Hội rước Đão Vũ tại phía bắc tỉnh Hưng Yên (Hải Hưng)Part 21

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Trước khi bước sang chương IV với những đặc tính của một số cổ tục, xin các bạn đọc các tài liệu sau đây của một nhà khảo cổ, kiến trúc sư

khảo cổ Nguyễn Bá Lăng về một số các hội Rước đảo vũ, một khía cạnh của Hội hè đình đám trích trong Đặc sản Quê Tôi do hội Hưng Yên tương tế xuất.

[1] Xin xem Rún Đu trong Phong Lưu Đồng Ruộng của soạn giả để hiểu rõ về cây đu, cách trồng cây đu và chơi đu.

[2] Chỉ bọn Pháp, vì âu phục ngắn để phân biệt với áo dài của ta.

[3] Nhuệ Giang. Tài liệu đã dẫn.

[4] Yên Đổ tùng biên, trang 3, 4.

[5] Thôn Vĩnh Mỹ chính là một ấp hiện thời của xã Mỹ Lợi, quận Vĩnh Lộc, tỉnh Thừa Thiên.

[6] Trong tục hát quan họ, người đứng đầu là anh Hai.

Hội rước Đão Vũ tại phía bắc tỉnh Hưng Yên (Hải Hưng)

Phía bắc tỉnh Hưng Yên chỉ cách vùng Dâu Khám trên dưới 10 cây số

ngàn,[1] và cùng ở trên một giải đất nằm trong góc nhọn của hai con sông Hồng và sông Đuống. Đây là miền đất khá cao của Châu thổ Bắc bộ nơi có những cánh đồng mầu, những dãy gò đống nhấp nhô như

những khúc rồng vùng vẫy nổi chìm giữa những cánh đồng ruộng hoặc lượn bên những thôn xóm liên lu.

Những giải đất cao cùng những gò đống định rõ những làn nước chảy mà nay hầu hết đã biến thành những cánh đồng sâu, chỉ còn lại mấy lạch sông nhỏ bắt nguồn từ nơi chân đê sông Đuống, băng qua những cánh đồng không, hoặc len lỏi cánh ruộng hai bên, dù là đồng sâu đất cũng nứt

nẻ và nhà nông phải tát bằng mấy tầng gàu dai để vét chút nước sông lên tưới ruộng.

Mùa mưa, gặp kỳ mưa đầm, đồng ruộng ngập nước trắng bong, người ta gọi là lụt nước mưa. Cuối tháng Bảy mưa Ngâu, đồng quê biến thành hồ

mênh mông nước bạc, làng xóm là những hòn đảo xanh rì. Chiều chiều sương lam ngưng đọng bên lũy tre lá xanh mượt và từ phương Tây rọi lên những giải quạt qua vòm trời trong xanh và rực rỡ mây hồng để tạm quên nỗi nắng hạn mưa dầm trong năm.

Nhà nông ở đây cày cấy hai vụ mỗi năm, nhưng e mưa nắng vô chừng đến độ chiêm khê, mùa thối nên khi Tứ Pháp xuất hiện tại thủ phủ Giao Châu, thì miền lân cận này nhiệt liệt đón rước những phép Phật ban cho để mong luôn luôn được phong đăng hòa cốc và an cư lạc nghiệp.

Hội tổng Ôn Xá

Tổng Ôn Xá thuộc huyện Văn Lâm (Hải Hưng), gồm có làng An Lạc, Thái Lạc, Nhạc Lộc, Nhạc Miếu, Tuấn Dị, Ôn Xá, Đình Dư... chạy dài dắt dây với những vườn thị, vườn nhãn luỹ tre, vòm đa um tùm xanh tốt, dọc theo hai bên đoạn đường số 5, cách Hà Nội 20 cây số ngài. Ở đây cũng có một đoạn phố xá và chợ, người ta gọi là chợ Đường Cái. Sau chợ có một ngôi chùa là chùa Ôn Xá, tục gọi là chùa Un. Chùa không to, trước mặt là bãi đất rộng có mọc một cây hồng nên gọi là bãi chợ Hàng Hồng, là nơi khi nào hạn hán trầm trọng thì dân tổng Ôn Xá rước Tứ

Pháp đến đình hội để làm lễ đảo vũ.

Ngày hội người ta rước tượng đức Pháp Vân, Pháp Vũ và Pháp Lôi đến chùa Un là nơi thờ đức Pháp Điện.

Tượng đức Pháp Điện không ai dám rước ra khỏi chùa vì sợ vía ngài quá uy linh dữ dội: ngài nhìn vào đâu thì đấy cháy. Không hiểu điều kiêng kỵ

này bắt đầu từ bao giờ, chỉ thấy là hầu hết các nơi thờ Tứ Pháp đều tin theo như thế và tôn trọng luật lệ ấy.

Ba pho tượng giống nhau đều lớn nên rước trần không ngồi long kiệu.

Tượng tạc kiểu tòa sen, sơn một màu đỏ nâu khoác áo vóc vàng, đầu đội mũ gỗ kiểu cánh sen thất Phật, mặt dài, cổ cao, mắt dài tô màu vàng, trông có vẻ cổ quái dễ sợ. Tượng đặt trên một bệ gỗ vuông, đơn sơ và rộng như một mặt phản có đính sáu vòng sắt ở hai bên sườn để xuyên hai đòn rước. Đòn bằng gỗ sơn son đỏ to bằng bắp chân do ba hoặc bốn phù giá ghé vai khiêng ở mỗi đầu. Phù giá là những trai tráng khỏe mạnh ở

trần đóng khố bao vải điều, có vải choàng chéo từ một vai xuống sườn bên kia, ghim chụm ngang hông và để hai đầu thòng lòng xuống đến đầu gối. Phù giá còn đội một kiểu mũ gấp và đeo túi trầu thuốc, phù giá nào nhà giàu thì túi trầu, khố, bao choàng chéo đều thêu chỉ ngũ sắc.

Người chấp hiệu, tay cầm cờ lệnh đi giật lùi phía trước hò cách quãng câu:

Ba bà trẩy hội chùa Un,

Mưa gió đùn đùn... thiên hạ dễ làm ăn... này...

Hò xong, phát cờ ra lệnh, phù giá vừa tiến bước vừa đồng thanh hưởng ứng bằng những tiếng ''ùa, ùa'' hoặc ''dô này dô'' để lấy đà đi cho đỡ

nặng.

Cứ như thế tượng Ba Bà với những tàn quạt, cờ phướn rực rỡ và cảnh xách, nghi trượng son vàng uy nghi, lướt trên những làn sóng người nón ô chen chúc.

Thánh Bà chùa nào thì có các tín nữ làng ấy đi theo, tay cầm phan tay cầm quạt vừa đi vừa kể hạnh, sự tích Tứ Pháp và niệm Nam mô...

Miền này làng mạc liên lu, chợ khá to nhưng dân nghèo, mỗi lần rước xách hội hè như thế tổn phí lắm, nên chỉ năm nào đại hạn lắm mới dám tổ chức... Mà đã rước, người trong miền tin rằng thế nào cũng mưa, vì hội chùa Un có tiếng là linh ứng.

Trái lại nếu gặp kỳ mưa dầm dai dẳng, thối đất thối trời thì khi cầu tạnh xong, mở cửa chùa ra bắt đầu đưa kiệu lên vai rước tượng ra đi thì có gió mát thổi và tạnh mưa ngay.

Hội Tứ Pháp huyện Yên Mỹ

Hai tổng Yên Xá và Sài Trang huyện Yên Mỹ (Hải Hưng) lấy ngày 17

tháng Giêng (ngày bà Man Nương thác hoá) là ngày thành đạo. Hàng năm tới ngày ấy, dân hai tổng mở hội nước Bốn Bà. Cứ năm nay rước về

chùa Trung (làng Liêu Trung, tổng Liêu Xá) rồi để thờ tại đó thì sang năm lại từ chùa Trung rước xuống chùa Tổng lập tại làng Nghĩa Trang, tổng Sài Trang. Tổng nào đi đón thì sửa soạn đi đón từ sáng sớm, vậy mà tới chiều tà, đám rước mới trở về tới chùa.

Hội nước linh đình long trọng đi trên đoạn đường hàng tỉnh vào thị xã Hưng Yên, chạy dọc theo nhánh sông Nghĩa Trụ trong khoảng sáu cây số

ngàn. Kiệu các Bà qua nơi thôn xóm, phố xá thì hai bên đường nơi đó cắm hương la liệt, khói nghi ngút, hương ngát lừng. Qua nơi đình miếu nào thì nơi đấy bày nhang án ra nghênh chào.

Cũng trong huyện Yên Mỹ, những năm trời làm đại hạn, người ta làm lễ

cầu đảo ở đền đức Thiên Đế tức là đức vua Đế Thích.

Đến ở làng Liêu Hạ còn gọi là Đình Sơ, dựng trên một gò đất cây to bóng mát mọc xum xuê như một cánh rừng nhỏ. Nhánh sông Nghĩa Trụ

và tỉnh lộ Hưng Yên cũng chạy qua trước cửa đền.

Tương truyền rằng đền dựng trên nền nhà cũ của Trương Ba, Trương Ba là người cao cờ nhất nước, đời Lý, triều Long Thụy (thế kỷ XI). Một hôm có một người Tàu cũng rất cao cờ đến chơi, đòi đấu nhưng rồi cũng lâm vào thế bí. Trong khi chờ đi nước chót để hạ, Trương Ba cao hứng nói: ''Họa chăng chỉ có đức Đế Thích xuống đây thì mới gỡ nổi''. Nói xong liền có một ông lão không biết từ đâu đến xem cờ và mách nước cho khách đang bí khiến thế cờ đang bại chuyển thành thắng. Trương Ba rất đỗi ngạc nhiên, đoán nhận là đức Đế Thích, bèn phục xuống tạ lỗi.

Đức Đế Thích cảm lòng thành của Trương Ba, bèn cho một bó hương mà dặn rằng:

''Sau này có mắc nạn gì thì đốt hương lên ta sẽ giải cứu''.

Sau đó ít năm, Trương Ba bị bệnh chết, người nhà mai táng xong, dọn dẹp nhà cửa thấy còn một bó hương đem ra đốt. Đức Đế Thích hiện xuống hỏi, được rõ Trương Ba chết chôn đã mấy năm rồi, và trong làng có người hàng thịt mới chết chưa chôn. Ngài triệu chư vị Tam phủ (gồm Thiên phủ, Địa phủ và Thủy phủ) đến làm cho hồn Trương Ba nhập vào xác người hàng thịt để sống lại. Vì thế thành câu chuyện ''Hồn Trương Ba, da hàng thịt''.

Trương Ba lập miếu thờ tạ ơn đức Đế Thích và chư vị Tam phủ. Sau miếu biến dạng thành ngôi đền nổi tiếng linh thiêng và Trương Ba cũng được lập miếu thờ bên cạnh.

Đức Đế Thích phải chăng là Indra, vua cõi trời, làm sét làm mưa của Bà La Môn giáo? Vì vậy người ta còn gọi là đức Thiên Đế và khi gặp đại hại cần mưa, người ta làm lễ khấn ngài và xin nước.

Đám rước do hàng Tổng, có khi hàng huyện tổ chức đi từ đền Liêu Hạ

đến đền Xá, làng Đặng Xá phủ Ân Thi theo đường cầu Hầu Cống trông qua bến đò Mỹ Ngọc, đường dài ngót mười cây số ngàn, hoặc cũng có khi đi qua phố huyện xuống mạn Lực Điền đường xa hơn nhiêu.

Trong khi đi nước, kiệu đức Thiên Đế đi uy nghi trang trọng, còn kiệu đức Long Vương đi sau, bay đi bay lại, tạt sang những đường ngang có khi rất xa rồi mới trở lại nhập vào đám rước chính.

Có năm đám rước lớn hơn hai chục long đình thần các làng trong huyện đi theo tòng giá.

Còn hàng năm, khoảng đầu mùa hè, sau kỳ nắng lâu mà có một trận mưa rào thật lớn, thì y như rằng ban đêm trông xuống cánh đồng Tam thiên mẫu, một cánh đồng rộng bát ngát thuộc địa phận hai huyện Yên Mỹ,

Mỹ Hào, người ta sẽ thấy thật nhiều những đốm lửa chập chờn, kéo dài như một đám rước đèn từ từ trôi từ phía Tây Nam sang Đông Bắc. Các cụ già truyền lại đó là đức Thiên Đế cùng tùy tòng và chư thần từ đền sang thăm con Ngài là bà Nguyệt thờ tại chùa làng Tứ Mỹ, huyện Mỹ

Hào (Hải Hưng).

Hội chùa Thứa và Thanh Xá

Làng Dy Sỹ (làng Thứa) thờ đức Pháp Vân và làng Thanh Xá thờ đức Pháp Vũ cùng thuộc huyện Mỹ Hào (Hải Hưng), hàng năm vào ngày mồng 8 tháng 4, mở hội chùa rước giao hiếu. Thực ra thì đức Pháp Vũ

do sáu làng xã quây quần hai bên khúc sông Nghĩa Vụ miền Thanh Xá cùng thờ, nên chia nhau đài thọ tổn phí về hội rước.

Hễ năm nay rước đức Pháp Vân sang chùa làng Thanh Xá thì năm sau lại rước đức Pháp Vũ sang chùa Đại Bi làng Dy Sỹ. Mỗi lần như thế, bên rước ở lại một đêm, bên chủ tổ chức cuộc lễ mừng. Lễ có tiến cúng là nghệ thuật ca vũ khá đặc biệt. ''Tiến cúng'', là tiến dẫn cúng Phật sau lễ

vật là hương, hoa, đăng, trà, quả, thực, vì thế còn được gọi là lục cúng.

Người tiến cúng tùy theo mỗi thứ lễ vật mà tiến lui, đi ngang, đi chếch, nhanh, chậm, nhịp nhàng, nhịp trống và não bạt dồn dập hoặc đổ hồi mà đi theo những kiểu chữ dành riêng cho mỗi vật lần lượt dâng cúng, ấn định như sau:

Dâng hương, chân đi thành hình chữ nhật.

Dâng hoa, đi thành hình Hoa Hồi bốn cánh Dâng đăng ''đèn nến'', đi thành hình chữ Á.

Dâng trà (chén nước để trong bó đài mở nắp), đi thành hình chữ Thủy.

Dâng quả (cam, lê, táo) đi thành hình chữ Vạn.

Dâng thực (oản...) đi thành hình chữ Điền.

Thoạt đầu người tiến cúng chắp tay làm lễ Phật, rồi hát múa khúc giáo đầu:

Nay xin dâng hương, đăng, hoa, trà, quả, thực, Sáu mùi đều hương xạ ngát lừng

Lòng kính thành xin Phật giáng lâm,

Cầu thiên hạ thái bình an lạc.

Rồi mỗi lần dâng cúng có một khúc hát múa. Dứt tiếng hát thì đánh trống và gõ não bạt đổ hồi. Mỗi lần lễ vật đệ lên bàn thờ xong, người tiến cúng trở về chỗ ngồi nghỉ thì có sư hoặc thầy pháp vào tụng một đoạn kinh[2].

Người tiến cúng có khi là một thầy pháp, có khi là một nhà sư hay hai chú tiểu mũ đội cánh sen thất Phật, nhưng thường là những thiếu nữ có nhan sắc tuyển lựa từ những nhà tử tế nền nếp trong làng. Năm nào ít thì có hai thiếu nữ, có năm bốn hoặc đông hơn tới sáu thiếu nữ.

Các thiếu nữ này quấn khăn thêu, mặc áo cánh tiên, cổ lá sen, tua mạng xanh đỏ, đính hột bột choàng trên áo cánh trắng, tua giải bơi chèo nhiều màu quấn giắt quanh mình. Trong lúc tay ấn (bắt ấn) chân đàn (chạy đàn theo kiểu chữ) hoặc múa hoặc dâng lễ vật, lượn đi lượn lại những giải lụa đào, hoặc vàng anh vắt ngang hai khuỷu tay, hoặc lót đỡ mâm bồng, bỏ

đài phất phới tung bay theo tiếng trống, long não bạt dồn dập hoặc lướt đi lướt lại như bướm lượn cùng tiếng hát ngân nga, trong trẻo của chốn đồng xanh gió mát...

Hôm sau Hai Bà tiễn nhau ra về. Tới một độ đường đã ước định, trước khi chia tay, hai chị em làm lễ trao yếm cho nhau. Yếm gồm ba cái là ba vuông vóc vàng gấp xếp trong một bộ đài vuông để sẵn trong kiệu bên chủ. Một vị chủ đám đến trước hai kiệu xin ngừng lại đối diện nhau.

Phù giá xuống tay hạ kiệu thấp xuống, viên chủ đám làm lễ thưa trình xong, trèo lên ghế, thò tay vào trong kiệu chủ, lấy bồ đài ra khỏi những

mảnh màn che kín tượng Thánh Bà cả bốn mặt kiệu, rồi đem sang bên kia làm lễ dâng đặt bỏ đài yếm vào trong kiệu phách.

Đoạn hai Bà từ giã nhau bằng cách nhún kiệu xuống cũng như lúc chào gặp nhau.

Đám rước tách đôi, người bên làng nào trở về bên ấy, nhưng cùng tỏ vẻ

dùng dằng luyến tiếc, có khi hai bên rời xa nhau rồi, bỗng một kiệu quay trở lại, bay gặp kiệu bên kia, bay qua bay lại như ngăn giữ nhau vài lần rồi mới từ giã nhau hẳn.

Trong bóng chiều trên đường về đám rước đi thong thả theo nhịp trống chiêng thủng thỉnh, trong điệu nhạc bát âm đi bài lưu thủy, hành vân, đều đều, bâng khuâng gợi cảnh mây trôi, hoặc theo tiếng đàn tiếng nhị của phường cải lương đi bài bình bán, kim tiền vui vẻ thực tại hơn, nhưng thỉnh thoảng cũng nổi lên một hơi kèn tàu réo rắt...

Hội rước Đảo Vũ huyện Mỹ Hào (Hải Hưng)

Năm nào đại hạn, một làng thờ Tứ Pháp sẽ làm lễ cầu đảo ba ngày đêm, xong đóng cửa chùa nghỉ ba ngày. Nếu chưa mưa lại tái đảo ba ngày, nghỉ ba ngày chờ. Hai lần tái đảo như thế mà chưa có kết quả thì cử đại diện sang chùa bên (thờ Tứ Pháp) xin làm lễ tiếp. Ở đây cầu đảo đến lần thứ ba mà vẫn không mưa thì làm lễ khất giao (xin âm dương, xin keo) để xin được rước.

Nếu được Thánh Bà chấp thuận thì trước hết rước đức Pháp Vũ từ chùa làng Thanh Xá đến chùa làng Hoàng Đôi (Đống Vàng) thờ đức Pháp Lôi, ở lại đó một đêm để dân hai làng làm lễ. Hôm sau rước cả hai vị

sang làng Yên Phú (Bần Tía).

Dân làng này chỉ rước bát hương ra tam quan chùa nghênh đón và lục tiễn cũng vậy, người ta không dám rước đức Pháp Điện ra khỏi chùa. Hai vị này cũng dừng lại ở chùa này một đêm cho dân làng làm lễ cầu đảo.

Đám rước tiếp tục đi đến làng Nguyên Xá (làng Nguộn), dừng ở đây ba đêm. Sở dĩ ở lại vì Thành hoàng làng này nguyên là Hoàng tử triều Lý

do vua cha cầu tự được tại chùa Pháp Vũ. Lớn lên hoàng tử ham tập gươm kiếm không may bị nạn chết, hiển linh làm Thành hoàng làng Nguyên Xá.

Sau ba ngày, rước đức Pháp Vũ và Pháp Lôi đến hội với đức Pháp Vân tại chùa Thứa. Ở đây chỉ làm lễ tiến dân lục cúng một tuần, chừng 4

tiếng đồng hồ rồi kiệu đâu rước về đó.

Nếu đại hạn trầm trọng, thì theo lệnh sức của tỉnh các làng trong huyện, rước thần vị Thành hoàng đến hội đảo cùng các Thánh Bà Tứ Pháp tại đình làng sở tại.

Cửa đình vào hôm chỉ định rước, mở toang để chốc chốc lại đón rước một tòa kiệu, một cỗ long đình cùng cờ quạt theo tiếng trống khẩu tong tong tiến vào trong đình.

Đình Thứa, (làng Dy Sỹ) to rộng nhất vùng, vậy mà vào những dịp này cũng chật ních những long đình[3], Ngọc lộ[4] vàng son rực rỡ, xếp hàng hai bên trước mặt kiệu[5] các Thánh Bà ngự ở giữa mặt cung cấm.

[1] Dâu, Khám thuộc tỉnh Bắc Ninh.

[2] Tục lệ tiến cúng cũng thay đổi ít nhiều tùy địa phương, chúng tôi mong quí vị nào nhớ rõ các chi tiết, nên viết để ghi lại nét sinh hoạt nghệ

thuật dân tộc (Chú thích của N.B. Lăng)

[3] Long đình: hình vuông hai tầng mái khum, góc chạm lồng có 4 chân dài, có hai đòn xỏ xuyên qua để khiêng.

[4] Ngọc lộ: cũng tương tự như long đình, trang hoàng rực rỡ hơn, không có chân mà có kệ đặt lên đòn rồng để khiêng.

[5] Kiệu: hình chữ nhật, mái mui luyện, đặt trên đòn rồng bát cống, nguy nga hơn cả.