Hội Tích SơnPart 4
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Những lễ vật này dùng trong buổi tế thần.
Tế xong, lễ vật chia đều cho cả dân làng.
Rước sinh thực khí
Ông Lê Văn Hảo, trong bài Một số tục cổ của người Việt qua các hội mùa đăng trong tập san Đại Học, do Viện Đại học Huế xuất bản, cho rằng làng Đông Kỵ, ngoài Thiên Cương đế, còn thờ một vị nữ thần. Do đó trong khi mở hội, ngoài các cổ tục nói trên, dân làng này còn nhắc lại một cổ tục đầy luyến ái tính, tục rước sinh thực khí.
Qua các cổ tục đã trình bày có hay thì cũng có dở, hay hoặc dở, chúng tôi cũng chỉ xin nhắc lại để ghi lấy đôi chút tài liệu, những tài liệu bắt đầu, cho bạn nào muốn nghiên cứu kỹ lưỡng hơn.
Hội Tích Sơn
Với các cổ tục:
Chém gà
Thổi cơm thi
Kéo co
Quật bò
Chém lợn
Làng Tích Sơn thuộc huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Yên, nằm ven quốc lộ 2, từ Hà Nội đi Hà Giang, cách tỉnh lỵ Vĩnh Yên (Vĩnh Phú) độ vài trăm thước về phía Đông Bắc.
Lệ làng hàng năm mở hội vào ngày mồng Ba tháng Giêng với tế lễ tại Đình và có các cuộc vui trong làng.
Mồng Ba tháng Giêng còn đang ngày Tết. Ngày hội, cả làng trông như
hoàn toàn đổi mới với ngọn phướn ngũ sắc ở sân chùa, với cờ ngũ hành cắm dọc hai bên đình, với những đôi câu đối đỏ dán trước nhà mỗi dân làng, với những cây đào thắm đầy hoa, nhiêu cây đào trong ở trong vườn, nhưng một đôi cành hoa vươn cao khỏi tường như muốn ngó xuống con đường làng để thỉnh thoảng rung rinh làm rơi mấy cánh hoa theo luồng gió nhẹ của ngày Xuân.
Một vài cánh hoa mỏng manh hồng phớt lại nhẹ nhàng tung bay như lơi lả trước khi rơi xuống hẳn để điểm trang con đường đất, với những xác pháo toàn hồng kèm theo mùi thơm của khói pháo. Cảnh làng tấp nập với những lời dân làng còn đang chúc tụng năm mới năm me khi gặp gỡ, với những quần áo mới của người lớn, trẻ em đủ màu đủ sắc, với nét vui trên mặt, nụ cười trên môi, và nhất là với yếm thắm giải lụa đào của các cô gái quê trông thật quyến rũ.
Giữa cái khung cảnh ấy, làng Tích Sơn mở hội qua những trò vui và qua những cổ tục đặc biệt của dân làng.
Thần tích
Thần làng lúc sinh tiền là một tên ăn cướp, chết đi gặp giờ linh được dân làng thờ phụng. Dân làng luôn luôn giấu tên họ, quê quán của vị thần, và khi nhắc đến, họ chỉ dùng ba tiếng Đức Thượng Đẳng, vì thần làng vốn làm nghề ăn cướp, nên trong hội làng, những cổ tục được diễn lại đều nhiễm đầy chiến đấu tính và nhất là tàn bạo tính.
Những cổ tục
Ở đây chúng tôi không nhắc tới những lễ nghi rước xách và cúng bái, chúng tôi đã trình bày ở trên mà chỉ xin nhắc lại những cổ tục đặc biệt của làng Tích Sơn.
Chém gà
Đây là một tục kể ra thật tàn bạo, tàn bạo đến độ dã man, nhưng qua tục này, người ta còn trông thấy một sự khuyến khích trong việc chăn nuôi, nhất là việc nuôi gà ở thôn quê.
Trai làng Tích Sơn, đến tuổi chịu việc làng, nghĩa là 18 tuổi, được làng cử mỗi chàng nuôi một con gà cúng thần. Ngay từ đầu năm trước, họ đã mua gà, đem thiến để nuôi cho tới ngày hội. Họ phải săn sóc vỗ về, nuôi sao cho gà béo lại chắc, được nặng cân. Trong lúc nuôi gà, họ tránh cho gà sự ô uế, có thức ăn riêng, không chung đụng với gà vịt khác.
Ngày mồng ba Tết, những chàng trai có bổn phận nuôi gà, mang gà ra Đình.
Làng này có hai giáp, giáp Đông và giáp Đoài. Trai hai giáp với những con gà của mình, ngồi thành hai hàng hai bên trước bàn thờ, mỗi chàng ôm một con gà, con nào con ấy trông mã thật đẹp với lông mượt và đều có vẻ nặng cân.
Các cụ trong làng, hay nói đúng hơn, ban hội đồng soát gà ngắm các con gà một lượt, rồi vị tiên chỉ hoặc vị cao niên nhất trong ban quan viên thắp hương khấn lễ trước bàn thờ.
Lễ xong, tất cả các chàng trai này đều ôm gà của mình nhảy nhót, vái lễ
trước bàn thờ. Họ đều khăn đóng áo dài tề chỉnh, nhưng trông điệu bộ họ
thật hết sức kỳ khôi.
Lễ xong, từng chàng trai một, họ dùng một con dao thật sắc, chém một nhát đứt đầu con gà, tiết gà được hứng riêng mỗi con vào một chiếc bát.
Đoạn họ nhặt đầu gà, ôm gà ra mé sau Đình làm lông cúng thần.
Trông những con gà với mã thật đẹp, tươi tốt, đang như ngơ ngác giữa đám đông trước bàn thờ thần, có con lại rỉa lông hoặc nghển cổ đưa mắt nhìn, bỗng một lưỡi dao sáng láng lia xuống, nghe một tiếng ''phập'' rất ngọt, đầu con gà lăn chiêng xuống đất, còn thân nó chàng trai ôm lấy, chúc cổ nó xuống chiếc bát hứng tiết, con gà không kịp kêu, chỉ còn giãy giụa, nhìn thật là tàn bạo. Có con gà vãi cả phân ra trước bàn thờ thần.
Gà của chàng trai nào do chính người đó chém lấy, hứng tiết vặt lông, mổ thịt để sửa lễ.
Thịt những con gà này chỉ các bô lão và các quan viên hai giáp được hưởng. Họ bảo rằng thơm ngon lắm.
Những con gà to béo, thịt chắc được các cụ ban khen và chàng trai nào được lời ban khen của các cụ đều lấy làm hãnh diện đối với dân làng. Do đó ai đến tuổi phải nuôi gà đều kiếm cách nuôi gà cho thật lớn thật béo.
Người làng Tích Sơn thuật lại rằng có những chàng trai thiếu thành kính trong việc nuôi gà, gà nuôi quanh năm không sao, gần đến Tết gà lăn quay ra chết. Đấy là Ngài phạt kẻ bất thành và bất kính. Trong trường hợp này, các đương sự chỉ còn có cách đi các chợ kén mua một con gà sống thiến khác thay thế để có gà làm lễ chém trong ngày hội làng.
Kéo co
Trai tráng hai giáp cùng nhau kéo co ba keo. Làng có một dây song thật dài, hằng năm vẫn quấn tròn để thờ tại Đình cùng các tự khí khác. Đến ngày hội dân làng mới bỏ ra để dân hai giáp kéo co.
Sợi dây song được dân đinh hai giáp chia nhau xúm vào nắm lấy mỗi bên một nửa. Tất cả trai tráng khỏe mạnh đều hò nhau tham dự cuộc kéo co, có khi cả những người lớn tuổi, ngoài bốn mươi, gần năm mươi nhưng sức còn mạnh cũng đua nhau xúm vào dự kéo co.
Sau phần lễ nghi tại Đình, một vị quan viên ra lệnh, dân đinh hai giáp cùng nhau kéo co keo đầu. Họ hò reo và cùng gắng sức kéo bên kia về
phía mình. Chân các chàng trai bấm xuống đất, lưng họ còng, hai tay họ
nắm chặt sợi dây cùng ra sức kéo. Bên nào cũng cố giữ lấy vị trí, cố kéo đối phương về bên mình.
Thi kéo co ngay tại trước cửa Đình, trước sự chứng kiến của các bô lão và quan viên. Lại thêm dân làng, nhất là các cô gái làng đứng xem cùng với khách thiên hạ tới dự hội, dân chúng các làng lân cận hoặc ở xa hơn
nữa, có người từ Phúc Yên đến, có người từ Hà Nội lên, có người ở Việt Trì, Phú Thọ (Vĩnh Phú) về, hoặc ở Sơn Tây (Hà Tây), Bắc Ninh (Hà Bắc) sang...
Những khán giả, cả dân làng lẫn khách thiên hạ đông đúc đã khiến các chàng trai thêm hăng hái, cuộc kéo co càng gay go.
Gay go, nhưng cũng có bên được bên thua.
Sau keo đầu, bên thua phải tăng cường lực lượng bằng cách gọi thêm dân trong giáp tham dự. Trong cả ba keo cuộc kéo co này, mỗi bên muốn có bao nhiêu người tham dự cũng được miễn đấy là dân đinh trong hàng giáp.
Mỗi keo kéo co xong, tiếng hò reo của bên thắng cũng như của khách xem lại vang lừng trên khu ruộng trước cửa Đình.
Kéo co ba keo, giáp nào thắng hai keo là được. Vị đại diện của giáp này sẽ vào Đình lễ tạ ơn Đức Thành hoàng đã phù hộ cho giáp mình. Kế đó, một tràng pháo đốt lên nổ mừng giáp thắng cuộc.
Cổ tục kéo co làng Tích Sơn trước đây hàng năm diễn lại là một cổ tục đề cao tinh thần thượng võ và khuyến khích sự tập luyện thể thao, thể
thao qua những môn võ cổ truyền của các cụ ta xưa, tục dựa vào tế tự.
Quật bò
Chém lợn
Đây là một cổ tục thật tàn bạo, tàn bạo cũng như tục chém gà.
Trong các hàng quan viên trong làng, mỗi năm một người được chỉ định để nuôi một con lợn dùng trong việc tế thần vào đầu Xuân năm sau.
Lợn giống do tiền của dân làng mua. Người nuôi lợn phải chăm sóc sao cho sạch sẽ, phàm ăn, to béo. Cũng như nuôi gà, theo dân làng Tích Sơn, nếu người kém thành kính, con lợn có thể dở chứng và chết giữa chừng.
Người nuôi phải mua đền con lợn khác. Nếu con lợn đến kỳ tế thần không được béo tốt, người nuôi sẽ chịu sự khiển trách của dân làng.
Con lợn hôm hội làng được dắt ra Đình. Lúc con lợn dắt tới, thanh niên hai giáp Đông và Đoài đứng hai bên bàn thờ. Con lợn được thả lỏng đi đi lại lại giữa hai hàng người và chung quanh còn có dân làng xúm vào xem lễ.
Nghi thức trình lợn lên Đức Thành hoàng được ông Tiên chỉ hoặc Cai đám đảm trách. Ông thắp hương khấn lễ. Tưởng nên nói thêm là con lợn trước khi được dắt ra Đình đã được tắm rửa sạch sẽ.
Lễ trình lợn đã xong. Một thanh niên được dân làng chỉ định luân phiên giữa hai giáp, năm nay người giáp này, sang năm người giáp khác, tay cầm một thanh gươm thật sắc theo dấu hiệu của ông chủ lễ, nhảy ra nắm cổ con lợn chém một nhát. Phải chém thật mạnh và chém làm sao một nhát đứt đầu con lợn.
Con lợn đang đi đi lại lại bị một nhát gươm chết không kịp kêu, đầu văng xuống, tiết hộc ra từ cổ và thân hình lảo đảo rồi ngã xuống trước bàn thờ.
Người ta hứng lấy tiết của nó vào một chiếc chậu đoạn đem cạo lông mổ
thịt ở ngay Đình để sửa lễ cúng thần. Ở đầu hiên Đình lúc đó đã sẵn một nồi nước sôi.
Tục chém lợn cũng như tục chém gà trông thật man rợ, nếu ai được chứng kiến tận mắt. Cả hai tục này, ngoài mục đích tế tự, cũng có phần nào khuyến khích việc chăn nuôi gia súc, phải nuôi cách nào để gia súc mau lớn và béo.
Dù sao cả bốn cổ tục tại Hội làng Tích Sơn chúng tôi đã trình bày đều do ảnh hưởng nơi vị thần linh dân làng tôn thờ lúc sanh tiền là một tên tướng cướp, tục lệ ngày hội để thờ thần tướng cướp dù nhiều dù ít cũng nhiễm tàn bạo tính. Hay là sau hình thức tàn bạo này, mỗi cổ tục trên lại có một ý nghĩa tượng trưng nào khác chăng?
Thổi cơm thi
Ngoài bốn tục trên, nhiều ít gì cũng có tính cách tàn bạo, dân làng Tích Sơn trong kỳ hội đầu năm còn có tục thổi cơm thi. Với tục này, việc nội trợ được khuyến khích, việc bếp núc bao giờ cũng ở trong tay phụ nữ.
Nồi cơm dự thi nhân danh một thanh niên trong hai giáp, nhưng nấu nồi cơm chính các bà, các cô trong làng đảm nhiệm.
Theo lệ làng, nhân ngày hội Xuân, trai làng cho đến bốn mươi tuổi phải thổi mỗi người một nồi cơm, mang tới Đình trình với các cụ và các quan viên. Không phải ai là người làng cũng được dự cuộc thi nấu cơm này, là người làng, nhưng phải là người đã vào làng, nghĩa là đã nộp lệ hương ẩm để ghi tên vào sổ làng, dân làng mới chấp nhận cho dự cuộc thi.
Thi cơm có thể coi là tục lệ chính của ngày hội, mọi người đều chú ý tới và dân chúng các làng lân cận thường kéo nhau tới để chứng kiến cuộc thi này. Nhờ có tục thổi cơm thi, con gái làng Tích Sơn cô nào cũng thổi cơm rất khéo. Theo các cụ trong làng, gái quê không biết thổi cơm cho dẻo là đồ đoảng, đồ vứt đi.
Phải nhận rằng dân làng Tích Sơn có một nghệ thuật thổi cơm. Nồi cơn của họ chín, không bao giờ có cháy, lại gióc nồi một cách lạ lùng. Hơn nữa, cơm tuy ở nguyên trong nồi, nhưng lại mịn như cơm nắm. Có thể cả
một nồi cơm đổ ra chỉ là một nắm cơm, một nắm cơm không có vỏ, người thổi đã khéo dụng công, khiến nồi cơm không bao giờ có lấy một mẩu cháy cơm. Muốn ăn cứ việc xắt ra từng miếng, cơm rất thơm lại man mát mùi nhựa gạo. Cơm thổi bằng gạo tám thơm vừa dẻo, vừa ngon, cơm này ăn với giò lụa thật tuyệt!
Và cũng đáng khen các bà các cô thổi cơm ở chỗ thổi nồi cơm chín như
vậy mà nồi không hề bén lửa.
Để thổi cơm dự thi, mỗi người đều mua một chiếc nồi đất mới, cơm thổi nồi đất không pha mùi kim khí của nồi đồng nồi gang, mới giữ nguyên
được mùi thơm thuần chất lúa gạo. Mua nồi, các bà các cô thường kén chiếc nồi đất nung già, với màu đỏ thẫm, nồi như vậy đỡ bắt lửa.
Cơm được thổi ở nhà, chỉ mang ra Đình lúc dự thi. Theo lời các bà các cô ở Tích Sơn, các bà các cô phải dùng hai chiếc nồi, một chiếc nồi cũ và một chiếc nồi mới, và cũng phải có hai bếp, một bếp lửa và một bếp than, bếp lửa bắc nỗi cũ và bếp than đun nồi mới.
Nồi cũ đun nước cho sôi, nước sôi đổ sang chiếc nồi đất mới. Nước đổ
vào nồi mới đã đun nóng, không cần đun bằng lửa, chỉ dùng bếp than, mặt ngoài nồi cơm không bao giờ ám khói. Lúc nước sôi đổ vào nồi đất mới, gạo đã vo từ nửa giờ trước và đổ vào sau. Gạo phải vo trước, để ráo nước, bớt lạnh cơm khởi trương. Từ lúc gạo đổ vào, cơm chỉ thổi bằng than hồng.
Đã đổ gạo vào nước sôi, người thổi cơm phải ghế cơm cho đều tay. Bếp phải luôn luôn giữ than hồng cho đến lúc cơm chín. Cơm ghế rồi, dùng một chiếc lá mít miết lên trên mặt cho mịn, và như vậy, nồi cơm sẽ chắc như cơm nắm. Như thế tức là thổi cơm mở vung. Thổi khéo thì cơm dẻo, mịn và thơm mát, nồi cũng không ám khói.
Hôm thi nấu cơm, những ai phải thổi cơm đều mang nồi cơm của mình ra Đình. Những nồi cơm được xếp thành hàng ở nhà tiền tế, nồi nọ liền nồi kia, mỗi nồi đều có vung đậy. Ở vung và ở thành nồi có viết chữ
bằng vôi đề tên họ mỗi thanh niên dự thi. Hội đồng chấm thi gồm các cụ
và các quan viên đi xem từng nồi cơm, mở vung xem mặt cơm, nắn tay vào nồi cơm để hiểu độ dẻo. Hội đồng soát cơm xong, bao nhiêu nồi thổi khéo đều cho bưng đi, và đấy là những nồi nhất và nhì, có nhiều nồi nhất và nhiều nồi nhì. Cùng thổi khéo bằng nhau, những nồi của chức sắc được bầu nhất và những nồi của dân đinh phải sắp nhì.
Những nồi nhất dùng cúng thờ thần, các cụ và các quan viên được thừa hưởng, và một phần biếu khách thập phương tới dự lễ thánh.
Những nồi khác dân đinh ăn với nhau, bốn người một cỗ, mỗi cỗ hai nồi cơm.