MẸ TÔIPartie 16

À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.

Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.

Mẹ tôi chỉ là một người đàn bà nhà quê miền Bắc. Cũng như muôn nghìn phụ nữ đồng quê khác, mẹ tôi đã sống giữa sự vất vả làm lụng, trọn đời hy sinh cho chồng con và tự nhận lấy mọi sự cực nhọc về

mình.

Ông ngoại tôi có chân nhiêu trong xã. Có chân nhiêu, nghĩa là ông ngoại tôi ngày xưa là một người khá giả trong làng, có ruộng có vườn,

và đình, ông ngoại tôi là một bậc vai vế, được ngồi chiếu trên, được hưởng những điều vinh dự của hàng dân làng xã.

Con một ông Nhiêu, mẹ tôi thời còn con gái cũng được đầy đủ hơn nhiều chúng bạn, có quần áo đẹp, có khuyên vàng sà tích bạc để đeo trong ngày hội, có nón quai thao, có dép cong để mang trong những dịp vui dịp tết. Mẹ tôi lại được đi học Hán tự cho mãi tới năm mười lăm tuổi.

Tuy vậy, không phải vì đuợc đi học, vì sung sướng hơn chúng bạn cùng tuổi mà mẹ tôi không phải làm lụng gì, trái lại mẹ tôi vẫn phải lo đủ mọi công việc của một cô gái quê.

Hàng ngày, ngoài buổi học ở nhà cụ đồ, về nhà cha mẹ tôi luôn tay bận rộn. Nào thổi cơm, gánh nước, khâu vá, thêu thùa, dọn dẹp nhà cửa, quét tước sân vườn, chăn gà nuôi lợn. Việc lớn, việc nhỏ mẹ tôi đều phải làm rất chu đáo, cẩn thận vì ông ngoại rất nghiêm, không bao giờ ông tôi tha thứ sự trễ nãi lơ là của con cái. Còn công việc tắm rửa cho các em, còn đôi khi phải gánh đi chợ bán ngô khoai đậu sắn là những sản phẩm của ruộng vườn nhà, để lấy tiền mua thức ăn đồ

dùng.

Không bao giờ mẹ tôi xao nhãng việc làm, cũng như không bao giờ

mẹ tôi chểnh mảng việc học.

Cụ đồ dạy mẹ tôi là bạn thân với ông ngoại tôi. Hàng ngày các cụ

vẫn gặp nhau, nếu mẹ tôi lười biếng là ông tôi biết ngay. Cụ đồ

thường khen với ông tôi: mẹ tôi là một cô học trò ngoan ngoãn thông minh, chịu khó, chữ đẹp lại văn bài làm tấn tới. Cụ vẫn bảo:

-

Con bé ấy, nếu là con trai, chẳng giải nguyên cũng á nguyên.

Mẹ tôi chị em anh em đông, mọi người đều phải đi học và phải làm việc nhà. Các cậu tôi, sau buổi học sáng, chiều chiều phải đi chăn trâu, hoặc có khi phải cuốc vườn rất nặng nhọc.

Cũng như mẹ tôi, các người kia, cũng không bao giờ có ai hề phàn nàn về công việc, cũng như không dám bỏ nhác việc học hành, tuy rằng các người không được xuất sắc bằng mẹ tôi.

Ông tôi thường lấy mẹ tôi để răn các dì và các cậu tôi, song cũng có nhiều lần ông tôi quở mắng mẹ tôi vì cụ đồ đã cho ông tôi biết một vài bài văn mẹ tôi không nhớ điển, hoặc một vài đoạn kinh sách nào mẹ tôi không thuộc.

Ông tôi cũng rõ những hôm đó vì bận nhiều công việc nhà, nên việc học của mẹ tôi không được chu đáo, nhưng ông tôi vẫn gọi mẹ

tôi bảo:

“Cụ đồ cho thầy biết, độ này con học hành không được chuyên cần. Thầy không bằng lòng. Con đừng thấy rằng phải làm việc nhà mà lững lờ với việc học. Có học mới biết, có làm mới nên người.

Nhân bất học bất tri lý

Ngọc bất trác, bất thành khí”

(Không học người có biết gì

Ngọc mà không rũa thành chi đồ dùng).

Lẽ tất nhiên trước những lời nghiêm huấn ấy mẹ tôi chỉ biết nhận lỗi xin cố gắng học hành, chăm chỉ làm việc để ông tôi đuợc vui lòng.

Quở mắng mẹ tôi, ông tôi thường dùng lời nhẹ nhàng, còn đối với các cậu tôi, ông tôi luôn luôn dùng roi vọt, nhất là khi nào các cậu tôi không chịu học.

Yêu cho vọt, ghét cho choi. Đối với ông tôi, con gái xao nhãng việc còn tha thứ được, chứ con trai cần phải học. Ông tôi thường mắng các cậu tôi:

“Chúng mày lười, sau này chúng mày sẽ dốt nát, sẽ làm đầy tớ

người khác, như thế là điếm nhục gia phong, xấu lây tới tiên tổ. Kẻ

làm trai phải lấy học vấn làm đầu.

Nhân sinh bách nghệ

Văn học vi tiên

Nho sĩ thị trân

Thi thư thị bảo. ”

(Người ta trăm nghệ tùy thân

Nhưng mà văn học phải cần đầu tiên

Thi thư là máu rõi truyền

Học trò là kẻ sĩ hiền trọng thay).

Mẹ tôi đi học cho tới năm mười lăm tuổi. Theo lời mẹ tôi thuật lại thì ngày ấy là vụ gặt lúa chiêm, ông tôi có nhiều ruộng ở làng Song Lư tục gọi là làng Xưa tỉnh Bắc Giang, mà không có ai trông nom thóc lúa trong ngày gặt, nên buổi tối hôm đó, trong khi mẹ tôi đang cùng các cậu tôi học lại bài buổi sáng, ông tôi cho gọi và bảo:

“Từ mai con nghỉ học, để lên làng Xưa cùng với chị con trông nom gặt hái cho thầy. Con học thế cũng đủ rồi, con gái không cần học nhiều. Chỉ cần thông văn tự để hiểu lấy bổn phận của mình là đủ”.

Ông tôi đã định việc gì trong nhà không ai dám trái ý. Mẹ tôi chỉ

biết nghe theo, nhưng lòng mẹ tôi lúc ấy mang một mối buồn. Thôi từ nay, hàng ngày không còn gặp thầy gặp bạn, hết làm thơ, làm phú, hết nghe kinh sách, hết giảng văn, tập đối.

Trước vẻ ngỡ ngàng của mẹ tôi, ông tôi bảo:

“Thầy cũng biết con còn muốn đi học, nhưng thầy đã nghĩ kỹ, con cần phải nghỉ học để còn lấy chồng. Đi học mãi người ta ai dám lấy.

Đàn bà con gái cốt nhất giữ sao cho vẹn tứ đức, rồi trọn đạo tam tùng.

Thôi ngày mai con đến xin phép cụ đồ và chào bạn học. Trưa mai con lên làng Xưa và chị con. Thóc lúa vụ này nhiều, hai chị em liệu mà trông nom”.

Thế là ngày hôm sau mẹ tôi đến xin phép cụ đồ để thôi học và chào các bạn học. Cụ đồ nói:

“Con học được, nhưng con gái học thế cũng đủ. Ở nhà con phải lo cho trọn bổn phận của con, và phải luôn luôn nhớ tới những điều đã học trong sách, lấy đó làm phương châm. Đừng để mang tiếng thầy là đã dạy con những điều không hay trái với đạo lý của thánh hiền, và cũng đừng để thầy mẹ con phải lo nghĩ về con”.

Mẹ tôi sợ cụ đồ cũng như sợ ông ngoại tôi. Những lời căn dặn của cụ đồ mẹ tôi suốt đời ghi nhớ, và vẫn hằng nhắc lại cho chúng tôi nghe.

Từ ngày đó mẹ tôi nghỉ học, nhưng hàng ngày mẹ tôi vẫn giở lại sách cũ để xem, và những lúc các cậu tôi làm văn làm phú, làm câu đối, làm thơ, mẹ tôi thường giúp đỡ, tìm hộ một vài điển, nghĩ hộ một vài chữ. Vì vậy, nên tuy nghỉ học, mẹ tôi vẫn trau dồi thêm được về

kinh sách.

Nghỉ học, mẹ tôi phải cáng đáng công việc nhà nhiều hơn. Phải dậy sớm thức khuya để trông nom nhà cửa và người làm, phải cắt đặt công việc trong nhà cũng như công việc ngoài đồng ruộng.

Bà ngoại tôi thường khoe với mọi người là từ ngày mẹ tôi nghỉ học, mẹ tôi gánh đỡ mọi việc trong nhà và trồng nom đỡ việc đồng áng.

Mẹ tôi lại phải lo học làm bánh trái cũng như những việc khác về

nữ công. Trong những dịp giỗ tết, ông tôi luôn luôn bắt mẹ tôi phải làm đủ các thứ bánh su sêm tràng gừng, bánh cốm, bánh thu đa nạp thiểu,[7] bánh ú, bánh ít, bánh gai, v.v...

Đời con gái của mẹ tôi kéo dài tới năm 18 tuổi. Tuy vất vả, nhưng những dịp hội hè đình đám tết nhất, mẹ tôi cũng được nghỉ ngơi như

các chị em để cùng chúng bạn đi lễ chùa chơi hội với quần áo đẹp, với đồ trang sức rất đầy đủ.

Thỉnh thoảng mẹ tôi lại nuôi riêng được một lứa tằm, tiền bán kén đuợc bao nhiêu ông tôi cho cả để làm vốn, và để sắm sửa may mặc.

Theo lời thuật lại thì từ năm mười sáu tuổi mẹ tôi được rất nhiều người để ý tới. Các cụ trong làng đều khen ngợi mẹ tôi chịu khó, và nhiều cụ đã ngắm cho con trai mình.

Vừa là con nhà khá giả, vừa có chút vốn liếng lại vừa siêng năng ngoan ngoãn hay làm, trách nào mẹ tôi chẳng lọt mắt nhiều gia đình hồi đó.

[7] Một thứ bánh rán nở phồng lên.

Năm muời tám tuổi, mẹ tôi lấy thầy tôi.

Từ giã đời con gái để bước chân vào một cuộc đời mới, mẹ tôi biết thêm một chân trời, nhưng cũng chỉ bước từ một cuộc sống cần cù siêng năng này để sang một cuộc sống vất vả nặng nhọc khác, với thêm một trách nhiệm làm dâu và làm vợ.

Lấy chồng gánh vác giang sơn nhà chồng.

Tất cả các thiếu nữ đồng quê miền Bắc đều quan niệm bổn phận của mình lúc lấy chồng rất nặng nề. Ở nhà với cha mẹ, tuy làm lụng vất vả, nhưng chua có một trách nhiệm, mọi công việc đều theo ý cha mẹ, không phải do tự mình điều khiển.

Đã lấy chồng phải có nhiệm vụ, nhiều khi phải quán xuyến cả gia đình nhà chồng. Các cô gái quê, bởi vậy mỗi khi ra ở riêng đều được cha mẹ cho chút vốn riêng, và ở trong những gia đình nghèo, các cô phải tự gây lấy chút vốn đó để phòng khi xuất giá. Nhiều cô lấy chồng nghèo, của chồng công vợ, cùng nhau nhóm rau nhóm bếp xây đắp tổ uyên ương, trong cảnh nghèo nàn nhưng đầy hạnh phúc.

Mẹ tôi hồi đó cũng chỉ là một cô gái, một cô gái quê làng Thị Cầu, tỉnh Bắc Ninh. Đàn bà con gái làng này, lấy chồng thường phải nuôi chồng và khi bước chân về nhà chồng bao giờ các cô gái cũng đã nghĩ

tới việc phải gánh vác giang sơn nhà chồng.

Khi lấy thầy tôi, mẹ tôi cũng có một chút vốn riêng và gánh hàng xén.

Nhà ông bà nội tôi hồi đó cũng vào bậc trung trong làng, có nhà ngói năm gian hai chái, có sân gạch, có vườn cau cây mít...

Lúc mới về làm dâu, mẹ tôi cũng không phải lo tới việc nhà chồng vì ông bà nội tôi cũng sung túc dư dật. Không những thế mẹ tôi cũng không phải vất vả lắm, vì mọi công việc trong nhà đã có các cô tôi làm nhiều. Mẹ tôi được yên tâm đi chợ, và mẹ tôi cũng thấy nhàn nhã hơn khi ở nhà.

Thỉnh thoảng mẹ tôi nghỉ một buổi chợ, thì lại cùng thầy tôi về

thăm ông bà ngoại tôi. Những buổi về thăm nhà thế này bao giờ mẹ

tôi cũng được ông ngoại tôi hỏi thăm rất kỹ lưỡng về công việc nhà chồng. Lần nào ông tôi cũng nhắc mẹ tôi tới đạo tam tòng tứ đức, và dạy mẹ tôi phải kính mến bố mẹ chồng, chiều chồng và hòa thuận với anh chị em nhà chồng.

Mọi việc đều êm đẹp, mẹ tôi rất khéo ăn ở, kính trên nhường dưới, biết quý mến thương yêu hết mọi người.

Làm dâu được bốn tháng bỗng một buổi sáng, ông nội tôi gọi mẹ

tôi tới bảo:

-

Nhà cả ạ, thầy có chuyện này cần nói cho con rõ. Con cũng biết nhà ta, so với trong làng cũng vào bậc giữa và thầy cũng là người được tín nhiệm với trong thôn ngoài xã. Con về nhà này đã mấy tháng nay tất con rõ: Thầy và đẻ con không hề bao giờ muốn con phải lo đến việc nhà. Vợ chồng con còn trẻ, thầy đẻ không muốn các con phải lo nghĩ sớm, nhưng vừa đây, trong một lúc đùa vui chúng bạn, thầy đánh xóc đĩa đã thua mất mấy trăm bạc và thầy đã liều viết thế cho người ta dinh cơ nhà ta. Chỗ người lớn, giấy thầy đã viết ra thầy phải tôn trọng chữ ký, thầy sẽ trao nhà cho người ta, vậy thầy cho con biết, con liệu cố làm ăn dành dụm để sau này tậu lấy một miếng đất mà ở”.

Ông tôi nói nhiều, nhưng đại ý cũng chỉ khuyên mẹ tôi không nên buồn vì sự không may ấy.

Mẹ tôi không biết nói thế nào, chỉ biết vâng dạ, và ngay từ phút ấy mẹ tôi cảm thấy trách nhiệm của người con dâu.

Bấy giờ mẹ tôi mới hiểu tại sao trong mấy ngày gần đây, mấy lần người bắt gặp bà nội tôi cặp mắt đỏ hoe như khóc, và khi thấy mẹ tôi, bà tôi lại cố làm ra vẻ tự nhiên, bây giờ mẹ tôi mới hiểu tại sao trong mấy hôm liền ông bà tôi cứ luôn luôn bàn tính với nhau việc gì, và vẻ

mặt ông tôi có bề lo nghĩ.

Việc đã xảy ra, mẹ tôi cũng chẳng có phép gì để gỡ lại. Cứ kể ra, nếu ông nội tôi là người không biết trọng chữ ký, ngôi nhà và đất người được bạc, có muốn cắm cũng khó khăn, nhưng ông tôi là người thấm nhuần cổ học, rất trọng chữ tín, nên đành chịu mất dinh cơ mình đang ở cho một canh bạc.

Người đuợc bạc, tuy được ông tôi viết nhượng cho cả nhà lẫn đất, nhưng cũng không dám lấy ngay. Gia đình tôi vẫn tiếp tục ở đó, cho tới khi mẹ tôi tậu được một miếng đất mới ở trong làng.

Từ hôm được biết chuyện chẳng lành trên, mẹ tôi chăm chỉ chợ

búa hơn trước, đi hết chợ xa tới chợ gần, không nghỉ buổi nào. Thấy mẹ tôi vất vả, thầy tôi thường khuyên phải nghỉ ngơi. Trước mọi sự ân cần của thầy tôi mẹ tôi chỉ đáp:

-

Nhà tưởng em vất vả hay sao, hồi còn con gái, em còn vất vả

bằng mấy, nhà đừng lo.

Ngoài việc đi chợ, buổi tối về mẹ tôi lại làm gạo lấy cám nuôi lợn.

Hôm nào mẹ tôi cũng thức khuya dậy sớm để giã gạo, xay lúa, dần sàng, ông bà nội tôi thấy con dâu chịu khó cũng thương, thường bắt các cô tôi giúp đỡ rất nhiều.

Tuy mẹ tôi làm lụng cực nhọc, nhưng cảnh gia đình rất vui hòa đầm ấm. Ông bà tôi rất thương dâu, và mẹ tôi bao giờ cũng kính trên nhường dưới, giữ trọng đạo mình.

Sau khi ông tôi thua bạc, mẹ tôi thưa về thăm nhà hơn trước, vì phải chợ búa nhiều hơn. Cách đó ít lâu, khi mẹ tôi về thăm ông bà ngoại tôi, ông ngoại tôi bảo:

“Thầy biết tin ông bà dưới nhà vừa được cái bổng. Từ nay con càng phải ăn ở ý tứ hơn đừng để trong họ ngoài làng hiểu nhầm. Ông dưới nhà là người thủy chung, thầy quý lắm”.

Rồi ông tôi khuyên mẹ tôi phải vui vẻ trước mọi sự vất vả, phải cố

gắng buôn bán để chuộc lại đất nhà đã mất hoặc để tậu lấy một nơi khác.

Những lời đó, luôn luôn mẹ tôi ghi nhớ, và sau này mẹ tôi thường nhắc lại để răn dạy chúng tôi, nhất là các em gái tôi.

Nhờ tài tảo tần buôn bán, và nhờ sự tận tụy làm việc, cách đó ba tháng với chút vốn riêng mẹ tôi sẵn có, mẹ tôi tậu được thửa đất rộng với ngôi nhà ở xóm Đông. Ngôi nhà này chỉ cần sửa chữa lại đôi chút là ở được ngay. Sau này mẹ tôi có cho sửa sang xây cất thêm nhiều.

Thế là gia đình nhà tôi dọn về nhà mới.

Mẹ tôi được cả nhà quý trọng, và làng nước ai ai cũng ngợi khen, nhưng vì tậu nhà đất nên vốn liếng của người bị sút đi nhiều, người càng phải vất vả buôn sớm bán trưa.

Mọi việc trong nhà từ đó đều do người đảm đang. Bà nội tôi thỉnh thoảng giúp đỡ mẹ tôi ít nhiều tiền, nhưng chính mẹ tôi phải quán xuyến mọi việc trong nhà.

Mẹ tôi vẫn tiếp tục đi chợ, làm gạo thêm, nuôi gà lợn. Trong nhà nhờ vậy cũng đủ bát ăn, và dần dần mẹ tôi lại dành dụm được một số

vốn.

Bao nhiêu giỗ chạp, ngày tư ngày tết mẹ tôi phải lo hết. Lại còn quần áo và tiền tiêu pha của thầy tôi, mẹ tôi chẳng để thiếu một thứ

gì. Rồi những ngày hội hè, lệ dân, lệ làng cũng không thể khiếm khuyết được.

Hai năm mẹ tôi sinh tôi. Cảnh nhà tôi khi ấy đã sung túc hơn trước, và mẹ tôi cũng có đồng ra đồng vào. Nhà đã mượn được người làm nên mẹ tôi đỡ bận tâm với việc nhà, có thể chuyên lo việc buôn bán.

Thầy tôi cũng như tất cả mọi người trai khác ở làng Thị Cầu chỉ ăn chơi, không phải làm lụng gì. Khi thì họp năm bảy bạn bè uống rượu ngâm thơ, khi chơi chọi gà, khi chơi chim họa mi, khi quần áo bảnh bao để đi hội hát quan họ. Mẹ tôi rất chiều chuộng thầy tôi, bao giờ

cũng muốn cho chồng sang trọng bằng người, nếu không hơn.

Ba năm sau nửa mẹ tôi sinh thêm em trai tôi, và cứ ba năm đôi, mẹ

tôi sinh tất cả trai lẫn gái mười một anh em chúng tôi.

Lũ con làm cho vui nhà, nhưng cũng làm cho mẹ tôi cực nhọc lo lắng hơn: tiền nuôi vú, tiền người làm, tiền may mặc, tiền thuốc thang những khi sài đẹn.

Mỗi lần sinh xong, mẹ tôi chỉ nghỉ ngơi dăm buổi là lại đi chợ. Làng nước ai cũng nhận thấy mẹ tôi chịu khó, gây hạnh phúc cho gia đình tôi.

Càng có nhiều anh em chúng tôi, mẹ tôi càng thức khuya dậy sớm hơn, lo tảo tần chợ búa để kiểm đủ gạo nuôi con, đủ tiền để giữ bề

thế cho gia đình với dân làng.

Lúc đi chợ thì không kể, còn về tới nhà là mẹ tôi luôn chân luôn tay, làm hết việc này tới việc khác. Nhiều khi ốm trong người mẹ tôi chỉ bỏ ăn chứ không bỏ việc.

Thầy tôi hoặc ai có bảo mẹ tôi không nên cố gắng quá sức e lâm trọng bệnh, mẹ tôi chỉ đáp lại:

“Tôi không cố gắng thì làm thế nào một con thế này không chịu khó sao có tiền nuôi chúng nó cho bằng con người ta”.

Năm tôi lên bảy, tôi được đi học vỡ lòng theo Hán tự. Tôi bắt đầu học quyển Hán Tự Tân Thư. Mẹ tôi sắm cho tôi quần áo mới và cả

chiếc khăn xếp mới nữa. Ngay từ hôm đó, tôi đuợc mẹ tôi săn sóc tới sự học của tôi lắm. Tối nào mẹ tôi cũng dạy lại tôi bài và giảng nghĩa cho tôi từng chữ. Chính mẹ tôi đã cầm tay cho tôi viết tô bài đầu tiên.

Nhờ mẹ tôi chỉ bảo, tôi học mau tấn tới. Tối tối trong khi mẹ tôi sàng gạo, tôi mang quyển sách ngồi cạnh để học, quên đâu mẹ tôi bảo đấy.

Năm tôi lên chín, thầy tôi cho tôi đi học quốc ngữ ở trường tiểu học Đáp Cầu. Ngày đi học quốc ngữ ở trường, nhưng tối tối về mẹ tôi vẫn dạy tôi thêm chữ Hán cho tới khi tôi thi đậu bằng tiểu học. Cả các em tôi về sau cũng vậy. Dạy tôi học nhưng mẹ tôi vẫn không bỏ việc nhà. Đã biết bao nhiêu lần, nửa đêm tôi thức giấc, tôi còn nghe tiếng mẹ tôi giã gạo ở nhà ngang hoặc đang sửa soạn gánh hàng để đi chợ

hôm sau.

Mẹ tôi chăm nom chúng tôi lắm. Đêm nào trước khi đi ngủ mẹ tôi cũng xem lại giường màn cho chúng tôi. Phải khi một trong anh em chúng tôi có người nóng đầu hay trái gió là mẹ tôi thao thức suốt đêm, thỉnh thoảng người lại sờ đầu con, hoặc hỏi han xem con ngủ

hay thức.

Tình mẹ thật là bao la! Trời biển nào đã rộng bằng!

Dạy chúng tôi học Hán Tự, mẹ tôi chú trọng rất nhiều về phần tinh thần của chúng tôi, luôn luôn nhắc chúng tôi tới luân thường lễ nghĩa.

Tôi còn nhớ có một lần tôi hẹn cho một người bạn một món đồ chơi, nhưng sau tôi lại tiếc không muốn cho, thì mẹ tôi bảo:

“Con đã hứa cho bạn thì con phải cho, con đừng thất tín. Con quên mất lời Tăng Tử đã nói: “Ngô nhật tam tinh ngô thân: sự nhị thân bất kính hồ, bằng hữu chi giao bất tín hồ, truyền bất tập hồ[ 8] hay sao”.

Để khuyến khích chúng tôi trong việc học hành, bao giờ mẹ tôi cũng chỉ dùng những lời dịu hiền hoặc quà thưởng. Khi tôi ở lớp năm được lên lớp tư, mẹ tôi đã khen ngợi tôi rất nhiều. Người bảo: “Con chịu khó học, được lên lớp, thầy u rất vui lòng, và rất hãnh diện vì con”. Lần ấy mẹ tôi đã mua thưởng cho tôi chiếc cặp da mới.

Anh em chúng tôi một ngày một lớn, về việc học hành càng tốn kém, nhưng may nhờ ở sự chắt chiu chịu khó và cũng nhờ tài đảm đang của người mẹ tôi mở được một cửa hàng tạp hóa ở ngay phố

chính Thị Cầu việc buôn bán nhờ vậy nhẹ nhàng hơn và cũng dễ kiếm ăn hơn.

Làng nước thấy anh em chúng tôi khôn lớn, có nghề nghiệp làm nên đều mừng cho thầy mẹ tôi. Ai nấy đều bảo: “Rồi ông bà sung sướng vì các cô các cậu ấy thành người cả. Ông bà tha hồ nhờ”.

Nhưng than ôi! mẹ chúng tôi đã không được nhờ chúng tôi mà chỉ

suốt đời vất vả vì chúng tôi!

Sau khi gây dựng được nhà cửa, lo đủ cho lũ con học hành xong mẹ tôi đã ngoài năm mươi tuổi! Mà cho tới lúc năm muơi tuổi mẹ tôi đã còn có biết bao nhiêu điều lo khác: nào ông tôi khao lục tuần, thất tuần, nào lúc ông bà tôi trăm tuổi phải lo việc ma chay cho xứng đáng, nào dựng vợ, gả chồng cho anh chị em chúng tôi.

[8] Một ngày ta tự xét ta ba lần: thờ cha mẹ thiếu kính chăng, giao du với bạn hữu thiếu tín chăng, học hành thiếu tập chăng?

Tôi quên chưa nói tới chuyện năm ngoài ba mươi tuổi, thầy tôi đã lấy thêm dì hai chúng tôi! Trước cảnh vườn thêm hoa mẹ tôi không hề ghen tuông, và vẫn tiếp tục chiều chuộng thầy tôi. Khi dì hai chúng tôi có con, mẹ tôi lại săn sóc cho cẩn thận, và mẹ tôi bắt chúng tôi phải quý các em chúng tôi như chính mẹ tôi sinh ra vậy.

Suốt đời tận tụy với chồng với con, không lúc nào mẹ tôi phàn nàn về số phận vất vả của mình. Hình như mẹ tôi lấy sự vất vả đó là niềm vui để càng cố gắng mãi mãi cho chồng được sung sướng, cho con được thành người.

Khi một vài anh em chúng tôi có thể giúp đỡ được mẹ chúng tôi đôi phần thì người đã già rồi! Mặc dầu tuổi cao, cũng không lúc nào người xao nhãng việc buôn bán. Người thường bảo chúng tôi:

“Bây giờ tuy một vài đứa trong các con đã lớn, có công ăn việc làm, nhưng các em chúng nó còn bé, u còn phải lo cho chúng nó nhiều. Các con có đỡ đần u thì các em chúng nó được rộng rãi, không có bằng nào u cũng vẫn phải lo”.

Mẹ tôi vui vẻ làm ăn, vui vẻ trông chúng tôi khôn lớn. Mỗi lần một đứa trong anh em chúng tôi lập gia đình mẹ tôi hình như sung sướng lắm. Có lẽ người nghĩ gây dựng xong cho một đứa con là lo xong một phần nào bổn phận của người mặc dầu sự gây dựng này đã khiến người phải tốn kém, nhất là đối với các em gái tôi, bao giờ người cũng gói riêng cho một số vốn nhỏ!

Đến khi vợ chồng tôi sinh đứa con đầu lòng thì người lại vui mừng hơn. Khi bế đứa cháu nội trong lòng người nựng nó, nét mặt người như nở ra, mắt người như sáng lại. Người căn dặn chúng tôi về cách nuôi con, người chỉ bảo vợ tôi về mọi điều kiêng cữ.

Đối với con nào mẹ tôi cũng thương yêu như nhau, và anh em chúng tôi, mặc dầu đã lớn tuổi, lúc nào người cũng coi như còn bé bỏng lắm, người phải cần săn sóc tới!

Ôi tình mẹ thật là cao rộng!

Mấy anh em chúng tôi đã nguyện cùng nhau cố gắng để cho người đuợc nhàn nhã lúc tuổi già, nhưng than ôi! trời già cay nghiệt, chúng tôi không được mảy may toại nguyện!

Vừa tới lúc chúng tôi có thể giúp đỡ được cha mẹ chúng tôi nhiều hơn, thì xảy ra liên tiếp những biến chuyển của thời cuộc. Chiến tranh xảy ra, tiếp đến làng tôi phải tản cư, và chính sách vườn không nhà trống đã phá hủy hết những công trình mẹ tôi đã suốt một đời vất vả

mới gây dựng nên. Mấy căn nhà ngói mẹ tôi dành dụm mãi mới xây xong đều bị dỡ, bao nhiêu gốc cây ăn quả trồng ở trong vườn từ hồi mẹ tôi mới mua đất đều bị phá hủy. Mẹ tôi đã buồn buồn hơi rớm lệ

khi nhìn những công trình của mình bị tiêu tan trong một buổi.

Đi tản cư, mẹ tôi vẫn tiếp tục buôn bán, nhưng với chiến tranh, sự

buôn bán còn ra gì nữa!

Rồi không chịu nổi được lam sơn chướng khí, mẹ tôi đã mất tại Gốc Sộp vào ngày 26 tháng Tư năm Tân Mão, sau khi thầy tôi cũng đã quy tiên!

Tôi không được gặp mặt mẹ tôi lúc lâm chung, nhưng tôi biết là khi gần chết mẹ tôi đã nhắc tới chúng tôi nhiều lắm và người đã chết giữa những dòng nước mắt, nhìn mấy đứa em tôi chưa trưởng thành!

Phiên An Trấn, Mạnh Đông năm Đinh Dậu