NGƯỜI NỘI TRỢ VÙNG LẬP THẠCHPart 5

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Để tả Sự chịu khó siêng năng của người nội trợ mấy xã Quan Tử, Phú Thị vùng Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Yên, cụ đốc học Trần Lê Nhân, tác giả

bộ cổ Học Tinh Hoa đã có câu ca dao:

Nửa đêm ân ái cùng chồng,

Nửa đêm về sáng gánh gồng ra đi

Đúng thật, người nội trợ vùng Lập Thạch rất cần cù đảm đang, chịu mọi sự hy sinh, ngay đến cả niềm ân ái để tần tảo buôn bán nuôi chồng, lập cơ sở cho gia đình và gầy dựng cho con cái.

Huyện Lập Thạch ở ven sông Lô, mấy làng Phú Thị, Quan Tử, ở giáp ngay bờ sông, cạnh huyện Bạch Hạc, nơi sông Tiểu Đáy chảy vào sông Lô. Sông Lô chảy tới Bạch Hạc thì nhập vào sông Hồng Hà, và chính nơi đây, tại hữu ngạn sông Lô, đối diện với vùng Lập Thạch, thị trấn Việt Trì đã được thiết lập và tạo nên cảnh sầm uất trên bến dưới thuyền.

Cảnh sầm uất này đã giúp cho việc buôn bán các vùng lân cận được phát đạt, và các bà nội trợ vùng Lập Thạch quanh năm buôn đò, bán chợ, đi sớm về hôm cũng nhờ vậy kiếm ăn được dễ dàng hơn mặc dầu phải vất vả.

Nước sông Tiểu Đáy lặng lẽ chảy vào dòng Lô Giang và nước Lô Giang cũng lặng lẽ chảy vào sông Hồng Hà. Quanh năm ngày tháng các bà nội trợ vùng Lập Thạch cần cù nhẫn nại, lo luôn lo bán không hề phàn nàn, siêng năng như nước chảy theo dòng. Các bà lận đận sớm khuya, nhưng lòng các bà hân hoan sung sướng bởi lẽ các bà đã làm tròn nhiệm vụ với chồng con, đúng như câu ca dao các bà vẫn hát ru em khi còn con gái:

Bên này con sông,

Bên nọ con sông,

Nước sông bên nọ theo dòng bên kia.

Quản chi lận đận sớm khuya,

Thân em dầu dãi nắng mưa vì chồng.

Hai con sông trong câu ca dao không hiểu là sông Hồng Hà và sông Lô, hay sông Lô và sông Tiểu Đáy? Nhưng điều đó không can hệ

gì, điều đáng kể là các bà nội trợ vùng này phục tùng chồng, như sông bên nọ theo dòng bên kia và quanh năm các bà chịu nhọc nhằn dầu sương dãi gió vì chồng.

Ai đã có dịp qua mấy làng Quan Tử, Phú Thị chưa? Nơi đây là một nơi quê mùa, nhưng trong làng nhà ngói san sát, nhà nào nhà nấy đều tường gạch, sân gạch và đến cả cổng ngõ cũng xây lát tinh tươm.

Sự trù phú của dân làng đều do tay các bà nội trợ gây dựng nên.

Làng ở ven sông, các bà buôn cá, muối cá, làm mắm đem bán dất ở các chợ. Lại có bà buôn hàng ở bến sông đem bán các xã thuộc mấy hạt Bạch Hạc, Vĩnh Tường, Yên Lạc và Lập Thạch. Lời lãi bao nhiêu, các bà lo trang trí cho cửa nhà, lo sắm sửa cho chồng và lo gầy dựng cho con.

Các bà chỉ nghĩ đến chồng đến con, còn chính các bà, các bà thường tự quên mình, quên mình để chiều chồng, quên mình hy sinh cho con thơ, quên mình để lo cho gia đình đầy đủ.

Hàng ngày, gà gáy canh hai các bà đã trở dậy, sửa soạn gánh hàng để lo đi chợ, dù trời bức hay trời rét, trời nắng hay trời mưa, dù đôi mi mắt còn nặng trĩu giấc ngủ. Các bà khe khẽ nâng chân bước ra khỏi giường, rón rén đi nhè nhẹ để khỏi động tới giấc ngủ của chồng con.

Các bà đánh thức người làm, dặn bảo công việc nhà, nhất là về cơm nước bữa sáng, khi các bà vắng mặt, rồi các bà gồng gánh ra đi giữa đêm khuya, giá lạnh, giữa lúc mọi người còn đang thiêm thiếp giấc nồng. Các bà đi khỏi, người làm lại đóng cửa đi ngủ. Các bà đi chợ

Hạc Trì, tỉnh Phú Thọ, các bà ra bến Việt Trì, các bà đi chợ Bạch Hạc, chợ Liêm Sơn, chợ Thổ Tạng, phủ Vĩnh Tường, chợ Me huyện Tam Đương và có khi cả chợ tỉnh Vĩnh Yên, cách đấy gần hai chục cây số.

Dù đi chợ nào các bà cũng cần đi sớm, có đi sớm mới cất được hàng, có đi sớm mới tranh đuợc chỗ ngồi, có đi sớm mới bán xong hàng sớm để còn về cho kịp bữa cơm chiều.

Đến bến hoặc đến chợ, trong khi chờ đợi cất hàng, hoặc trong khi bán hàng hay lúc đã cất hàng xong, các bà mới lo tới bữa ăn của mình.

Có bà mở gói cơm nắm mang từ nhà ra ăn, có bà ăn quềnh quàng mấy món quà chợ như bánh đúc bún riêu cho xong bữa. Các bà chỉ

cốt buôn bán, việc ăn uống chỉ là việc phụ.

Ăn uống xong, cũng như tất cả mọi người dân quê Việt Nam, các bà ăn miếng trầu. Ăn trầu còn khiến cho môi thêm thắm, cho má thêm hồng, cho miệng thêm tươi tắn để chào khách hàng bán hàng. Ăn trầu các bà đã chọn mua những quả cau thật ngon, nhưng quả cau này, các bà chỉ cắt chũm để mình ăn, còn cau ngon lại dành để phần chồng:

Bán hàng ăn những chũm cau

Chồng con có biết cơ màu này chăng?

Cau các bà mua là cau bổ bảy, nhưng muốn cho chồng say sưa với miếng trầu, cau đó các bà thường chỉ bổ làm ba, chẳng như ai đạm bạc đem bổ ra làm tám làm mười:

Yêu nhau cau bảy bổ ba

Ghét nhau cau bảy bổ ra làm mười.

Buổi tan chợ, hoặc hàng đã bán hết hay cất xong các bà quang gánh ra về, lại vội vàng trên đường về cũng như vội vàng lúc ra đi...

Quãng đường thường dài trên chục cây số, tuy xa, nhưng đối với các bà, đó chỉ là những đoạn đường đi bộ hàng ngày hai buổi. Đường càng xa bước chân càng dẻo dang, tay vung càng vắt vẻo, và quang gánh trên vai càng kĩu kịt theo một nhịp điệu mau hơn.

Tới nhà đặt quanh gánh xuống là các bà lo tới bữa cơm chiều của chồng. Thường thường khi các bà về tới nhà thì mặt trời đã chênh chếch non Đoài. Lũ con, thấy mẹ về chợ xúm xít hỏi quà. Bà mẹ bế

những đứa nhỏ, nựng nó vài câu, có khi cho nó bú bầu sữa đầy đang tưng tức, vì từ sáng bà mới vắt sữa có vài lần ở chợ. Đứa trẻ bú mẹ, nhoẻn miệng cuời, bí ba bí bô mấy tiếng reo vui, rồi bà mẹ lại đưa nó cho chị nó hoặc người làm bế. Bà chia quà cho các con lớn, và chọn những trái cây chín thơm, những chiếc bánh ngon lành cất đi để phần chồng.

Bữa cơm chiều trong gia đình bao giờ cũng thịnh soạn và mùa nào thức ấy, người nội trợ vùng Lập Thạch không tiếc tiền mua để chồng con xơi. Tháng sáu có nhãn lồng Hưng Yên, tháng tám có hồng Đào, tháng chín có quýt Thái Nguyên, tháng mười có cam Bố Hạ v.v...

Gặp những hôm đi chợ Sơn Đình hoặc đi chợ Liễn Sơn, có thịt nai, thế nào các bà cũng dành mua một miếng thật ngon về xào cho chồng nhắm rượu.

Mặc dầu đã mệt nhọc về buổi chợ, vì quãng đường xa đi bộ, người nội trợ vùng Lập Thạch vẫn tự tay làm lấy bữa cơm chiều để cho cơm được dẻo, canh được ngọt, để có thức nhắm ngon cho chồng nhắm rượu, có thức ăn ngon cho con ăn cơm.

Ngọn lửa hồng sưởi ấm lòng nàng, bốc theo mùi thơm ngào ngạt của đồ xào nấu. Vừa đun bếp nàng vừa nghĩ tới sự hân hoan của chồng, sự sung sướng của con khi thưởng thức món ăn tự tay nàng làm ra. Cảnh lạc thú gia đình là phần thưởng đích đáng của mọi vất vả nàng phải chịu.

Và khi người chồng nhấm nháp chén rượu với món xào họp ý, một lời khen ngợi đủ khiến cho mọi sự mệt nhọc của nàng tiêu tan.

“Món xào này bu mày làm khéo quá!”

“Bát canh bu mày nấu ngon quá!”

Nàng chẳng mong gì hơn là chồng biết đến sự tận tâm của mình.

Sự sung sướng về tinh thần đã cho nàng thêm can đảm chịu đựng sự

nhọc nhằn.

Cơm nước xong, buổi tối, khi đi ngủ, lại chính tay nàng săn sóc giường màn cho chồng. Nàng cho đấy là một công việc thiêng liêng, người đàn bà nào không săn sóc tới giấc ngủ của chồng, là người đàn bà không làm trọn thiên chức của mình.

Ăn với chồng một bữa, ngủ với chồng nửa đêm!

Câu tục ngữ này thật đúng với người nội trợ vùng Lập Thạch.

Ăn một bữa với chồng, nhưng là một bữa cơm vui vẻ, ngủ với chồng nửa đêm, nhưng là nửa đêm đằm thắm nồng nàn!

Ai chẳng tiếc thời gian, ai chẳng muốn cơm ngày hai bữa với chồng, ai chẳng muốn trọn đêm gối cùng chồng? Người nội trợ vùng Lập Thạch đã tự hy sinh một phần niềm ân ái và những phút giây quý báu hàng ngày của mình chỉ vì muốn chồng con đuợc hơn người. Về

phương diện này nàng có một tinh thần ganh đua rất đáng quý.

Thấy nhà hàng xóm xây cổng, lát sân, nàng cũng cố tần tảo chợ

búa dành dụm để có tiền xây cái cổng đẹp hơn, lát cái sân rộng hơn; thấy ông hàng xóm mặc chiếc áo da Mông Tự về vụ rét, nàng cũng cố may cho chồng chiếc áo đoạn Thái Tây. Ông hàng xóm sang chơi khoe bộ đồ trà Giang Tây, thì khi ông hàng xóm về, nàng đã nghĩ ngay tới bộ đồ trà quý giá hơn! Nói tóm lại, nàng muốn chồng nàng bằng người, hơn người. Thua trời một vạn không bằng thua bạn một ly! Đời nào, nàng cũng đi chợ, cũng buôn Tần bán Sở lại chịu thua bà hàng xóm.

Rồi ngày giỗ, ngày Tết! Nàng cũng muốn làng nước trông vào! Nhà người ta có mâm cao cỗ đầy, có sơn hào hải vị, thì nhà nàng cũng phải có. Ngày giỗ người ta mời cả xóm, cả thôn, thì nàng phải mời cả

làng xã! Nàng không chịu kém ai, nàng thường đoán trước được ý muốn của chồng trong mọi sự ganh đua cùng làng nước!

Lại những khi chồng lên quan viên hoặc được cử vào ban tư văn, hoặc khoa ngũ, lục tuần, bao giờ nàng cũng lo đủ lệ làng, không hề

ngại ngùng tốn kém.

Tiếng đảm đang cần cù của nàng vang khắp huyện, khắp tỉnh, ai ai cũng ngợi khen và lấy nàng ra làm gương cho đàn bà con gái!

Nàng vất vả quanh năm, nhưng tự lo vào thân mình rất ít. Hết ngày này sang tháng khác nàng nhẫn nại buôn bán, chiều chồng nuôi con.

ít khi nàng nghỉ một buổi chợ, ngay cả những khi thai nghén.

Khi thai nghén, muốn an thai nàng không nay thuốc này mai thuốc khác, cho tốn kém. Nàng chỉ cần ăn mấy chiếc bánh ngói mua tại chợ

huyện, chợ tỉnh. Bánh Ngói là một thứ bánh làm bằng một thứ đất lấy ở một xã vùng Lập Thạch, nặn giống như hòn ngói rồi đem nung như

nung ngói. Người ở vùng này cho rằng bánh ngói đó có tính chất an thai.

Người nội trợ Lập Thạch chịu đựng khổ sở, kính chồng thương con đuợc tiếng tăm, nên các cô gái vùng này rất đắt chồng. Các cô chưa tới tuổi cặp kê đã có rất nhiều đám rắp ranh bắn sẻ, trai làng cũng có, trai thiên hạ cũng có.

Các bà mẹ có con tới tuần trăng tròn là lo sắm sửa cho con để

mong kén được trang giai tế xứng đáng. Đồng thời các bà dạy dỗ con công ăn việc làm, học buôn học bán để sau này lo tròn đạo thờ chồng nuôi con.

Các cô gái khi đến tuổi lành duyên đều bắt đầu học tập lo công việc gia đình theo sự chỉ dẫn của mẹ, của chị. Đồng thời các cô cũng lo cho má thêm hồng, cho môi thêm thắm, cho nụ cười thêm duyên dáng, dáng đi thêm uyển chuyển, cử chỉ thêm dịu dàng, vẻ người thêm cân đối.

Rồi những ngày hội ở đền thờ Đại Tướng Quân Trần Nguyên Hãn, vị danh thần khai quốc nhà hậu Lê, tại xã Quan Tử, vào trung tuần tháng tám hoặc ở đền thờ Thổ Lệnh Đại Vương xã Bạch Hạc với cuộc thi thuyền trên sông Lô, vào ngày hai mươi tháng giêng hàng năm, các cô quần áo xếp nếp vấn đầu nhung, dép chéo quai, tai đeo khuyên vàng, tay đeo nhẫn mặt ngọc, thắt lưng lụa lủng lẳng bộ sà tích, dắt nhau đi xem hội để trai thiên hạ trông vào.

Thấy nhan sắc kiều diễm của các cô, nhiều chàng trai tơ lòng rung động. Các chàng nhờ mối lái để mong được vầy duyên cầm sắt cùng người đẹp.

Cá bống còn ở trong hang

Cái rau tập tàng còn ở ruộng dâu

Ta về ta sắm cành câu

Câu lấy cá bống nấu rau tập tàng

Có chàng trai đã sắm cần câu đúng dịp, được hài duyên với giai nhân, cùng giai nhân bách niên giai lão, nhưng cũng có chàng trai vì

chậm lỡ bước, giai nhân đã nhận trầu nơi khác, hoặc đã ôm cầm vui khúc phỉ nguyền chàng Tiêu.

Chàng đành than tiếc mà buồn:

Trèo lên cây bưởi hái hoa,

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

Nụ tầm xuân nở ra cánh biếc

Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay

Đôi khi lời than thở của chàng trai cũng động lòng người đẹp, nhưng biết làm sao được, vì ván đã đóng thuyền! Tại sao chàng trai đã chậm trễ, tại sao chàng trai không xin bỏ miếng trầu từ khi nàng còn là con gái:

Vẻ gì một miếng trầu cay,

Sao anh không hỏi những ngày còn không?

Bây giờ em đã có chồng,

Như chim vào lồng như cá cắn câu.

Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,

Chim vào lồng biết thuở nào ra!

Chàng trai đành thất vọng. Chẳng lẽ chàng lại xui người con gái lỗi đạo hay sao:

Cá cắn câu biết đâu mà gỡ

Chim vào lồng mở cửa mà ra!

Không, không bao giờ có chuyện như thế đuợc. Còn gia đình còn lẽ giáo. Người con gái vùng Lập Thạch một khi đã lấy chồng là phải lo bổn phận nội trợ của mình.

Nửa đêm ân ái cùng chồng.

Nửa đêm về sáng, gánh gồng ra đi.