Hội Niệm ThượngPart 5

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Với các cổ tục:

Chém lợn nhúng vào nồi nước mắm đang sôi.

Tắt đèn, đốt đuốc, đội nong xôi chạy quanh đình.

Làng Niệm Thượng, tổng Khắc Niệm, huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc), tục gọi là làng Ném, mở hội vào các ngày mồng 5, mồng 6

tháng Giêng.

Làng này nằm bên tỉnh lộ đi từ Bắc Ninh tới Thuận Thành cách tỉnh lỵ

vào khoảng trên mười cây số. Dân làng không đông lắm vào khoảng trên năm trăm người, quanh năm sống về nghề canh nông. Dân làng chia làm hai giáp.

Thần tích

Thành hoàng làng này, họ Lý, không rõ tên gì nhưng được gọi là Lý Công, lúc sinh thời làm nghề ăn cướp, chết gặp giờ linh nên được dân làng thờ phụng. Lý Công quê ở làng Châm Khê cùng huyện, thường kiếm ăn ở các làng quanh vùng. Một hôm Lý Công đi ăn cướp, bị dân chúng và khổ chủ đuổi đánh ráo riết chạy bán sống bán chết, chạy đến núi Nghè gần làng Niệm Thượng. Tới núi, Lý Công tìm chỗ ẩn núp, dân chúng kiếm không ra. Tuy kiếm không ra, nhưng mọi người đều biết họ

Lý ẩn ở trên núi, nên cùng nhau vây quanh ngọn núi canh chừng.

Bị vây, ẩn mãi trên núi, tên cướp họ Lý không có gì ăn đang lo chết đói.

May thay giữa lúc đói lòng, một con lợn lớn không hiểu từ đâu tới, đi từ

trong bụi rậm ra. Chàng cướp ta không để lỡ cơ hội, lập tức, sẵn dao dài trong tay, chém một nhát ngang mình lợn, con lợn bị chặt làm đôi, đầu với hai chân trước rời khỏi mình. Chém xong chàng lột bì lợn bỏ đi lấy thịt ăn sống.

Không thấy thần tích nhắc tới, sau này Lý Công bị chết ra sao, chỉ biết khi chết gặp giờ linh nên được dân làng Niệm Thượng thờ làm Thành hoàng.

Những cổ tục

Hội làng Niệm Thượng ngoài những lễ nghi thường lệ có những cổ tục nhắc lại kỷ niệm lúc sinh thời của Lý Thành hoàng.

Chém lợn

Trong hội làng Tích Sơn, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh Phú), cũng có tục chém lợn chúng tôi đã nhắc qua, nhưng tục chém lợn ở làng Niệm Thượng khác hẳn tục chém lợn ở làng Tích Sơn. Con lợn hy sinh ở

làng Niệm Thượng khi bị chém còn đang bị nhốt ở trong cũi, và ở đây một năm chém hai con lợn do hai giáp trong làng.

Tục này nhắc lại lúc Lý Công bị đói đã chém con lợn ở núi Nghè.

Nuôi lợn

Hai con lợn được nuôi từ tháng 7, tháng 8 âm lịch năm trước do hai người trong hai giáp được chỉ định. Lợn giống của hàng giáp nhưng người nuôi phải tốn công và phải giữ gìn cho sạch sẽ từ chuồng cho tới đồ ăn của lợn. Thường người nuôi cho lợn ăn cám nấu với rau muống, rau muống phải rửa sạch trước khi băm để hầm với cám, ngõ hầu tránh mọi thứ dơ bẩn lẫn trong rau khả dĩ làm cho lợn sinh đau ốm.

Trước ngày hội một tháng, lợn được nuôi bằng cháo thay cho cám.

Lợn được chăm sóc cẩn thận và được cung kính gọi là Ông.

Rước lợn

Hội làng được bắt đầu sửa soạn vào ngày mồng 5 tháng Giêng. Hôm đó tại đình làng có lễ cáo thần linh và có tế gọi là cáo tế. Cáo tế xong, thừa lộc thánh, dân hai giáp cùng nhau ăn uống no say. Sau đó mỗi giáp đều

cử người đi rước lợn. Đây là những người đàn anh trong giáp thuộc ba bàn[1]. Đi rước lợn không phải đi bắt lợn với thòng lọng và thừng chão như các ông đồ tể, trói gô lợn lại mang đi.

Rước lợn, các vị quan viên hàng giáp phải mang tới nhà nuôi lợn một chiếc cũi bên ngoài có phủ nhiễu điều. Chiếc cũi này mang đặt vào chuồng lợn, bỏ nhiễu phủ ngoài đi, rồi các quan viên hàng giáp phải khéo léo lừa cho ''Ông'' vào cũi. Ông đã vào cũi rồi, cửa cũi đóng lại, nhiễu điều lại phủ trở lại lên trên cũi. Mười hai vị quan viên cùng nhau khiêng cũi rước ''Ông'' ra đình, đặt ''Ông'' ngay ở nhà tiền tế, châu đầu vào bàn thờ. Tục rước Ông cử hành vào đêm mồng 5 tháng Giêng.

Sau đó, có lễ trình với thần linh sự hiện diện của hai ''Ông'' tại đình làng.

Chém lợn

Lễ chém hai ''Ông'' cử hành vào ngày mồng 6 tháng Giêng lúc buổi trưa.

Để dùng trong việc này, làng dành riêng hai con dao cho hai giáp. Hai con dao đánh bằng thép già thật sắc, quanh năm để thờ trong đình. Đây là loại dao dài có cán.

Lúc cử hành lễ chém hai Ông, nhiễu điều phủ trên hai chiếc cũi bỏ đi, và ở ngay đình trung có bắc một chiếc bếp lớn, trên bếp có nồi nước mắm đang sôi.

Một giáp cử một thanh niên khỏe mạnh trong việc chém ông. Hai thanh niên này lăm lăm cầm sẵn trong tay mỗi người một con dao thờ.

Dân hai giáp ngồi đứng hai bên mé bàn thờ trên sàn đình để dự cuộc chém hai ''Ông''. Mấy quan viên mỗi giáp đứng ở ngay nhà tiền tế, có nhiệm vụ xua làm sao cho ông ở trong thò đầu ra ngoài cũi. Lập tức chàng trai đao phủ lúc đó hờm sẵn, hoa dao lên, hạ xuống một cái mạnh, một tiếng ''phập'' lập tức đầu ''Ông'' và hai cẳng trước dứt rời khỏi thân, lối chém y hệt lúc sinh thời, trong cơn đói lòng ở núi Nghè, Lý Công đã

chém con lợn chạy qua. Lại phải lựa sao, khi chém như vậy mà không chạm vào lòng lợn mới đúng.

Ông của giáp này bị hạ trước, Ông của giáp kia bị hạ sau ngay liền đó.

Tưởng cũng cần nói thêm, trước khi cử hành lễ chém Ông phải có lễ

khấn đức Thành hoàng và hai thanh niên được cử vào nhiệm vụ đao phủ

cũng phải lễ thần để tạ ơn vì đã được sung vào công việc hiếm hoi nhất niên nhất lệ này.

Lợn chém xong đem lột da, nhúng vào nồi nước mắm đang đun sôi đem dâng làm lễ tế thần...

Tế thần xong, các bô lão và các quan viên thừa hưởng lộc thánh tại đình, ngoài ra còn dùng làm phần chia cho dân hai giáp.

Dân làng cũng dùng một số thịt heo làm phần biếu quan viên bô lão làng Dương Ổ, nằm trên quốc lộ số 1, cách tỉnh lỵ Bắc Ninh chừng hai cây số

về phía Hà Nội. Làng Dương Ổ, tục gọi là làng Ổ, có lệ giao hiếu với làng Niệm Thượng. Tương truyền rằng xưa kia Lý Công có một người yêu là bà chúa làng Dương Ổ.

Tắt đèn, đốt đuốc, đội xôi

Đây cũng là một cổ tục đặc biệt của làng Ném. Cổ tục này thể hiện vào đêm mồng 5 tháng Giêng, quãng tám chín giờ tối, nghĩa là sau bữa cơm chiều rất lâu. Chính ra đây là một cuộc thi thổi xôi giữa hai giáp. Thổi xôi ở ngay tại trong đình, hai giáp cử người đại diện phụ trách công việc này.

Gạo nếp dùng để thổi xôi là thứ nếp thơm, hạt to, miền Bắc gọi là nếp Cái. Gạo được lựa kỹ từng hạt, không còn một chút trấu thóc nào lẫn vào.

Lúc hai giáp thổi xôi, trong đình đèn nến sáng trưng và dân hai giáp bu quanh để chờ đợi kết quả. Hai giáp đều cố gắng thổi sao cho chõ xôi của

mình xong trước.

Giáp nào xong trước, đổ xôi ra nong, rồi ra lệnh cho dân hàng giáp tắt hết cả đèn nến trong đình đi, khiến cho giáp kia không còn ánh sáng để

tiếp tục nấu chõ xôi của mình.

Đèn tắt xong, một người của giáp thắng cuộc đội nong xôi chạy quanh đình, có ý muốn cho dân làng biết giáp mình đã thổi chõ xôi xong trước.

Người đội nong xôi đi trước, có mấy người khác đốt đuốc chạy sau, và sau những người vác đuốc này có cả dân hàng giáp ồ ạt chạy theo để chia cái vinh dự thắng cuộc của giáp mình.

Làng có tặng giải cho giáp thắng cuộc.

Trong khi giáp thắng cuộc vui vẻ và kiêu hãnh đội nong xôi chạy quanh đình với ngọn đuốc rừng rực, thì trong đình lúc đó tối om. Những trai gái lúc trước đứng xem thổi xôi, lúc này nhân bóng tối, tha hồ họ muốn thi thố với nhau điều chi cũng được, và họ cũng chẳng cần chạy theo đám nước xôi, mặc dầu có thể họ là người trong giáp thắng cuộc.

Hội làng Niệm Thượng với các tục trên thật là vui, và bao giờ đêm ngày mùng 5 tháng Giêng đình làng cũng chật ních những người, nhất là những trai gái choai choai!

[1] Tổ chức hàng giáp gồm 5 bàn: bàn quan lão, bàn quan lềnh và ba bàn họp thành một ban phụ giúp cho các ban lệnh.

Hội Văn Trưng

Với các cổ tục:

Bắt chạch trong chum

Thi thuyền

Leo cầu phao

Đốt pháo thi v.v...

Làng Văn Trưng, tên nôm gọi là làng Dưng, và dân quanh vùng còn gọi là Chợ Dưng, nơi đây có ngôi chợ lớn, một tháng sáu phiên, dân chúng các làng lân cận kéo nhau tới họp chợ để bán các sản phẩm và mua các vật dụng thường ngày.

Làng Dưng thuộc phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh Phú), hàng năm mở hội vào ngày mồng 6 tháng Giêng, tức là vào ngày phiên chợ đầu năm.

Hội mở ngay tại khu đất chợ và có rất nhiều trò vui, những trò vui đã khiến dân chúng quanh đó không ai quên nổi ngày hội, và đã có câu ca dao:

Bỏ con bỏ cháu,

Không ai bỏ mồng sáu Chợ Dưng.

Lộ trình đến làng Dưng

Làng Văn Trưng cách phủ lỵ Vĩnh Tường hơn năm cây số và cách tỉnh lỵ

Vĩnh Yên chừng mười lăm cây số. Muốn tới nơi đây người ta đi theo quốc lộ số 2 từ Hà Nội đi Tuyên Quang, Hà Giang, khi qua khỏi tỉnh lỵ

Vĩnh Yên chừng mười cây số, con đường liên tỉnh Vĩnh Yên đi Sơn Tây ở đây, du khách sẽ rẽ tay trái và sẽ đi vào khoảng bốn cây số thì tới Văn Trưng. Đình làng Văn Trưng nằm ngay ven đường và phía tay trái, trên nền đất cao trông thẳng ra một chiếc đầm rộng, nước trong xanh. Đây là đầm Dưng, một nguồn lợi của dân chúng làng Dưng.

Thần tích

Vì chưa có dịp tìm hiểu kỹ càng, nên không đầy đủ tài liệu để trình bày.

Rất mong được sự chỉ giáo của các bậc hiểu biết.

Những cổ tục

Trò vui tại hội Văn Trưng có rất nhiều và rất thú vị. Chính những trò vui này đã lôi kéo được khách thập phương, những trò vui này hầu hết là những tục lạ: BẮT CHẠCH TRONG CHUM, LEO CẦU PHAO, ĐỐT

PHÁO THI, CỜ BỎI, và đáng kể hơn cả là THI BƠI THUYỀN trên Đầm Dưng.

Những trò vui cổ truyền trên, sau này cho đến trước năm 1945, khi dân làng mở hội còn tổ chức thêm cả những trò vui mới có tính cách thể

thao: Thi Xe đạp, Thi Chạy, nhưng ở đây chúng tôi chỉ xin nói tới những trò vui cổ truyền.

Bắt chạch trong chum

Bên phía trái trước đình làng có một cây đa cổ thụ. Nhân ngày hội, dân làng bày dưới bóng cây đa một hàng chum[1] ít nhất cũng năm cái, mỗi chiếc chum đựng đến hai phần ba nước, trong mỗi chiếc chum có thả

một con chạch[2].

Cuộc vui có những cặp trai gái vừa ôm nhau vừa thi bắt con chạch trong những chum này.

Leo cầu phao

Cầu phao bắc bằng một cây tre, một đầu dựa vào đất, còn đầu kia, ngọn tre, sà trên mặt nước, buộc lủng lẳng vào một chiếc dây, chiếc dây này được buộc treo vào một chỗ giao nhau của hai thân cây tre khác, ngắn hơn cây tre làm cầu, chống dưới nước chụm đầu vào nhau. Tại nơi giao điểm của hai thân tre có buộc những giải thưởng gồm những khăn hoa xinh đẹp, những vuông nhiễu điều tươi thắm, những bao trà, có khi là tiền.

Người leo cầu phao phải đi từ đầu cầu dựa trên đất, đi trên cây tre cho tới chỗ treo giải thưởng, phải đi một mạch không được ngã xuống nước, ngã xuống nước phải lội vào bờ đi lại. Leo cầu phao được tổ chức ngay bên bờ đầm Dưng trước cửa đình để các bô lão và các quan viên trong làng chứng kiến.

Leo cầu phao tưởng chừng như dễ mà rất khó, thường hội đồng làng kén cây tre dài làm cầu. Bước đi của người dự cuộc làm rung mạnh cây tre, và cây tre rung mạnh đã hất họ ngã xuống nước, họ không bấu víu vào đâu, họ chỉ lấy thăng bằng do bản thân họ. Những người bắt đầu cuộc vui còn đi được khá xa trên thân cây tre, những người sau đi khó khăn hơn, cây tre bị nước do người đã ngã làm bắn lên, trơn như bôi mỡ.

Người leo cầu phao bước rập rình rồi ngã ùm xuống nước đã làm trò cười cho khách xem hội đứng ở trên bờ và do chính họ cũng tự thấy vui vui, họ lội nước trở vào bờ leo lại.

Trong lúc leo cầu phao, họ mình trần trục, chỉ đóng một chiếc khố mầu xanh, đỏ, nâu, tím, tùy người. Có lắm người trông khỏe mạnh như những lực sĩ. Các chàng trai làng leo cầu phao thường được khuyến khích bởi các cô gái làng cười chúm chím ở trên bờ!

Đốt phao thi

Ngày Tết mừng Xuân người ta đốt pháo, trong những ngày hội Xuân dân tộc, để hội được thêm phần nhộn nhịp tưng bừng, dân các làng quê đều có đốt pháo, nhất là trong những đám rước thần, sau những buổi tế thần hoặc trong những cuộc vui có giải, để mừng người được giải, người ta đều đặt một bánh pháo.

Tại chợ Dưng, ngày Tết, ngày Xuân pháo đã nổ nhiều và cả trong ngày hội, cũng xác pháo đỏ, khói pháo thơm với tiếng pháo ran ran được dân làng đốt mừng khi rước, khi tế cũng như khi khuyến khích các người dự

thi trong các cuộc vui.

Đặc biệt hơn ở hội này có tục thi pháo. Pháo do dân làng làm lấy theo những phương pháp cổ truyền, hoặc do dân làng đặt làm ở những làng có nghề làm pháo. Đúng ra, pháo dự thi phải là pháo dân làng tự làm lấy, nhưng cũng khó ai có thể kiểm soát được pháo này do dân làng làm, pháo nào thuê đặt làm tại những làng làm pháo chuyên môn. Trước kia thỉnh thoảng còn có người khiếu nại về xuất xứ của pháo nhưng về sau cũng chẳng ai kêu ca, và ban hội đồng cho rằng, pháo nào cũng là pháo,

chỉ cốt làm sao pháo nổ đều, kêu và xác pháo toàn hồng để mang sự

thịnh vượng lại cho dân làng là được, nhất là từ ngày người Pháp đặt ra luật lệ về nghề làm pháo, cấm dân chúng tự làm pháo, dân làng dự thi đốt pháo đều dùng pháo mua ở thị trường hoặc đặt làm trước tại xưởng pháo.

Tiêu chuẩn cuộc thi đốt pháo được đặt ra:

Pháo phải nổ đều, ít quả tịt ngòi.

Pháo phải tan xác khi nổ tung xác pháo cho cao và tỏa xác cho rộng.

Tiếng pháo nghe ròn ran ran, không phải là tiếng nổ cụt cỡn cục cằn, nếu là thi pháo một.

Về pháo tràng, các tràng pháo thi dài đều nhau, giữa những tràng pháo nếu có pháo đùng, số pháo đùng cũng phải đều nhau.

Thường pháo tràng thi không có pháo đùng, ban hội đồng cho rằng tiếng nổ của pháo đùng làm bắn xa thêm xác pháo, đồng thời có thể làm mất đi những quả tịt ngòi.

Trước giờ thi, những tràng pháo dài đều nhau được treo ở hiên đình, tràng nọ cách xa tràng kia đủ để giữ cho khi pháo tràng này nổ, không bắn tia lửa vào ngòi một tràng pháo khác khiến cho tràng pháo này nổ

theo.

Lúc thi, lần lượt từng tràng pháo một được đốt lên. Một tràng pháo nổ

hết, ban hội đồng cho kiểm lại số pháo tịt ngòi rớt xuống mặt đất và ước lượng vùng rộng xác pháo đã tung tỏa ra.

Công việc ước lượng và kiểm soát số pháo tịt ngòi xong, tràng pháo khác mới đốt tiếp.

Tất cả những tràng pháo đã đốt hết, ban hội đồng mới định giải. Trước hết những tràng pháo nào không toàn hồng bị loại, rồi đến các tràng pháo nhiều quả tịt ngòi. Chỉ còn lại sau cùng ba tràng pháo nổ đều nhất, số

pháo tịt ngòi rất ít. Lúc này hội đồng mới xét tới tràng pháo nào lúc nổ

đã tung xác pháo cao và tỏa rộng hơn để định thứ bậc. Có những năm có những tràng pháo nổ đều, ít pháo tịt, nhưng khi nổ pháo không tan xác, chỉ bật đầu, vỡ bụng hoặc chỉ nổ một nửa xác pháo, trường hợp này cũng bị loại.

Đây là thi pháo tràng, còn thi pháo một, người dự thi phải tự đốt pháo, pháo cầm nơi tay, đốt xong tung lên cao.

Quả pháo nào lên cao mới nổ, xác pháo bay phấp phới như đàn bươm bướm rớt là là xuống đất, tiếng nổ nghe ròn ran ran đều được chú ý và có hi vọng ăn giải. Có những quả pháo, người đốt pháo ném chưa khỏi đầu đã nổ, hoặc có khi nổ ngay trong tay người đốt pháo làm đen nhám cả

bàn tay. Quả pháo này lẽ tất nhiên bị loại cũng như những quả pháo khi tung lên cao không nổ chỉ nổ khi rớt trở lại xuống đất hoặc gần tới đất.

Cũng bị loại những quả pháo nào nổ không tan xác.

Cuộc thi đốt pháo rất vui, nhưng vui hơn là cái không khí sau cuộc thi này.

Những quả pháo không nổ vì tịt ngòi, hoặc cháy tới đầu pháo thì tắt, hoặc tắt giữa lúc đang cháy dở dang, được ban hội đồng thu thập trước khi định giải, nay đem phát cho trẻ em trong làng để chúng đốt cho vui.

Đốt những pháo này chúng ném nhau và khi đốt hết, chúng mua thêm pháo mới, gỡ ra để ném nhau. Lúc đầu chúng ném nhau, sau dần dà chúng ném các thiếu nữ đi xem hội, người làng hoặc các làng lân cận, các cô bị trẻ em ném pháo vừa chạy vừa cười rức rích. Có những cô tinh nghịch mua pháo ném trả lại.

Trò chơi lúc đầu của trẻ em, thanh niên trong làng, và cả thanh niên làng khác tới xem hội, thấy thú thú cũng mua pháo đốt ném nhau, nhất là ném các cô thiếu nữ trong đám hội. Các cô chạy, các chàng đuổi, và cũng nhiều cô không chịu kém, mua pháo đốt ném lại. Không khí đám hội thật vui vẻ trẻ trung.

Một năm xảy ra như vậy, những năm sau lại tái diễn, lâu làu thành lệ, ban hội đồng trong làng thấy cũng hay hay, đã không cấm đoán còn khuyến khích cho trai gái đốt pháo ném nhau.

Chẳng ai bảo ai, tự nhiên ngày hội, người các xã lân cận hẹn hò nhau tới đó mua pháo đốt chơi, ở đây câu ca dao:

Thừa tiền mua pháo đốt chơi,

Pháo nổ lên trời tiền vứt xuống sông!

đã không mấy đúng!

Thanh nam, thiếu nữ vui xuân đốt pháo ném nhau, đã khiến có cả những bà nạ dòng mong mỏi được người ta đốt pháo ném mình! Nhưng: Thừa tiền ném pháo nạ dòng,[3]

Đem tiền mà vứt xuống sông cho rồi!

Bơi thuyền

Đình làng Văn Trưng thiết lập trên một mô đất cao, trông thẳng ra đầm làng, tục gọi là đầm Dưng. Theo phong thủy, tục bảo đấy là trán rồng.

Hai bên đình có hai chiếc ao nhỏ, hai mắt rồng. Trước cửa đình có một sân gạch, nơi ban hội đồng làng ngồi dự các cuộc vui, nhất là cuộc thi bơi thuyền trên đầm Dưng.

Đầm Dưng tương truyền là thân rồng uốn khúc và chính giữa đầm là hàm ngọc rồng.

Hàng năm, khi có cuộc thi thuyền, ở giữa đầm, nơi được coi là hàm rồng có cắm một cây tre làm đích cho cuộc thi. Những chiếc thuyền dự thi là những chiếc thuyền bằng ván, dài chừng năm sáu thước. Trên mỗi chiếc thuyền có sáu người ngồi cùng bơi thuyền. Bơi thuyền trong cuộc thi này không ai dùng bơi chèo, mỗi người dự bơi được sử dụng hai tay hai chiếc đĩa phố, bơi thuyền bằng những đĩa này. Họ có lối cầm đĩa để bơi

mạnh và mau: bốn ngón tay nhỏ để lên trên đĩa, ngón tay cái giữ trong lòng đĩa. Khi bơi bàn tay phải úp xuống, như vậy bơi đã nhẹ, thuyền lại đi nhanh. Muốn dự bơi những tuyển thủ đều có luyện tập trước.

Những thuyền thi đều của dân làng, được sắp hàng một dãy ngay bờ đầm mé trước đình.

Trước cuộc thi, ban hội đồng rút thăm để từng đợi lấy thuyền, mỗi chiếc thuyền mang một số, đội nào rút trúng chiếc thuyền nào sẽ bơi bằng chiếc thuyền đó.

Sau cuộc rút thăm, các đội đua đến ban hội đồng lĩnh đĩa và số thuyền.

Để được gọn gàng trong lúc bơi, các tuyển thủ đều cởi hết quần áo, mỗi người chỉ còn bận một chiếc khố mầu, thường một đội sáu người cùng bận khố một mầu.

Các tuyển thủ bước xuống thuyền, cùng xếp hàng thuyền theo chữ nhất để chờ lệnh bắt đầu cuộc bơi qua một hồi trống.

Trong lúc ấy trên bờ đông nghẹt khách xem hội, người làng và người thiên hạ. Có người thuê thuyền riêng bơi ra giữa đầm để dự khán cuộc đua cho tường tận.

Một hồi trống ngũ liên nổi lên, điểm thêm ba tiếng sau cùng, đó là hiệu lệnh để cuộc đua bắt đầu.

Tiếng trống dứt, những chiếc thuyền chen nhau vùn vụt đi như những mũi tên lao thẳng trên mặt đầm. Có những thuyền tranh nhau, lấn nhau.

Có nhiều tay đua bị ngã xuống đầm, nhưng không sao, không bao giờ

xảy ra tai nạn. Sự tổ chức của dân làng rất chu đáo, chính những người dự bơi đều là những tay bơi lội có hạng!

Mọi chiếc thuyền đều nhắm đích, cây tre cắm ở giữa đầm; thuyền nào tới đích trước, nhổ lấy cây tre đó, mang về đình lĩnh thưởng.

Cũng có năm, ban hội đồng không cho phép được nhổ cây tre. Thuyền nào cũng phải đi vòng cây tre từ trái qua phải, quay trở lại đình. Thuyền nào về tới đình trước được sắp hạng trên, và sẽ tùy theo hạng được giải thưởng.

Những chiếc thuyền tăm tắp ra đi, vài chiếc thuyền đụng nhau, có người rớt xuống nước, nhưng những người còn lại trên thuyền không bỏ cuộc, họ cứ đều tay bơi tiếp. Theo nhịp tay của họ, đoàn thuyền sau trước phăng phăng rẽ nước ra đi. Những đầu người cúi xuống ngẩng lên theo đà tay, nhấp nhô khiến cả đoàn thuyền trông giống như một con rồng lượn.

Bơi thuyền cần phải có lối bơi đồng đội, đều tay đều nhịp, thuyền sẽ đi nhanh.

Trên bờ, khách xem hội hò reo khuyến khích.

Hội chợ Dưng bao giờ cũng vui với những cổ tục trên, lại thêm vào những trò vui mới. Vui, vui đến độ

Bỏ con, bỏ cháu,

Không ai bỏ mồng sáu chợ Dưng!

[1] Một loại lu đựng nước miệng thắt nhỏ lại

[2] Miền Nam gọi là cá chạch

[3] Gái già, luống tuổi