NHỮNG GIA ĐÌNH THỢ THÊU XÃ HƯỚNGPart 8

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

DƯƠNG

Xe lửa chạy đuờng Hà Nội Nam Định khi đi khỏi ga Thường Tín một quãng thường đậu tại một ga xép, ga Kiều Thụy. Từ ga này đi vào phía tay trái, trên một con đường liên xã, độ hơn một nghìn thước, du khách sẽ tới một làng nhỏ xinh xinh, ở ngay sát bên đường. Ấy là làng Hướng Dương, thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông.

Hướng Dương là một làng rất bé, dân cư thưa thớt. Cả làng chỉ

gồm có hai xóm: xóm Đình, và xóm Chùa, và chỉ có độ hơn một trăm nóc nhà, vừa nhà ngói lẫn nhà tranh.

Cũng như trăm nghìn làng khác ở đồng quê miền Bắc, chung quanh Hướng Dương có một lũy tre xanh bao bọc.

Xã này hơi khác các xã khác ở chỗ đình làng ở ngoài lũy tre xanh, ngay lối vào cổng làng, chỗ nẻo đường rẽ của hai xóm. Trước cửa đình

là một sân gạch to rộng, rồi đến một cái giếng lớn, không có bờ, hình tròn. Ở giữa giếng nổi lên một cồn đất cũng hình tròn, và ở trung tâm cồn đất, có một cây hoàng lan, với mùi hương sực nức lan tới khắp làng, khi hoàng hôn xuống cũng như buổi bình minh lên.

Người ta bảo đấy là một cuộn chỉ và chiếc kim thêu, và hương hoàng lan tượng trưng cho cái gì có màu sắc, đẹp đẽ, mỹ thuật có thể

khiến cho người ta say mê như khi người ta ưa thích cái hương thơm của hoa hoàng lan thoang thoảng trong gió sớm vậy.

Không hiểu lời nói trên căn cứ vào phong thủy, có từ bao giờ, từ

trước khi dân làng Hướng Dương có nghề thêu, hay vì tại làng này có nghề thêu, nên người ta dựa vào phong thủy mà giải thích như vậy?

Dù sao có điều không ai chối cãi được là dân làng Hướng Dương hầu hết biết nghề thêu, và họ đều là những người thợ thêu có tài và có tiếng.

Chung quanh Hướng Dương, nhiều làng khác cũng có nghề thêu như làng Đào Xá ở ngay sát nách với Hướng Dương, làng Tam Sơn, ở

phía trước mặt, làng Quất Động ở mé trên v.v... nhưng chỉ nghề thêu của làng Hướng Dương là nổi tiếng.

Những du khách, ai đã đi qua Quốc lộ số 1, tất phải lưu ý tới ngay bên đường cái một tấm biển viết bằng chữ Pháp lập nên từ hồi Pháp thuộc, có mấy hàng chữ: Làng Hướng Dương đồ thêu mỹ thuật.

Đồ thêu của làng Hướng Dương sản xuất quả thật là mỹ thuật. Các nhà xuất cảng đã gửi nhiều đi ngoại quốc, và chính ngay ở các hiệu thêu lớn nhất phố hàng Trống, phố hàng Quạt Hà Nội, phần lớn những đồ bày bán đều sản xuất tại Hướng Dương.

Nghề thêu là một thủ công nghệ mỹ thuật gia đình. Nhà nhà tại Hướng Dương đều có khung thêu, và trai gái trong làng hơi lớn tuổi một chút đều học nghề thêu, cả thêu trắng lẫn thêu màu.

Và đến khi nên chồng nên vợ, nghiễm nhiên họ thành những cặp vợ chồng thợ thêu. Đôi bên góp tài góp sức để cùng tạo nên những bức thêu rất đẹp đẽ mỹ thuật đã mang lại danh tiếng cho xã Hướng Dương.

Chồng vẽ kiểu, vợ thêu, hoặc có khi chồng vẽ kiểu, vợ góp ý kiến thay đi đổi lại, rồi hai vạ chồng cùng thêu, chồng thêu một đầu khung, vợ một đầu khung. Tác phẩm hoàn thành tất nhiên phải đẹp, vì thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn huống chi là xây dựng nên một bức thêu.

Bức thêu xong, vợ chồng cùng ngắm, rồi họ cùng khen đẹp giữa những luồng sóng đằm thắm, giữa những nụ cười đầy âu yếm. Chồng khen mũi kim của vợ tinh vi, vợ khen mũi kim của chồng linh hoạt.

Màu sắc của chỉ ăn nhịp với nhau đã tạo nên những cảnh rất nên thơ, trông như những bức họa, có khi là một phong cảnh sơn thủy có đủ

mây nước núi trời, có khi là một cảnh sinh hoạt đồng quê với ruộng lúa, với con trâu cày với đàn chim bay lơ lửng, có khi là một sự tích cổ

xưa như Trọng Thủy Mỵ Châu, hoặc Trưng Vương đuổi quân Tô Định, có khi lại là hình một nhân vật như đức Phật, đức Khổng Tử hoặc một danh nhân khác.

Ngắm bức thêu lòng họ hân hoan sung sướng, cùng nhau nghĩ

đến công trình của hai vợ chồng đã chung sức chung tài tạo nên.

Một bức thêu xong, họ bắt đầu bức thêu khác, có khi theo những mẫu đồ điển đã sẵn có, có khi theo một mẫu mới thích hợp với sự ưa chuộng của mọi người. Hai vợ chồng cùng giở quyển mẫu in sẵn, cùng nhau góp ý kiến để chọn một bức thêu cho có giá.

-

Em thấy bức tranh thủy mạc này đẹp, thêu lên chắc nhiều khách hàng phải mua.

-

Ý kiến của mình cũng giống của anh, nhưng hôm nọ ông chủ

hiệu thêu có ý muốn mua một bức thêu đàn voi kéo gỗ.

-

Ồ nếu thế thì chúng ta thêu bức tranh Đàn voi kéo gỗ trước rồi sau chúng ta làm đến bức tranh thủy mạc này.

Họ đồng ý rồi lại khởi công thêu một bức mới, hai vợ chồng lại chia nhau từng mẫu tranh, để lại cùng cúi đầu vào nhau, chăm chú từng đường kim mũi chỉ, cố làm sao đặt hết cả tinh thần vào bức thêu. Vừa thêu, họ cùng nhau trò chuyện trông thật là một đôi uyên ương với tất cả những lạc thú của yêu đuơng.

Hàng tháng hai lần họ mang hàng lên Hà Nội bán tại các cửa hàng thêu, để mua chỉ và vải. Cũng có khi hai vợ chồng cùng đi để nhân thể

vui chơi vài ngày ở đất ngàn năm văn vật để sắm đôi thứ cần dùng hoặc đánh đôi khuyên chiếc nhẫn vàng làm của để dành, nhưng thường vợ vẫn ở lại nhà để làm nốt bức thêu dở, hay chăm lo công việc khác.

Người chồng đi Hà Nội bán xong hàng, mua xong vải và chỉ thì tính ngay đường về. Thì giờ là vàng ngọc, chàng ta không muốn lãng phí: còn biết bao nhiêu công việc đang đợi chờ chàng ở chốn quê.

Tuy nhiên bao giờ chàng cũng mua cái gì về làm quà chơ vợ con. Có khi là chiếc khăn vuông len để vợ quàng trong vụ rét. Có khi là chiếc mũ để con đội đi học. Cũng có khi là thực phẩm, tùy theo từng mùa xuất hiện ở Hà Nội: tháng Tám là cốm Vòng, tháng Chín là hồng Lạng Sơn, tháng Mười là bưởi Đoan Hùng.

Chàng sung sướng mang quà về cho vợ con, cũng như vợ ở nhà sung sướng đón chồng về với một mâm cơm thịnh soạn hôm ngày thường. Hôm nay họ sẽ thổi cơm trắng gạo dự[3] chứ không ăn cơm gạo thông[4] đỏ quạnh như mọi bữa. Thức ăn hôm đó phải có món người chồng xưa nay ưa thích, món ăn đó không cứ là cao lương mỹ

vị. Có thể là đĩa cá bống kho khô với nõn khoai, có thể là đĩa thịt lợn rim mua tại chợ Tó, thịt lợn chợ Tó có tiếng là ngon, đã đuợc truyền tụng vào câu tục ngữ: Gà Tò, lợn Tó... và chợ Tó cũng không cách xa xã Hướng Dương là mấy.

[3 - 4] Tên hai thứ gạo ở miền Bắc

Những hôm chàng đi Hà Nội về, nàng ở nhà cố thu xếp công việc cho xong sớm để ra ga Kiều Thụy đón chuyến tầu hoặc chuyến ô tô chở chồng về.

Lúc tầu đến ga, hay ô tô tới trạm, chồng ở trên xe bước xuống, khệ

nệ tay xách tay mang, nào gói vải, nào gói chỉ, nào bánh của con, nào quà của vợ. Thấy vợ, chàng tươi cuời, và nàng vội vã đỡ tay cho chồng, rồi đôi người cùng nhau song song đi về làng vừa đi vừa hỏi han nhau như tưởng chừng họ xa cách nhau hàng mấy tháng rồi. Chồng hỏi vợ

về công việc nhà, về con cái, vợ hỏi chồng về chuyện Hà Nội về việc bán hàng và mua vải chỉ. Vợ khoe chồng sự ngoan ngoãn của lũ con cũng như việc nàng đã hoàn thành bức thêu dở, chồng khoe vợ về giá cao của những bức thêu đã bán được, về một vài màu chỉ đẹp và nhã chàng mua chuyến này, về các món hàng các hiệu thêu Hà Nội đặt làm và về cả chuyện Hà Nội nữa.

Mỗi lần ra Hà Nội bán hàng, những người thợ thêu thường rủ nhau năm bảy người cùng đi, nên khi ở xe lửa hoặc ở ô tô xuống, năm bảy người đó lại cùng về, thì trên con đường liên xã Kiều Thụy Hướng Dương lại có năm bảy cặp vợ chồng cùng đi cùng trò chuyện với nhau.

Cũng có lúc cặp vợ chồng này hỏi thăm cặp kia về hàng hóa hoặc về

công việc đồng ruộng. Con đường xưa nay vắng vẻ nhất là sau buổi hoàng hôn, bỗng nhiên nhộn nhịp tiếng cười xen lẫn tiếng nói. Đôi khi lại có lẫn cả tiếng trẻ bi bô, những đứa trẻ này theo mẹ ra đợi cha để đón quà.

Thấm thoắt con đường không xa, bóng cây hoàng lan mọc ở giếng làng đã nổi đen trên nền trời mờ tối và một mùi hương dịu dịu đang tỏa theo gió nhẹ buổi hoàng hôn.

Đến đầu làng, bọn họ chia tay ai về nhà nấy, rẽ theo hai lối xóm.

Tới nhà, đặt các bọc vải, chỉ, quà bánh xuống giường người vợ vội vàng vào ngay bếp để hâm lại mấy món ăn, và trong khi đó thì người chồng cũng mở các gói để lấy quà cho con, hoặc bày ra đĩa các hoa quả bánh trái mua từ Hà Nội, để lát nữa cơm nước xong, cả nhà sẽ

cùng ăn tráng miệng.

Mâm cơm dọn ra, khói bốc nghi ngút, mùi xào nấu tỏa lên ngào ngạt. Trong mái nhà tranh, dưới ngọn đèn dầu le lói, vợ chồng con cái họ quây quần ăn uống đầm ấm lắm. Vợ gắp cho chồng những miếng ngon, chồng khen vợ tài bếp núc khéo léo. Hai vợ chồng giục nhau ăn, và cùng gắp thức ăn cho đứa con nhỏ.

Đến lúc tráng miệng vợ lại khen chồng chọn được thứ bánh khéo, hoa quả tươi, và chồng lại ép vợ ăn thêm một quả hồng, hoặc miếng bánh ngọt.

Cơm nước dọn dẹp xong, chồng lấy vải và chỉ ra khoe vợ. Chàng đưa cho vợ xem mấy màu chỉ đặc biệt chàng mới mua lần này. Chàng nói:

-

Màu hoa cà này thêu với màu tím sẫm nổi lắm.

-

Màu xanh nhạt này dùng làm nền trời cho những bức thêu sơn thủy thì tuyệt.

Vợ cũng đồng ý với chồng và chồng lần lượt đưa hết màu chỉ này đến màu chỉ khác cho vợ xem, họ bàn nhau đến những bức thêu sẽ

thực hiện.

Cũng có những cặp vợ chồng còn bố mẹ già, thì mỗi lần đi Hà Nội về, người con bao giờ cũng dành một món quà kính biếu bố mẹ, thì trong bữa ăn thịnh soạn của những buổi đi về này, hai vợ chồng còn thi nhau gắp những miếng ngon mời bố mẹ xơi.

Lễ giáo của phương Đông lấy hiếu làm trọng, và trong chữ hiếu, việc kính mến phụng dưỡng cha mẹ là cần thiết. Những ông bà già thấy vợ chồng con hòa thuận quý mến nhau lại hiếu thảo với mình cũng lấy làm vui. Tấm lòng già cũng thấy nhẹ nhàng trước cái lạc thú của đại gia đình.

Ngày hôm sau, họ lại bắt đầu vào công việc hàng ngày, nghĩa là họ

lại chăm chú đến việc thêu. Lại chọn mẫu lại hai vợ chồng cúi đầu cùng nhau cặm cụi trên khung, mũi kim đưa lên, mai đưa xuống, dần dần những bức thêu lại được hoàn thành, và chẳng mấy chốc lại tới kỳ phải mang hàng đi Hà Nội bán, cùng với các bạn thợ thêu khác.

Cũng có nhiều lần, họ được tiếp khách đến tận nhà đặt hàng. Có thể đó là những người ngoại quốc muốn đặt một bức thêu đặc biệt để gửi làm quà về nước mình, có thể đó là một người Việt muốn thửa một bức thêu để tặng ai, có thể đó là một người buôn đồ thêu, đến mua đồ thêu rồi đi rao bán tại các khách sạn lớn, hoặc tại các khu có nhiều người ngoại quốc cư ngụ.

Những lần có khách như vậy công việc của họ lại bận rộn lên đôi chút, nhưng cũng khiến cho quỹ gia đình của họ dồi dào hơn. Ấy là những dịp để họ có thể may thêm cho con được manh áo mới, cho chồng chiếc áo dài để mặc trong những buổi việc làng, hoặc sắm cho vợ chiếc thắt lưng sồi se, hay đôi giải yếm lụa mỡ gà để vận trong những khi hội hè đình đám và những khi đi ăn giỗ, ăn cuới.

Tuy việc làm quanh năm, nhưng thực sự những gia đình thợ thêu xã Hướng Dương rất ít người được sung túc. Hàng họ làm ra phải bán ngay để lấy vốn làm lớp hàng sau. Các hiệu buôn tuy bán các đồ thêu được giá cao, nhưng họ buôn của những người sản xuất với giá rất hạ, chỉ để đủ cho những người này một chút lời như trả công thêu vậy. Trừ những khi có khách đến nhà đặt hàng với giá cả khả quan, những người thợ thêu thường khi mang hàng lên Hà Nội là phải bán, tuy biết rằng hàng của mình có giá mà vẫn bị trả rẻ.

Lại có nhiều gia đình thợ thêu không có vốn, phải lấy tiền đặt trước hoặc phải đi vay lãi để mua chỉ mua vải. Như vậy họ càng bị thiệt thòi hơn, nhưng họ cũng vẫn vui vẻ với công việc của mình. Họ nghĩ dù có thiệt thòi thật, nhưng vợ chồng con cái họ có công việc làm trong những ngày nghỉ công việc đồng áng, và có làm là có ăn.

Làng Hướng Dương ở một cánh đồng cao, hàng năm chỉ cấy có vụ

lúa mùa, còn về vụ lúa chiêm, ở đây người ta trồng màu như ngô, khoai, đậu.

Mặc dầu làng có nghề thêu, nhưng căn bản của dân quê là nghề

nông, nên song song với nghề thêu dân làng này vẫn làm ruộng.

Các cô thợ thêu vẫn phải đi tát nước làm cỏ, vẫn phải đi xới đất rỡ

khoai, và các chàng trai tuy có hoa tay vẽ kiểu thêu, nhưng vẫn sử

dụng bàn tay để đắp bờ, khơi nước, để bừa đất, đào mương.

Trong những ngày bận việc đồng áng, họ nghỉ việc thêu.

Với hai công việc khác nhau, họ sống giữa hai khung cảnh khác biệt, nếu lúc thêu, họ ở trong nhà với bầu không khí thân mật của gia đình, thì khi làm đồng lại được gần gũi thiên nhiên hơn: đồng mông, gió mát, trời cao với muôn sắc mây vần vụ, với hương thơm của sương sớm, với nước róc rách chảy bên mương. Nếu trong lúc thêu, họ cùng nhau nhỏ nhẻ những câu chuyện êm ái thân mật, thì ở ngoài đồng họ

ca hát, họ cười đùa cùng chúng bạn làm đồng.

Công việc làm đồng tuy mệt nhọc hơn, nhưng lại đầy thú vị. Ở đây có những chàng trai chưa vợ, có những cô gái chưa chồng đang hàng ngày gặp gỡ nhau trong việc làm. Nhiều cô gái lọt vào mắt những chàng trai, và cũng có nhiều chàng trai đã khiến cho các thiếu nữ ngây thơ nghĩ ngợi.

Giữa một khung cảnh phóng khoáng cao rộng, lòng những chàng trai tránh sao được nỗi xao xuyến trước nhan sắc của giai nhân, và những giai nhân có lẽ nào sắt đá được với những cử chỉ ân cần, với những lời êm dịu. Yêu đương nẩy nở trong lòng người ta, và muốn tỏ

nỗi lòng, những chàng trai đã hát những lời ca rất nhiều ý nghĩa: Con chim bồ câu

Liệng thấp liệng cao

Liệng ra cửa phủ liệng vào trong kho.

Ngọn đèn chịu gió phất phơ

Nào người tôi đợi, tôi chờ hôm qua

Có nhớ những nhời tôi dặn hôm qua

Nhưng yêu đương là một chuyện, còn đôi bên có được yêu đương nhau không lại là chuyện khác. Nhiều khi có những cuộc tình duyên ngang trái vì đôi bên bác mẹ chẳng thuận tình, có khi vì chàng trai nghèo, có khi vì so đôi tuổi chẳng hợp nhau, hoặc vì cô gái đã nhận trầu đám khác. Chàng trai buồn và gửi nỗi buồn trong câu hát: Con chim bồ câu

Liệng thấp liệng cao

Liệng ra cửa phủ, liệng vào trong dinh Khơi lên cho tỏ ta nhìn mặt nhau

Nhìn người chẳng dám nhìn lâu

Nhìn qua thấy mặt chịu sầu thiết tha

Bao lời hẹn ước buổi qua

Những chàng trai hát, những cô gái cũng hát, hát để tạ lòng những chàng trai, hay là để hẹn ước một lời ba sinh: Mẫu đơn nở cạnh nhà thờ

Đôi ta trinh tiết đợi chờ lấy nhau

Cánh đồng làng Hướng Dương sát ngay cánh đồng mấy làng Hạ

Vĩ, Từ Vân và Đào Xá, nên trong những buổi làm đồng nhiều chàng trai các làng trên đi qua, thấy nhan sắc các cô gái Hướng Dương xinh đẹp, đem lòng cảm mến. Các chàng trai hát ghẹo: Tóc em dài, em cài bông hoa lý

Miệng em cười có ý anh thương

Có khi câu hát đi xa hơn lời khen, nói rõ một ước ao: Ước gì anh lấy được nàng

Để anh mua gạch Bát Tràng về xây ...

Xây dọc đừng chớ xây ngang

Xây hổ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

Mặc những lời hát ghẹo, các cô làm đồng vẫn cặm cụi với công việc. Các cô muốn việc đồng áng cho xong để còn trở lại với khung thêu, kiếm thêm tiền giúp đỡ cha mẹ.

Ngoài các công việc đồng áng, mỗi khi rỡ xong màu, các bà nội trợ, các cô gái lại phải đem bán tại các chợ Kiều Thụy, chợ Tía, và có

khi đi cả chợ Mới, bên kia sông Hồng Hà tại phủ Khoái Châu tỉnh Hưng Yên nữa.

Tiền bán màu ngoài công việc dùng để vun đắp cho đồng ruộng như mua hạt giống, sắm dụng cụ, còn giúp các gia đình xã Hướng Dương làm tròn nhiệm vụ với lệ làng.

Lệ làng Hướng Dương, mỗi khi tuần tiết, cũng như trong các ngày rằm và mùng một hàng tháng các dân đình từ 60 tuổi trở xuống phải cắt lượt nhau để sửa lễ tại đình. Tùy theo từng tiết, dân làng cúng lễ

chay hoặc lễ mặn. Đã là đàn ông con trai trong làng, dù nghèo, túng đến đâu, ai cũng muốn lo tròn bổn phận của mình với thôn xã, nhất là khi bổn phận đó chỉ là việc sửa lễ tại đình, để nhớ ơn vị Thượng Đẳng thần đã đem nghề thêu tới cho dân làng.

Theo lời dân làng thì xã Hướng Dương thờ ông Lê Công Thành, người đã đi sứ sang Trung Hoa và đã học được nghề thêu và truyền dạy cho dân chúng dân làng này và mấy làng lân cận.

Nghề thêu của xã Hướng Dương vẫn nổi tiếng và càng phát đạt.

Những gia đình thợ thêu cũng nhờ đó được sung túc hơn. Họ vui sướng hưởng hạnh phúc dưới mái nhà tranh, sống một cuộc đời giản dị, chồng cũng như vợ chỉ lo làm ăn, gây dựng cho con cái.

Những bức thêu của họ hoàn thành được gửi đi bốn phương trời, những ai khi ngắm một bức thêu mỹ thuật có bao giờ nghĩ cuộc sống bình dị của những nam nữ nghệ sĩ đã tạo nên bức thêu chăng?