Hội Thị CầuPart 12
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Với các cổ tục:
Ném pháo
Thi cỗ
Thưởng tiền ca nhi hát thờ.
Thả chim thi
Hát tướng quân.
Làng Thị Cầu, tổng Đỗ Xá, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc) hàng năm mở hội vào tháng tám từ mồng bảy đến hết ngày mười sáu.
Làng thờ Thánh Tam Giang, một danh tướng đời Tiền Lý.
Làng Thị Cầu với Đình Kim
Làng Thị Cầu nằm trên quốc lộ số I, bên sông Nguyệt Đức xưa còn gọi là sông Như Nguyệt. Từ Hà Nội đi Lạng Sơn, quốc lộ đi qua tỉnh lỵ Bắc Ninh, khi tới huyện lỵ Võ Giàng là bắt đầu bước chân vào địa hạt Thị
Cầu. Quốc lộ đi xiên qua làng, leo con dốc ven ngọn đồi Đinh Sơn, tục gọi là núi ông Thiêng Bà Thiêng. Nơi đây có đền thờ hai ông bà rất linh thiêng. Đi hết dốc, con đường lần trở xuống để qua sông Như Nguyệt bằng một chiếc cầu sắt, vượt khỏi chiếc cầu sắt tới làng Nam Ngạn thuộc địa hạt tỉnh Bắc Giang (Hà Bắc). Ở bên này cầu sắt vẫn là đất Thị Cầu và dân chúng nơi đây sống thành một ấp riêng biệt, gọi là Tân Ấp. Quốc lộ
số I, tuy chạy qua Thị Cầu, nhưng thật sự chỉ đi ven bên làng. Một lối khác đi vào giữa làng, du khách khi vượt khỏi huyện lỵ Võ Giàng độ 300
thước phải rẽ theo một con đường về phía tay mặt, đường khá rộng lớn, và trước đây khi chiếc cầu sắt trên sông Như Nguyệt chưa thiết lập, con đường này chính là một đoạn đường của quốc lộ đi thẳng tới bến sông thuộc địa phận làng Đáp Cầu, trước đây thuộc làng Thị Cầu, mới thành
lập biệt xã hơn 100 năm nay. Từ chỗ rẽ này, độ 500 thước nữa là tới đình Kim, đình làng Thị Cầu và nơi đây cũng là trung tâm điểm của làng.
Đình Kim là một ngôi đình cổ đồ sộ được liệt vào hàng cổ tích, theo dân làng xây từ đời nhà Lý. Đình trông thẳng ra đường cái. Bên trái đình, là chợ Thị Cầu, một ngôi chợ to lớn rộng rãi, một tháng họp sáu phiên lớn để mua bán gia súc: trâu, bò, heo... vào các ngày 3, và ngày 8, còn ngoài ra hàng ngày chợ vẫn họp giữa dân làng và các xã lân cận.
Làng Thị Cầu nằm giữa thung lũng của hai ngọn núi Thiềm Sơn và Chu Sơn, với một dân số khá đông, không kể phụ nữ và lão ấu, làng có 1.500
xuất đinh, làng không giàu nhưng sầm uất, dân làng có nghề làm pháo, ngoài nghề nông, và phụ nữ Thị Cầu buôn bán đảm đang có tiếng. Các bà đi chợ nuôi chồng, sự đảm của gái Thị Cầu được nhắc nhở qua mấy câu ca dao:
Em là con gái Thị Cầu,
Em đi bán chỉ ở đầu đinh Kim.
Trai Đáp Cầu đi thầu nuôi vơ,
Gái Thị Cầu đi chợ nuôi chồng.
Đã đảm đang, con gái Thị Cầu lại xinh đẹp duyên dáng, khi các cô đi chợ ở các làng bên, nhiều chàng trai thường say mê các cô, có khi đến tương tư:
Thị Cầu có quả cau đầu,
Ném sang Cồ Mễ ốm đau cả làng
Quả cau đầu đây là cô gái mới lớn, cô đi buôn bán qua làng Cổ Mễ, cách đó chừng 2 cây số, tất cả trai làng này đã say mê đến tương tư.
Thần tích
Đức Thánh Tam Giang tên thật là Trương Hát, một tướng tài, em của tướng Trương Hống, đời Tín Lý. Khi Triệu Việt Vương tiếp theo sự
nghiệp của Tiền Lý Nam Đế chống quân Tàu, Trương Hống và em là Trương Hát cùng đi theo và đã lập được nhiều công trạng trong việc đánh đuổi quân giặc. Sau này, Lý Phật Tử phản ước đánh thắng Triệu Việt Vương, anh em họ Trương không ai chịu ra giúp Phật Tử, bỏ trốn vào núi Phù Long. Lý Phật Tử, lúc đó là Hậu Lý Nam Đế vời hai ông không được liền tìm cách sát hại. Hai ông đều uống thuốc độc tự tử.
Về sau, Nam tấn Vương Ngô Xương Văn sắc phong cho cả hai anh em: Trương Hống tước Đại Đương Giang đô hộ quốc thần vương và sai lập đền thờ ở cửa sông Như Nguyệt, Trương Hát tước Tiểu Dương Giang đô hộ quốc thần vương và sai lập đền thờ ở cửa sông Nam quận, tức là sông Thương ngày nay, và đền thờ này ở làng Phượng Nhỡn, huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang.
Hai ông quê ở xã Vân Mẫu, tổng Vân Mẫu, huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh. Sở dĩ dân làng dùng danh từ Thánh Tam Giang vì đền thờ chính của Trương Hát ở xã Phượng Nhỡn, huyện Phượng Nhỡn tỉnh Bắc Giang, tại cửa sông Tam Giang (sông Thương).
Tại miền Bắc, rất nhiều làng thờ hai vị này, trong số đó có làng Thị Cầu thờ Tiểu Dương Giang ở bên này sông và ở bên kia sông, đối diện với Tân ấp của làng Thị Cầu, làng Nam Ngạn, thờ Đại Dương Giang.
Danh từ Đức Thánh Tam Giang thường dùng để chỉ cả hai vị, và Tam Giang đây là ba con sông Thương, sông Cầu (Như Nguyệt) và sông Đuống, hai vị được coi là thần của cả ba con sông này.
Làng Thị Cầu và làng Nam Ngạn thờ hai anh em Đại Tiểu Dương Giang nên hai làng có tục giao hiếu với nhau, trong những kỳ hội hè, làng nọ
phải rước sang làng kia.
Thời gian mở hội và các cổ tục
Làng Thị Cầu mở hội từ ngày mồng 7 tháng Tám bắt đầu bằng cuộc rước nước. Ngày hôm nay làng làm lễ cáo yết, rồi rước nước cử hành, nước lấy ở sông Như Nguyệt, và ngày hôm đó, vào buổi chầu là lễ mộc dục.
Lễ mộc dục cử hành ở đền Sim, xây ở lưng chừng núi Thiềm, mặt đen quay về hướng Tây. Đền Sim mới chính là nơi thần linh bằng y an ngự, còn đền Kim chỉ là nơi thờ vọng.[1]
Lễ mộc dục, tế gia quan thực hiện ở đền Sim. Ngày mồng 8 tháng Tám, dân làng rước thần vê đình Kim và ở đây mọi cuộc tế lễ theo nghi thức được cử hành trong suốt thời gian mở hội.
Ngày mồng mười dân làng rước thần tới yết Phật ở chùa Điều, nơi đầu làng. Thần vị lưu lại chùa một đêm nghe kinh và sáng ngày 11, dân làng lại rước thần trở lại đình Kim.
Trong khi làng Thị Cầu mở hội, làng Nam Ngạn bên kia sông cũng mở
hội. Trong thời gian này, do ước định trước, ban hội đồng làng Nam Ngạn có sang lễ thần ở làng Thị Cầu, có năm có đám rước từ làng Nam Ngạn sang Thị Cầu, và trái lại cũng có năm, làng Thị Cầu rước thần sang làng Nam Ngạn.
Rước sách tế lễ với những trò vui cổ truyền cho đến hết đêm 16 tháng Tám.
Ca nhi hát thờ và lệ thưởng tiền
Kể từ ngày mồng tám, Thần linh ngự tại đình làng dân làng cắt cử một số
các quan viên luôn luôn túc trực tại đình để trông nom việc phụng tự.
Suốt trong những đêm này dân làng mời ca nhi hát thờ thần. Ca nhi hát, dân làng đã có tiền thù lao, nhưng ngoài món tiền thù lao này, làng còn lệ
thưởng tiền cho quản giáp và các đào nương.
Trong khi ca nhi hát thờ, các bậc đàn anh trong làng luân phiên cầm trống chầu, thường hát thờ là hát ả đào. Lệ thưởng tiền quản giáp và các đào nương là một lệ đặc biệt và cũng rất vui. Lệ này không phải đêm nào
cũng có, thường dân làng chỉ tổ chức một hai đêm, nhất là đêm hôm rã đám.
Đêm nào hát thần có lệ thưởng tiền, đình làng có vẻ tưng bừng nhộn nhịp hơn mọi đêm khác, đèn nến sáng trưng trên bàn thờ và hai bên sân đình.
Bọn ả đào ngồi hát ở dưới chiếu, trước bệ thờ. Hai bên là các cụ và các quan viên trong làng. Phía đằng sau là dân làng đứng nghe hát, có rất nhiều thanh thiếu nữ trong làng.
Mỗi lần ca nhi hát một đoạn, dân làng lại cắt cử một chàng trai thuộc hạng thập bát thưởng tiền. Tiền của dân, chàng trai phải thưởng tiền dõng dạc qua những điều ước định trước.
Chàng trai phải bước xuống chiếu hát, tay cầm tiền của làng, gọi từ quản giáp tới các đào nương, mỗi lần gọi phải chờ tiếng dạ, lời gọi phải đường hoàng gẫy gọn, không ấp úng, không sai lầm, không lặp đi lắp lại.
Đào nương kia ơi!
Dạ!
Quản giáp kia ơi!
Dạ!
Trước xướng thờ đức Thượng đấng tối linh, sau tiền dân anh thưởng nhé!
Dạ!
Chỉ có mấy lời dễ dàng như vậy, nhưng các chàng trai thường không gọi lầm thì nói nhịu, không nói nhịu thì bỏ sót. Chàng trai trong khi gọi thưởng tiền phải nghiêm chỉnh không được cười và trước khi ném tiền thưởng xuống chiếc mâm thau dưới chiếu, chàng phải chờ tiếng ''dạ''
cuối cùng.
Trước số đông dân làng, trong số đó có cả các cô thiếu nữ trẻ tươi xinh đẹp đang chăm chú nhìn theo từng cử chỉ nghe từng tiếng gọi, chàng trai tránh sao khỏi thẹn thùng ngượng nghịu! Ấy là chưa nói tới một đôi cô ranh mãnh thường chọc ghẹo các chàng, khiến các chàng hoặc mặt nóng ran, đỏ dừ hoặc bật cười mất vẻ nghiêm trang. Có nhiều chàng lúng túng quên cả câu nói, ném vội số tiền làng thưởng cho ca nhi rồi rút lui!
Nhưng đâu có được! Những ai lầm lẫn trong câu nói mất nghiêm chỉnh đều phải làm lại việc thưởng tiền, và những lần làm lại, các chàng phải tự bỏ tiền túi ra!
Mỗi chàng trai lầm lộn lại tạo những tràng cười cho dân làng, nhất là cho các cô thôn nữ, và những lần làm lại, các chàng càng mất bình tĩnh, các cô càng có những câu nói ghẹo khiến các chàng thẹn thêm. Tiếng cười vang động trong đình, thật là vui!
Cuộc vui kéo dài cho tới khuya.
Thi cỗ
Cuộc thi cỗ được tổ chức vào đêm hôm rã đám. Làng Thị Cầu có bốn giáp: Giáp Đông, Giáp Bắc, giáp Giữa, giáp Già. Con trai các giáp từ 18
đến 20 tuổi được cử đi rước thần, và chính những thanh niên này được phép dự cuộc, thi cỗ ngày rã hội.
Thi cỗ là của trai thanh tân, nhưng làm cỗ lại là công việc của các thanh nữ trong làng. Đây là một cách khuyến khích gái làng trong việc bếp núc. Cô gái nào có anh, em hoặc đôi khi các chú trong gia đình dự thi cỗ, đều phải lo tới mâm cỗ thi. Qua các mâm cỗ này, các bà mẹ trong làng thường kén chọn con dâu.
Việc chấm cỗ do một hội đồng dân làng cử ra, thường gồm ông Tiên chỉ
làng, các ông thủ chỉ giáp và một số các bô lão quan viên.
Chấm các mâm cỗ, hội đồng chú ý tới sự tinh khiết sạch sẽ, hội đồng cũng chú ý tới các món ăn trên mỗi mâm cỗ.
Có nhiều món ngon chưa đủ, các thiếu nữ cần phải biết cách biến chế, nghĩa là phải có sáng kiến, để với những thổ sản trong vùng tạo nên những món ăn hấp dẫn, có thể qua hình thức là lạ, qua mùi vị là lạ, nhưng chất món ăn vẫn chỉ là những đồ ăn thường dùng. Hội đồng cũng chú ý tới cách trình bày mâm cỗ cho có mỹ thuật và có những hình ảnh độc đáo. Thí dụ mâm cỗ dùng đồ ăn tráng miệng là bưởi, thiếu nữ làm cỗ
có thể kết bằng tôm bưởi lộn ngược thành một con kỳ lân đứng sừng sững ở góc mâm cỗ như để canh chừng. Con kỳ lân có thể có đôi mắt gắn bằng đôi hạt sen già và có một bộ lông rất đẹp kết bằng những múi bưởi đào hồng nhạt, bên những múi bưởi trắng trong xanh.
Cuộc chấm cỗ bắt đầu sau lễ cúng thần buổi tối. Quang cảnh làng thật tưng bừng nhộn nhịp. Trai thanh tân dự cuộc thi cỗ cho người nhà gánh cỗ ra từ lúc trời còn sớm, những mâm cỗ giáp này xếp riêng ra giáp đó.
Đèn nến trong đình sáng trưng, những mâm cỗ nhìn thật đều thật đẹp.
Bên cạnh những mâm cỗ cầu kỳ, có những mâm cỗ giản dị, nhưng qua cái giản dị, người ta vẫn thấy cái khéo léo của cô gái lo lắng cho mâm cỗ. Mâm nào mâm nấy đều tinh khiết sạch sẽ.
Cỗ chấm riêng cho từng giáp và cũng sắp hạng cho từng giáp.
Khi ban hội đồng đi chấm cỗ, những chàng trai thi cỗ cũng đi theo, và có thể nói được rằng, cả các cô gái làm cỗ cũng có mặt lẫn lộn trong đám đông, và các cô đang chăm chú nghe lời bàn tán của hội đồng chấm cỗ
về mâm cỗ của mình.
Sau khi đi qua, xem xét hết các mâm cỗ của bốn giáp, hội đồng mới họp bàn và tuyên bố giải nhất của mỗi giáp.
Tục thi cỗ đối với dân làng đôi khi là một sự tốn kém cho nhiều gia đình muốn làm những mâm cỗ sang với những món ăn đắt tiền, nhưng sự tốn kém không phải của tất cả những gia đình có con trai dự thi cỗ. Nếu những gia đình phong phú, nhân dịp này khoe giàu với dân làng, thì những gia đình khác chỉ thấy đây là một dịp để các con em cố gắng trong việc bếp núc, tự tạo lấy những món ăn mới qua sáng kiến riêng. Cách
bày biện mâm cỗ, cách trang trí cho mâm cỗ cũng đã chứng tỏ sự khéo léo của nhiêu thiếu nữ trong làng, và nhiều bà mẹ đã kén được nàng dâu ngoan ngoãn qua các mâm cỗ.
Ném pháo
Làng có nghề làm pháo, mỗi năm Tết đến, dân làng đua nhau đốt pháo, và những ngày hội làng cũng là dịp đốt pháo, pháo đốt trong những lúc tế lễ rước sách. Đặc biệt nhất là tục ném pháo của dân làng. Ném pháo ở
đây không phải trai gái đốt pháo ném lẫn nhau như ở nhiều hội xuân các nơi khác. Đây là một lối chơi cần sự khéo léo và kiên nhẫn của những người dự cuộc.
Hàng năm cuộc ném pháo được tổ chức hai dịp, vào mồng ba tháng Giêng và 16 tháng Tám âm lịch.
Cuộc vui ném pháo, thường được toàn thể thanh niên và cả những đàn ông đứng tuổi trong làng tham dự, tổ chức ngay trước cửa đình phía ngoài Tam quan, trên sân gạch nhỏ trước Tam quan.
Một quả pháo đại to bằng một gióng tre treo lơ lửng trên một cột cờ tại đây. Pháo áo hồng điều còn được trang điểm thêm bằng giấy màu ngũ
sắc rực rỡ và giấy trang kim vàng óng ánh. Quả pháo lớn, ngòi pháo cũng lớn. Đây là một chiếc ngòi tết ba, nghĩa là tết bằng ba chiếc ngòi nhỏ.
Quả pháo đại treo đó, cả làng cùng có quyền đốt. Ai đốt được quả pháo này được dân làng hoan hô và hội đồng làng còn đến mừng một bánh pháo toàn hồng, nhưng đốt pháo không phải cầm lửa châm lên ngòi pháo, phải dùng pháo nhỏ, đốt rồi ném lên pháo lớn, ném làm sao để khi pháo nhỏ nổ, lửa ở thuốc pháo hoặc ở xác pháo nhỏ sẽ bắt sang ngòi pháo lớn. Có thể nói đây là một sự rất khó khăn, ném pháo nhỏ trúng pháo lớn đã là khó, ném làm sao để pháo nhỏ nổ khi đụng vào pháo lớn lại càng khó hơn, và khó hơn nữa là ném làm sao cho pháo nhỏ nổ lại khiến lửa bắt sang ngòi pháo lớn.
Chiếc pháo lớn này hàng năm vào mỗi kỳ hội, dân làng đặt làm tại một nhà làm pháo. Chiếc pháo được dâng thờ trước khi đốt. Làm chiếc pháo thờ rất công phu. Thân pháo phải cuốn thật chặt, hai đầu pháo ghim thật kỹ. Lòng pháo to, thuốc đựng nhiều, nếu người làm pháo không cẩn thận, lúc nổ đáng lẽ xác pháo tan vỡ như bươm bướm rơi xuống sân đình, pháo sẽ bật đầu hay vỡ bụng, xác pháo sẽ không tan. Lại phải pha thuốc, lựa loại giấy cuốn pháo để khi nổ pháo không bén xác, nghĩa là lửa không bắt vào những mảnh xác pháo.
Dùng làm thuốc pháo, dân làng Thị Cầu thường dùng ba chất: diêm vàng tức là diêm sinh, diêm trắng tức là tiêu thạch (Salpêtre) và than củi.
Người làm pháo phải pha thuốc cho khéo để pháo nổ kêu tiếng vang ròn.
Đấy là nói về chiếc pháo thờ. Còn những chiếc pháo dùng để ném đốt chiếc pháo thờ thường được các nhà làm pháo chế tạo riêng. Họ dùng thứ giấy bắt lửa để pháo được bén xác khi nổ, có như vậy lửa ở xác pháo nhỏ mới có thể bắt vào ngòi pháo thờ, và ngay cả thuốc pháo cũng được pha theo một tỷ lệ để làm cho lửa bén sang xác pháo.
Về dịp hội tháng Tám, hôm 16, trước khi đốt pháo có một buổi tế thần.
Tế xong, để khai cuộc, một tràng pháo toàn hồng được đốt trước. Kế đó ông Tiên chỉ hoặc một vị bô lão trong làng mở đầu cuộc ném pháo. Vị
này đốt quả pháo tung lên chiếc pháo thờ.
Sau đó, dân làng tha hồ đốt pháo, ai có sức cứ đốt và cứ tự do ném pháo của mình lên chiếc pháo thờ, ném cho đến khi chiếc pháo này nổ.
Tiếng pháo nối tiếp tiếng pháo. Ai ném quả pháo của mình lên cũng hy vọng đốt được quả pháo thờ. Nhiều người trong lúc ném pháo vô ý đã bị
pháo nổ ngay trong lòng bàn tay, bàn tay nhám đen như thuốc pháo.
Cuộc ném pháo kéo dài đến quá trưa, nếu không ai đốt được quả pháo thờ, dân làng sẽ cử người bắc thang châm lửa đốt. Cuộc vui lúc đó mới tàn.
Hát trống quân
Nhân dịp hội làng, tối tối tại các xóm trong làng, nam nữ thanh niên có lập nên những đám hát trống quân.
Hát trống quân không do làng tổ chức, các nam nữ thanh niên, nhân dịp hội làng, muốn mua vui và tranh tài với nhau, họ tự lập nên tại khắp các xóm trong làng. Và mỗi năm chỉ về dịp Trung Thu, nhân lúc hội làng, những đám hát trống quân mới được lập nên.
Thả chim thi
Đây là thả những đàn chim bồ câu, mỗi đàn 10 con[2].
Những đàn chim này được nhốt trong những chiếc lồng không đáy, đáy là một mâm gỗ tròn, đặt lồng chim vào vừa khít. Làng Thị Cầu tổ chức Thả Chim Thi ở bãi đất bên cạnh chùa Điều còn gợi là chùa Ngoài ở đầu làng và phía Nam. Cuộc thi không phải tổ chức riêng cho dân làng mà cho tất cả các tay chơi chim trong vùng.
Trước cuộc thi, luôn luôn có tiếng trống liên hồi, tiếng trống báo hiệu cho những tay chơi chim biết, và khi những đàn chim đã thả ra, tiếng trống làm cho chim sợ hãi phải bay lên cao.
Khi cuộc thi bắt đầu, mỗi đàn chim đều được ban Hội đồng chấm giải cấp cho một số, đàn chim số 9, đàn chim số 11 v.v…
Lần lượt theo số của mình, những đàn chim được thả ra. Chủ mỗi đàn chim, mở nâng lồng chim của mình một cách khéo léo để cả đàn chim bay vụt lên cao một lúc.
Hội đồng chấm giải phải theo dõi từng đàn chim, tránh sự lầm lộn đàn chim của người này vào người khác. Không phải họ ngửa cổ lên trời nhìn theo từng đàn chim. Họ dùng một mâm thau hoặc một chậu thau đồng lớn đựng nước. Họ theo dõi những đàn chim qua bóng mỗi đàn trong mâm thau hoặc chậu thau nước. Với kinh nghiệm đã quen, không bao giờ có sự lầm lẫn, và chủ nhân các đàn chim rất tin tưởng ở nơi Hội đồng tuy mỗi người vẫn theo dõi riêng đàn chim của mình.
Muốn được giải đàn chim phải bay bổng và phải gọn đàn, lúc lượn bay lên bay thành từng vòng đều.
Trong lúc thả chim, tiếng trống liên hồi như thúc giục để các đàn chim càng bay cao hơn.
Một cuộc thi thả chim có ba giải dành cho ba đàn chim bay cao và đẹp nhất.
Trước đây, trong các ngày hội mùa Thu vùng Bắc Ninh, Bắc Giang (Hà Bắc) thường có tục thả chim thi. Cho đến thời Pháp thuộc, vào năm 1930-1931, có những người Pháp cứ nhè những đàn chim thi này bắn lên, từ đó tục thả chim thi mất dần.
Trên đây là những cổ tục chính thường xuất hiện trong dịp hội tháng Tám của làng Thị Cầu, ngoài ra cũng có năm, gặp những kỳ làm ăn thịnh vượng, còn các trò vui khác được tổ chức như Chơi gà, Tổ tôm điếm, Hát tuồng cổ, Hát chèo, hát quan họ v.v...
Về chọi gà, làng này thường tổ chức vào ngày mồng ba tháng Giêng. Hát tuồng cổ được tổ chức cả trong dịp xuân lẫn dịp thu, trong làng có một ban tuồng cổ riêng. Hát chèo, xưa kia thì có, nhưng kể từ năm 1925 trở
về sau, trong làng có ban trung cổ, khi hội hè, ngoài việc mời ca nhi hát thờ trong đình, hát tuồng cổ được tổ chức ở sân hậu đình cho dân làng mua vui. Hát quan họ do trai làng mời các đám quan họ nữ tới hát để
mừng thần linh (Xem trong bài Hội Lim).
Làng Thị Cầu, ngoài hội làng tổ chức vào dịp tháng Tám để kỷ niệm thần linh, hàng năm vào các ngày mồng 9 và 20 tháng Giêng, hai chùa trong làng, chùa Cao còn gọi là chùa trong ở chân núi Thiêm và chùa Điều còn gọi là chùa Ngoài có cúng lễ sư tổ. Trong những dịp này, trai gái các làng lân cận tới lễ Phật và gặp nhau họ mời nhau Hát quan họ để
vui xuân. Làng Thị Cầu chỉ có quan họ Nam, không có quan họ Nữ, nhưng không vì vậy mà tục hát quan họ kém hoạt động ở đây.
[1] Nơi đây mọc rất nhiều sim.
[2] Xin xem PHONG TỤC VIỆT NAM của soạn giả, Khai Trí xuất bản 1969 để biết chi tiết về lối chơi này, nhất là những danh từ để chỉ những động tác của đàn chim, những kiểu bay lúc vọt lên.