gia đình không những đủ tiêu, lại sung túc hơn người. Họ làm việc không quản ngại thời tiết nóng hay lạnh, mưa hay nắng, sớm hay trưa.

Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa

Sang đâu đến kẻ say sưa tối ngày.

Đầu năm chí cuối họ làm ăn cần cù chăm chỉ, và họ chỉ giải trí nghỉ

ngơi trong dịp Tết và những dịp hội. Trong những ngày này thì trai cũng như gái, trẻ cũng như già, họ đều nghỉ ngơi, để dự hội cũng như

để vui chơi. Ngày thường họ quần áo lam lũ thì ngày hôm nay, có bộ

quần áo nào đẹp nhất họ mang ra mặc. Họ cũng vui vẻ tươi tỉnh hơn.

Gặp nhau ở hội họ hớn hở chào đón ngợi khen nhau.

Mỗi làng ở quanh đầm Vạc có tục lệ riêng của mình. Làng Tích Sơn thì ngày mồng bốn tháng giêng có tục thi cơm. Các cô gái làng phải lo thổi nồi cơm cho thật dẻo, thật ngon. Các trai làng kén vợ thường kén qua nồi cơm thi các cô thổi cho cha hoặc anh em để trình làng.

Ngoài thi cơm còn thú kéo co, tục chém gà và lễ rước thần từ đền làng đến chân Bàu. Làng Vị Thanh có tục đánh vật và chơi Trung Bình Tiên. Vị Thanh là một lò đô vật có tiếng ở Vĩnh Yên. Các đô vật làng này đã nắm nhiều giải ở các làng trong tỉnh trong dịp đầu xuân. Làng Động Đao cũng có tục Vật và tổ chức hội làng vào ngày rằm tháng giêng tại chùa Cói, là một ngôi chùa cổ của miền Bắc. Các làng khác cũng đều có mở hội vào tháng giêng. Hội có rước thần, có đánh vật,

có đánh cờ. Hội ở mấy xã Ngọc Canh, Hương Canh và Tiên Hường hàng năm mở to lắm. Ba làng này là ba làng giàu có nhất ở quanh đầm Vạc, nhiều ruộng lại có nghề buôn bán rất phát đạt. Hàng năm những vụ nước lên, đem mầu mỡ vào ruộng, đồng lúa càng thêm tốt.

Quanh đầm Vạc, mỗi làng mỗi vẻ, mỗi xã có mỗi nghề. Ai tới vùng này có lẽ đã được nghe câu đồng dao:

Vị Thanh đánh vật

Đào đất Khai Quang

Làng Cánh[ 5] ,' Tiên Hường Lắm tiền nhiều ruộng.

Có thể lời đồng dao còn dài, và còn có ghi đến các xã khác, nhưng vì lâu ngày người ta chỉ truyền khẩu được có bốn câu trên; cũng có thể vì các làng khác không được người ta chú ý bởi không có gì đặc sắc, nên không được truyền vào lời đồng dao chăng? Nhưng dù làng đó có tên hay không ở lời đồng dao, thì những người dân quê chịu khó ở quanh đầm Vạc vẫn suốt đời tận tụy với việc mình.