Những hội hè khác (tiếp)Part 20

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

dân cư các xã lân cận và vì sự sửa soạn long trọng của phiên chợ.

Về cuộc thi thơ xin chép lại đây lời của Nhuệ Giang ghi trong ''Yên Đổ

tùng biên'':

''Buổi sáng hôm đó, một cuộc thi văn thơ đã được các vị bô lão trong làng tổ chức ngay tại ngôi đình cạnh chợ. Các nhà văn hào, văn sĩ các nơi đều đến tập họp tại nơi Tường Đền để dự cuộc thi thơ.

Các vị khoa mục trong làng Yên Đổ và các làng gần đó làm giám khảo, những thí sinh nào trúng giải thường sẽ được hoan hô và được ban tặng phần thưởng rất hậu. Thực là một cuộc thi tao nhã và hào hứng với mục đích khuyến khích các bạn thí sinh cố gắng dùi mài kinh sử, tranh khôi đoạt giáp sau này.

Sau cuộc thi thơ, các vị trúng giải đều được mời dự cuộc nếm rượu ở

Tường Đền với các vị bô lão trong làng.''

Nhân nói đến thi thơ, xin phép được nhắc lại đây một giai thoại về thi thơ đã xảy ra ở tỉnh Hưng Yên (Hải Hưng) dưới thời Pháp thuộc.

Hồi đó Lê Hoan làm Tổng đốc Hưng Yên. Nhắc đến Lê Hoan chắc bạn đọc ai cũng nhớ ngay đây là một tên Việt gian, giết hại đồng bào, lập

công với Pháp.

Giữ chức vụ cao, Lê Hoan vẫn có mặc cảm bị đồng bào khinh rẻ và giới trí thức coi thường.

Để nâng uy tín riêng và để tỏ ra là con người hào hoa phong nhã, mùa xuân năm Ất Tỵ (1905), Lê Hoan loan báo mở một cuộc thi thơ với mục đích chấn hưng nên văn học đã bị suy đồi vì ly loạn.

Lê Hoan đã phí tổn không biết bao nhiêu tâm cơ để tổ chức cuộc thi này.

Sợ văn nhân thi sĩ không thèm hưởng ứng, Lê Hoan đã có công mời những danh sĩ đương thời là Nguyễn Khuyến và Dương Lâm làm chánh phó chủ khảo. Đề thi là Thanh Tâm tài nhân lục hay là truyện Kim Vân Kiều, một tác phẩm giá trị bậc nhất trên thi đàn. Về bài dự thi có thể làm bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm. Về điểm này Lê Hoan rất gian hùng. Y

biết các nho sĩ đều thích làm thơ, thích nghe thơ, nhưng ít ai đã giỏi về

cả hai mặt thơ Nôm và thơ Hán, bởi vậy có thể làm bằng Nôm hoặc Hán để thí sinh được tự do thi thố sở trường của mình, do đó cuộc thi thơ

đông người dự.

Lễ trao giải thưởng và bình thơ trúng giải sẽ được tổ chức và một dạ hội hoa đăng tại một thắng cảnh nổi tiếng tỉnh Hưng Yên là Bán Nguyệt Hồ, nơi đây thật là nơi hội ngộ lý tưởng của những tao nhân mặc khách.

Lê Hoan lại ngầm sai người mang lễ vật thật trọng hậu để mời cho được những danh sĩ tỉnh Hừng Yên về dự hội. Nhờ sự khẩn khoản này, nhiều bậc đại nho, nhiều nhà khoa bảng ghi danh dự thí.

Cuộc thi thơ đã có kết quả, và dạ hội hoa đăng tại Bán Nguyệt Hồ đã tưng bừng với những cuộc ngâm thơ và phát giải. Giải nhất thơ chữ Hán về tay Cử nhân Chu Thập Hy, giải nhất thơ chữ Nôm về tay Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh.

Cuộc thi thơ cũng đã hoàn toàn thành công đúng theo danh nghĩa một cuộc đua tài chân chính, và công bằng mà nói, việc làm của Lê Hoan cũng đáng khen tuy y có hậu ý.

Có thể nói được rằng, về mặt nào Lê Hoan đã thực hiện được ý muốn của mình, nhưng trong cái đẹp đẽ đối với y, y cũng lại phải gánh nhận một phần rất không đẹp, và y đã trở nên một trò cười của người đời.

Y đã vụng tính trong nước cờ cao. Ấy là việc mời cụ Tam Nguyên Yên Đổ về làm Chủ khảo cuộc thi thơ. Y quên rằng cụ Yên Đổ là một nhà ái quốc, cụ ghét thậm tệ những người bán rẻ giang sơn dân tộc để cầu ân huệ của lũ quan thầy áo ngắn[2]. Cụ lại là một nhà thơ lão luyện trong lối mượn cảnh cười đời.

Khi Lê Hoan dùng trọng lễ để mời cụ, cụ đã thấy những mưu vọng thầm kín của y. Do đó, nhân cuộc thi lấy truyện Kiều làm đề tài, cụ đã sáng tác một bài Tổng vịnh truyện Kiều gọi là đề đóng góp thêm vào cho cuộc Thi Thơ thêm hào hứng trong buổi bình thơ trúng giải, nhưng trong thâm tâm cụ muốn mượn bài thơ để mắng khéo Lê Hoan.

Cụ đã mượn nhân vật trong truyện Kiều để soi mói tới gốc gác bán tơ

của Lê Hoan, (nguyên Lê Hoan trước đây là một tên buôn tơ lụa), và nói rõ cuộc thi thơ của Lê Hoan chỉ là một trò hề bịp đời, giống như mụ Tú Bà đã mượn màu son phấn đề đánh lừa con đen. Trong bài thơ cụ lại nhắc tới việc nàng Kiều bán mình để cho mọi người thấy Lê Hoan chỉ là một tên tham nhũng.

Và bài thơ Tổng vịnh truyện Kiều của cụ đã trở thành một giai thoại văn chương được mệnh danh là giai thoại Lê Hoan.

Sau đây là bài thơ bất hủ ấy:

Thằng bán tơ kia giở giói ra,

Lôi thôi đến cả cụ Viên già.

Bấm lưng phải có ba trăm lạng,

Nhắm mắt thôi liều một chiếc thoa.

Rước khách mượn màu son phấn mụ,

Bán mình chuộc lấy tội tình cha.

Có tiền việc ấy mà xong nhỉ

Ngày trước làm quan cũng thế a?

Uống rượu

Nói đến thơ ắt phải nói đến rượu. Làng Yên Đổ có tục thi thơ lúc xuân sắp về, làng lại có cả tục uống rượu để kén rượu ngon.

Sau cuộc thi thơ nhân dịp cuối năm của dân làng, ''các vị trúng giải đều được mời dự cuộc nếm rượu ở Tường Đền cùng các vị bô lão trong làng để kén rượu tốt (ngon nhất) dùng vào việc tế tự đầu năm''.[3].

Trong việc tế tự, vô tửu bất thành lễ, nhưng thận trọng kén rượu ngon để

cúng thần, tục này có lẽ chỉ có tại làng Yên Đổ. Tại nơi khác, nhân kỳ

hội xuân, hội thu hàng năm, các cụ bao giờ cũng lựa mua rượu tốt, nhưng không có cuộc nếm rượu như làng Yên Đổ.

Hội chợ cuối năm

Tại nhiều làng, phiên chợ cuối năm là một ngày hội, có khi là hội cho cả

làng, như tại làng Yên Đổ, có khi là hội cho các trẻ em và ngày phiên chợ này được mệnh danh là Ngày phiên chợ trẻ con như tục làng Thị

Cầu, tỉnh Bắc Ninh, phiên chợ trẻ con trước đây vẫn họp vào ngày 30

Tết.

Chợ Đồng Yên Đổ

Về phiên chợ cuối năm làng Yên Đổ, chợ họp ngay trên cánh đồng làng và được gọi là Chợ Đồng. Ông Nhuệ Giang trong Yên Đổ tùng biên đã viết về chợ này:

''Tục truyền ngày 24 tháng Chạp, nhân dân làng Yên Đổ muốn kỷ niệm công đức của tiền nhân có một phiên chợ Đông vào cuối năm ngay tại cánh đồng làng Yên Đổ.

Mỗi năm trước ngày 24 tháng Chạp, các hàng quán đã được dựng lên san sát trên cánh đồng khô ráo, rồi đến sáng tờ mờ ngày 24, các vị thân hào, các nhà buôn bán, trẻ con, người lớn, thanh niên, phụ nữ trong khắp các vùng lân cận đã tề tựu rất đông.

Sự gặp gỡ của mọi người đã được phô diễn trong cảnh tưng bừng náo nhiệt, trong buổi tất niên cùng nhau trao đổi những lời chúc tụng vào dịp xuân sắp tới''.

Đền sau gặp hội tao loạn, thực dân Pháp đặt cuộc đô hộ tại Việt Nam, cụ

Tam Nguyên Yên Đổ có bài thơ về cảnh chợ Đồng như sau (tuy là bài thơ tả cảnh chợ Đồng giáp tết lời lẽ tự nhiên, nhưng ngụ ý rất khéo về

thời thế mà lúc đó không thể nói rõ hơn được nữa): Thơ chợ Đồng

Tháng Chạp, hai mươi bốn, chợ Đông,

Năm nay chợ họp có đông không?

Gió trời mưa bụi còn hơi rét,

Nếm rượu Tường Đền được mấy ông

Hàng quán người về nghe xáo xác

Nợ nần năm hết hỏi lung tung.

Dăm ba ngày nữa tin xuân tới,

Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.[4]

Chợ làng Mỹ Lợi

Làng Mỹ Lợi, quận Vinh Lộc hàng năm có họp chợ vào hai ngày 29 và 30 Tết mỗi năm, nhưng đặc biệt trong hai ngày họp chợ này chỉ cốt để

dân chúng mua bán thịt heo.

Làng này có một ngôi chợ, trong những ngày sửa soạn tết, dân làng này cho làm những chòi cao, vào khoảng ba chục chiếc ở nơi đất trống đầu chợ. Những chòi cao chính là những quán bán thịt heo trong hai ngày chợ Tết.

Trong hai ngày này bao nhiêu heo lớn trong làng đều được đem mổ thịt để bán cho dân làng dùng trong dịp Tết, và ở mỗi chòi là nơi bày bán một con heo khổng lồ.

Dân làng sắm Tết đều dành đến ngày phiên chợ thịt heo đặc biệt này mới mua thịt để gói bánh, làm cỗ Tết. Phiên chợ rất vui và rất náo nhiệt. Gia đình nào cũng có người có mặt tại phiên chợ, vì nhà nào Tết mà không cần đến thịt heo.

Cả dân chúng một vài xã lân cận, biết lệ làng Mỹ Lợi cũng kéo nhau đến đây để sắm thịt heo ăn Tết.

Những chòi bán thịt heo, sau ngày Tết sẽ là nơi để dân làng đánh bài chòi chơi Xuân.

Chợ thôn Vĩnh Mỹ

Vĩnh Mỹ là một thôn thuộc xã Mỹ Lợi, quận Vĩnh Lộc tỉnh Thừa Thiên.

Thôn này cũng có phiên chợ Tết, nhưng đặc biệt ở đây, chợ Tết không họp cuối năm.

Chợ thôn này họp vào các ngày mồng một và ngày mồng hai Tết, và chợ

không hợp như thường lệ tại địa điểm họp chợ quanh năm, lại họp ở một cồn cát trắng, cách chợ vào khoảng 1.500 thước, nơi đây được gọi là Chợ

Cồn.

Dân chúng đi chợ Cồn để mua bán thì ít, nhưng để vui Xuân thì nhiều.

Trong phiên chợ này, những người buôn bán mang hàng tới bán không cầu mong bán đắt hàng, họ đi chợ chỉ vì tục lệ. Người ta tin rằng, người buôn bán trong thôn có đi bán hàng tại chợ Cồn đầu năm, quanh năm mới mua may bán đắt.

Gọi là đi chợ để vui xuân, vì nhân dịp này những cặp trai gái hẹn hò gặp gỡ nhau, và có mua bán trong khi đi chợ cũng chỉ là tượng trưng.

Có lẽ bạn đọc sẽ tự hỏi tại sao phiên chợ đầu xuân không họp ở vị trí chợ, lại đi họp ở nơi cồn cát như vậy. Đây là lời giải thích của các cụ già thôn Vĩnh Mỹ:

Chợ của thôn Vĩnh Mỹ, trong những đêm mồng một mồng hai Tết có người âm về họp chợ, và do đó đêm khuya, người ta từng nghe tiếng ồn ào của một phiên chợ nhưng không thấy người. Cũng bởi trong hai ngày này, người âm họp chợ nên trần gian phải trả chợ cho họ, kéo nhau tới họp ở chợ Cồn.

Lời giải thích trên ai muốn tin thì tin, ai không tin cũng không sao, nhưng có điều hiển nhiên là dân thôn Vĩnh Mỹ, trong mấy ngày Tết họp chợ để vui xuân, người ta vẫn họp ở cồn cát, không họp ở chợ. Đây là một tục lệ, đã gọi là tục lệ đố ai làm trái được![5]

Thần Đa tình

Làng Hoài Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc) có hai thôn là Hoài Bão Trung và Hoài Bão Thị, hai thôn thờ hai vị thần, thôn Thị thờ

một nữ thần, thôn Trung thờ một nam thần.

Theo lời truyền lại thì một lần xưa kia, nữ thần thôn Thị bỏ sang sống với Thành hoàng thôn Trung, trong thôn vì vắng vị Thành hoàng cai quản, đã xảy ra rất nhiều điều làm dân chúng khốn khổ: cháy nhà, súc vật chết, người đau ốm... Sau bói ra quẻ thấy, dân thôn Thị đã phải sang thôn Trung tế lễ linh đình để cầu xin thần thôn Trung trả lại Thành hoàng cho thôn mình. Sau buổi thỉnh mời được nữ thần trở lại thôn, dân thôn Thị mới được an lành như cũ.

Từ đó dân thôn Thị luôn luôn đề phòng, sợ nữ thần lại đi theo thần thôn Trung mất.

Hàng năm, hai thôn làng Hoài Bão đều vào đám vào trung tuần tháng Giêng, thôn Thị cử hành trước thôn Trung vào ngày 12. Trong ngày bắt đầu vào đám, thôn Trung cử hành đám rước rất long trọng đi ngang qua trước đình thôn Thị.

Sợ nữ thần, nhân đám rước đi theo nam thần, dân thôn Thị phải có biện pháp để giữ thần mình lại. Tuy ngày lễ hàng thôn đã qua, dân thôn Thị

cũng thuê phường chèo về hát trước đình, và khi đám rước nam thần thôn Trung đi gần đến, dân chúng thôn Thị vỗ tay, dậm chân, yêu cầu phường chèo đàn hát thật nhộn nhịp để làm át hẳn tiếng của đám rước, với mục đích khiến nữ thần không thể chú ý tới chàng quân tử đang đi qua trước đình.

Thờ một nữ thần đa tình, con gái trong thôn cũng chịu ảnh hưởng, và đối với dân trong vùng, các cô có tiếng là lẳng lơ ở thôn này có tục con gái lấy chồng không phải về ngay nhà chồng, các cô vẫn sống nguyên ''Đời con gái'' với tất cả mọi sự tự do về hoa nguyệt, và chuyện bướm ong các cô vẫn hoạt động có khi còn hơn ngày chưa cưới. Các cô chỉ phải về nhà chồng trong những dịp giỗ chạp, tết nhất. Đây là những dịp để các cô gần gũi với các đức anh chường, nhưng có nhiều cô ngoan cố, sẵn chỗ hẹn hò, tuy có về nhà chồng trong những dịp nói trên, các cô chỉ ở nhà chồng ban ngày còn tối đến, đường cô cô đi, các đấng phu quân đành chỉ

khoanh tay vì... tục làng. Các cô sống như vậy cho đến khi thụ thai mới về ở hẳn với chồng! Các cô thụ thai với ai, có phải thụ thai với chồng trong những dịp ngủ lại với chồng chăng? Thụ thai với ai mặc, đẻ ra cũng vẫn con thiếp con chàng chứ con ai!

Tự do luyến ái

Trong thôn quê, trai gái tại nhiều xã được tự do luyến ái, có khi sự luyến ái chỉ qua những cuộc hát đối đáp, và trong trường hợp, trai gái có vợ có chồng, đều được người phối ngẫu của mình ưng thuận, như trong tục hát quan họ tỉnh Bắc Ninh, và có khi sự luyến ái còn đi xa hơn nữa, đi đến đỉnh giáp non thần với những giấc mộng Vu sơn.

Làng Viêm Xá tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc) có tục trai gái hát đối đáp với nhau, na ná như tục hát quan họ. Trai gái trong làng hát với nhau, nhưng họ lại hát cả với trai gái xã lân cận là xã Hoài Bão nói trên.

Mỗi năm làng Viêm Xá mở hội hai lần, một lần về mùa Xuân vào ngày mồng bốn tháng Giêng và một lần về mùa Thu vào ngày mồng mười tháng Tám. Trong những kỳ hội, con gái làng mời một đoàn trai làng Hoài Bão sang dự đám, cùng họ hát lễ thần tại đình.

Trong lúc hát, gái làng ngồi một bên, còn trai làng ngồi bên kia với trai Hoài Bão. Khi đôi bên đã an vị, một chàng trai Viêm Xá lấy trầu cau ra mời hai bên gái làng và trai Hoài Bão, đại ý nói nhân ngày lễ Thần xin mời hai bên ăn trầu rồi hát mừng đức Thượng đẳng và mừng Xuân, nếu là hội mùa Xuân.

Tất cả trai gái đôi bên đều được mời trầu. Sau đó cuộc hát bắt đầu, trước hết là những câu chúc vua mừng nước rồi chúc tụng thần linh. Họ chúc mừng cả dân làng lại chúc mừng lẫn nhau qua câu hát. Lúc hát, họ hát giọng đôi tương tự như hát quan họ.

Sau những câu hát chúc mừng là những câu hát thổ lộ tâm tình, gởi gắm duyên nghĩa cùng nhau. Hát với nhau chừng quá nửa đêm, bọn gái làng mời bọn trai Hoài Bão về nhà người đứng đầu cả bọn để thết đãi, nhà chị

Cả của bọn họ.

Ăn uống xong, cuộc hát lại tiếp tục.

Hát tại đình, họ gọi là nam nữ ca sự tại đình, hát ở nhà họ gọi là nam nữ

ca du tại gia, sự là thờ phụng, du là chơi bời.

Sau bữa tiệc gái Viêm Xá đãi trai Hoài Bão, lúc hát trở lại bao nhiêu đàn bà Viêm Xá đều có mặt tại nhà chị cả, có chồng chồng cũng để cho đi, và con gái chưa chồng lẽ tất nhiên càng đi mạnh. Có gái làng, lại có cả trai làng cùng với trai Hoài Bão. Trai gái chia thành từng tốp 10 người, mỗi tốp một người đứng đầu gọi là anh Cả,[6] rồi đến anh Hai, anh Ba, anh Tư, anh Năm, từ người thứ sáu trở đi đều gọi là anh Bé, phía gái cũng

gọi tên như thế từ chị Cả đến những chị Bé. Cuộc hát vui chơi tại nhà chị

Cả kéo dài cho đến 4, 5 giờ sáng.

Đặc biệt, giữa lúc đêm khuya, vào khoảng 2, 3 giờ sáng, trong nhà chị

Cả bao nhiêu đèn nến tắt hết, trai gái cùng nằm với nhau mà hát, anh Cả

hát với chị Cả, anh Hai hát với chị Hai, cho đến anh Bé với chị Bé.

Hát với nhau một lúc, những cặp nào ưng nhau cứ việc dắt nhau ra khỏi nhà, đưa nhau vào một nơi vắng vẻ trong làng muốn làm gì nhau thì làm.

Đưa nhau đi một lúc lâu họ lại kéo nhau về nhà nằm hát cho đến tang tảng sáng. Lúc đó, gái Viêm Xá tiễn đưa trai Hoài Bão ra đến cổng làng, chị Cả tiễn đưa anh Cả, chị Hai tiễn đưa anh Hai v.v... Từ nhà đến cổng làng, họ đi trên những con đường khác nhau, hoặc nếu có cùng đi trên một con đường, cặp nọ cũng cách cặp kia một quãng xa để tiện ngôn ngữ

cùng nhau cho được hết lời.

Nếu vì trời chưa sáng hẳn, có cặp nào tiếc thời gian, lưu luyến nhau quá mãnh liệt, họ có thể cùng ngừng ở một nơi kín đáo bên đường để tình tự

cùng nhau hoặc cùng nhau đi vào một giấc mộng đêm xuân mơ màng.

Cổ tục làng Viêm Xá cho phép trai gái gặp gỡ tự do trước là để cho họ

cùng nhau thi tài qua câu hát, hai là để cho họ tìm hiểu nhau cho hết ngọn nguồn lạch sông, trước khi cùng nhau tính một chữ ''đồng''.

Trong làng không ai ngăn cấm con gái, ai cũng nghĩ rằng: Con gái không cho đi hát hư mất đời của chúng mà lại cưỡng lệ làng.

Vả chăng, đối với các bà mẹ thì xưa kia ai cấm duyên bà, bây giờ bà già bà cấm duyên tôi.

Hơn nữa, trên phương diện tín ngưỡng, năm nào làng không cử hành hội hè với cổ tục nam nữ ca sự tại đình rồi ca du tại gia, trong làng sẽ xảy ra nhiều sự không may: nhà cháy, người làng buôn bán thua lỗ, dân làng cãi cọ kiện cáo nhau v.v...

Riêng về ca hát, đây là một cái thú của trai gái tỉnh Bắc Ninh. Ca dao vùng này có câu:

Hát cho lở đất long trời,

Cho đời biết mặt, cho người biết tên.

Hát từ chợ Phủ hát lên,

Hát suốt tỉnh Bắc qua miền tỉnh Đông.

Hát sao cho cạn dòng sông,

Cho non phái lở, cho lòng phải say!

Ném cầu bói chuyện hôn nhân

Làng Phú Sơn tỉnh Thanh Hoá, hàng năm mở hội Chùa vào hai ngày 14

và 15 tháng Giêng. Ngoài những cuộc tế lễ rước xách, làng này tổ chức dám rước vào ngày 14 rất linh đình, làng có nhiều cổ tục riêng, đáng kể

hơn cả là tục phóng sinh chim và cá, cử hành tại chùa làng ngay sau đám rước, và tục ném cầu bói chuyện hôn nhân của trai chưa vợ, gái chưa chồng; tục này cử hành vào ngày rằm tháng Giêng.

Hôm đó, trong chùa có cử hành lễ cầu an.

Trong sân chùa có trồng cây phướn bằng nguyên cả cây tre, cao trên mười thước, trên ngọn có lủng lẳng treo một chiếc lồng đan bằng tre.

Trong khi trong chùa cầu kinh lễ Phật, ngoài sân chùa những trai chưa vợ, gái chưa chồng tụ họp cùng nhau, có mời thêm vài cặp vợ chồng để

cùng dự cổ tục Ném cầu bói chuyện hôn nhân. Họ dùng hai quả cầu, phân chia quả Âm quả Dương, mỗi quả to bằng quả chanh ngoài có dây mây bọc quanh. Quả Âm cầu sơn màu xanh, quả Dương cầu sơn màu trắng.

Trai gái chia làm hai bên riêng biệt, mỗi bên nam nữ có một người cầm đầu. Hai bên ước hẹn với nhau:

Trong hai đoàn nam nữ, ai đã kết hôn rồi mà ném được quả cầu vào trong lồng thì chỉ được thưởng, còn cặp nào chưa kết hôn mà ném trúng thì không những được thưởng mà còn hẹn phải cưới nhau, sai lời có Phật, Trời chứng giám.

Giao ước xong, trai gái ngoảnh về phía chùa lễ Phật.

Cuộc ném cầu bắt đầu bởi mấy cặp vợ chồng, sau đó mới đến trai gái thanh tân. Trước khi ném cầu, chồng vợ lần lượt hát: Cầu này làm cuộc du Xuân,

Ta mà trúng được thưởng phần về ta.

Nếu hai bên đều ném trúng, mọi người vỗ tay. Nếu một trong hai người hay cả hai ném trật ra khởi lồng, họ phải đi nhặt cầu, quỳ xuống trao lại cho cặp vợ chồng khác, và họ bị mọi người cười nhạo.

Sau những cặp vợ chồng đến những cặp trai gái. Họ cũng hát trước khi ném cầu, câu hát của họ khác câu hát của cặp đã thành phu phụ: Cầu này là quả thiên duyên,

Đôi ta mà trúng kết nguyền cùng nhau.

Cuộc vui kéo dài từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều. Trò vui này trai thanh gái lịch rất là thích thú, họ chơi với nhau một cách say mê, cặp nọ chúc cặp kia ném trúng, cặp kia cũng cầu lại sự may mắn cho cặp này.

Người bên nào ném cầu trúng vào đích được ghi vào sổ, ném trật phải quỳ xuống trao cầu cho người sau mình.

Phần thưởng thường là pháo, trà, khăn điều v.v..., tương tự như giải các cuộc vui tại các hội Xuân khác.

Tuy là một trò vui, nhưng mỗi lần một cặp trai gái đã có tình ý với nhau cùng ném trúng cầu họ đều hứa hôn với nhau. Mọi người tin rằng, nếu sau này sai lời hứa, họ sẽ gặp những sự không may, còn nếu đi đến hôn nhân, họ được hưởng hạnh phúc và mọi sự tốt đẹp.

Dân xã Phú Sơn cho đây là một tục thiêng liêng của dân làng, không thể

bỏ được.

Vật cù, đánh phết

Quả cù, gọi là cù lộ ở miền Nghệ Tĩnh bằng rễ tre to bằng quả bong bóng tròn, địch thủ chia làm hai phe tranh nhau cướp lấy ném vào rổ treo trên ngọn tre cao. Trò chơi vật cù giống như chơi Rugby hoặc như bóng rổ

của người phương Tây, nhưng không có luật lệ nào cả: Ai muốn chơi cũng được và muốn đứng vào phe nào thì đứng, không cần lựa chọn trước và cũng không hạn định số người chơi mỗi bên là bao nhiêu.

Những người tham dự phải mình trần đóng khố.

Lối chơi đánh Phết cũng chia hai bên. Quả Phết bằng gỗ to.

Tục cổ về hội Xuân, nhất là hội Xuân về phong tục, khắp trên đất nước Việt Nam, ắt hẳn còn nhiều. Trước đây mỗi làng đều có hội và mỗi nơi đều có những cổ tục riêng. Một phần vì hoàn cảnh đất nước nên hội Xuân và rất nhiêu cổ tục đã đi vào dĩ vãng, một phần vì văn minh kỹ

thuật ồ ạt tràn tới, đã đẩy lùi không ít những cái gì tuy nằm trong văn hóa Việt Nam, nhưng không còn thích hợp với sự tiến bộ mau chóng của văn minh.

Chúng tôi muốn viết thêm về hội Xuân và cổ tục, mong giữ lại phần nào những dấu vết không còn nữa, nhưng sự hiểu biết nông cạn và tài liệu của chúng tôi quá đơn sơ, bắt buộc chúng tôi tạm ngừng ở nơi đây về các hội Xuân... Chúng tôi hy vọng sau này, có dịp chúng tôi sẽ viết nhiều và kỹ lưỡng hơn.