HƯƠNG LÚA TỈNH NAMPart 12
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Nam Định xưa kia thuộc trấn Sơn Nam Hạ, đất rộng, người đông một năm một vụ lúa chiêm. Ở đây dân tình thuần hâu người người chăm chú lo sự làm ăn. Những cánh đồng thẳng cánh cò bay, lan rộng tới
mãi chân trời, dòng sông Vị, giải sông Hồng lượn quanh giữa đám ruộng màu mỡ, làm cho đất cát thêm phì nhiêu, lúa thêm xanh, và phong cảnh thêm cẩm tú. Non Côi cao sừng sững hiên ngang như
muốn kiểm soát một cõi sơn hà. Xa xa mờ mờ phía chân trời tây, dẫy núi Hoành Sơn giống như một bức bình phong muôn vẻ che đỡ cho ruộng đồng bát ngát. Giữa cánh đồng mạ mơn mởn mầu tơ nõn, nước trắng xóa, những làng mạc ẩn trong lũy tre, nổi bật lên những hàng cây xanh tốt. Chiều chiều cùng với lúc chuông chùa thu không, vang rền tự những ngôi chùa sau các lũy tre những làn khói lam từ từ bốc lên cao và tỏa ra màu trắng đục, biến lẫn với mây trên không trung đang nhẹ nhẹ bay thành từng giải theo gió vắt ngang trời.
Những lúc trời sâm sẩm tối, mặt trời đã xế, không gian mờ mờ tím, bốn bề vắng vẻ phẳng lặng, phong cảnh đồng quê tỉnh Nam đượm một vẻ buồn man mác. Phảng phất từ ruộng lúa bốc lên, một mùi nhạt nhạt của mạ non, hoặc mùi thơm thoang thoảng của lúa đòng đòng mới trổ, tùy theo với ngày tháng trong năm. Lững thững trên bờ ruộng, bóng đen của vài nông phu vai cày, vai cuốc dắt trâu về
làng. Im lặng và tịch mịch. Lưng trời vài con vạc bắt đầu đi kiếm ăn kêu mấy tiếng dài gọi đêm trường nghe buồn mênh mông.
Cũng như phong cảnh trầm lặng, người dân tỉnh Nam trầm lặng ít nói. Họ mộc mạc và đơn sơ. Quanh năm áo nâu sồng màu của đồng đất, họ chỉ quan tâm đến đồng đất. Đàn ông thì quần nâu, áo nâu, còn đàn bà cũng vẫn màu nâu ấy, nhưng đáng lẽ họ trang điểm cho màu nâu thêm tươi tắn bằng một đôi giải yếm lụa mỡ gà, chiếc thắt lưng màu thiên thanh hay hoa lý, đào ngọt hay cánh sen như phụ nữ
các tỉnh Bắc Ninh, Sơn Tây thì ở đây, với chiếc thắt lưng tím họ đã làm cho y phục màu nâu của họ càng tối sầm và tẻ ngắt.
Họ quanh năm lam lũ làm ăn, hướng tinh thần vào đồng ruộng.
Hương lúa thơm phức tỏa lên khi vụ chiêm tới dưới nắng oi ả của trời tháng năm là tất cả mọi phần thưởng và mọi niềm an ủi của những công lao khó nhọc của họ.
Thực vậy người dân tỉnh Nam, giống như hầu hết các dân quê khác thuộc các vùng đồng chiêm xứ Bắc, rất chịu khó cực nhọc và mất rất nhiều công lao cho đồng ruộng của mình.
Ruộng chiêm hàng năm ra ngoài vụ tháng năm, nước ngập trắng xóa bát ngát. Làng mạc biến thành những cù lao xanh biếc, và giữa làn nước bạc, thỉnh thoảng một vài con đường làng đắp cao, nổi màu tro nhạt, đi ngoằn ngoèo từ xã nọ tới thôn kia. Những cô lái đò đồng chiêm với chiếc thuyền nan bềnh bồng chở khách từ nơi này đến chốn khác. Đôi khi ngọn gió đồng thổi làm chiếc thuyền chập chờn quay mũi, những con sóng đồng làm bật nước vào mạn thuyền tung bọt trắng xóa. Cơn gió mạnh qua, mặt nước đồng lại lăn tăn gạn những làn sóng nhỏ, và chiếc thuyền nan lại nhè nhẹ đè mặt nước theo đà của con sào hoặc của chiếc bơi chèo.
Bên những con đường làng uốn khúc, những thửa ruộng ngập nước, một vài người nông phu theo với tình trạng của cánh đồng đã biến thành những ngư phủ đang dậm lưới, úp nơm để kiếm chút cá vụn. Thỉnh thoảng một vài con cá nhỏ quẫy mình trắng như bạc óng ánh dưới nắng trời hè. Vài phụ nữ, váy xắn cao, khăn bịt đầu thật chẽn đang lom khom mò cấy bắt cua ở gần đây.
Cảnh nước lớn kéo dài cho tới tháng tám. Bấy giờ mùa mưa nâu đã qua, mùa lụt đã khỏi, nước đồng ngấm dần xuống đất hoặc chảy dần ra sông, người dân quê vùng Nam Định mới lo tính đến chuyện cày cấy vụ chiêm.
Làm mùa chiêm rất vất vả nặng nhọc. Ruộng đồng phải cày bừa vào lúc bắt đầu hanh, chân tay thường bị nẻ khô, cấy lúa vào giữa lúc trời đông giá lạnh, khi gặt, lại gặt đúng vào lúc nắng hè oi ở và gay gắt nhất. Đồng lúa chiêm lại lắm đỉa, nhất là vụ gặt, mùa mưa rào đã bắt đầu, đồng ruộng đã chớm nước, loài đỉa càng sinh sản nhiều. Thật là tốn công vậy! Nhưng đã gọi là con nhà nông, chỉ biết có hương thơm của lúa, công việc dù mệt nhọc có sá gì. Chỉ cầu sao cho mưa nắng phải thì đúng độ, lúa trổ bông đúng kỳ gặt hái là người nông phu sung sưóng.
Ơn trời mưa nắng phải thì
Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu
Công lênh chẳng quản bao lâu
Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng
Xin ai đừng bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu.
Phải một tấc đất bỏ không là bỏ phí mỗi năm một số thóc, cho nên tấc đất là tấc vàng. Người làm ruộng không bao giờ chịu bỏ đất hoang, dù đất đó khô rắn, dù sự cày bừa vất vả nhưng nghĩ đến hạt cơm trắng với mùi thơm dịu dịu, người ta có thể quên được những buổi cày dưới nắng chang chang với mồ hôi nhễ nhại.
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần!
Người nông phu không quản nắng mưa, cam chịu đắng cay để xới đất, bừa ruộng, cày luống, ngõ hầu mai sau người người có bát cơm dẻo là lòng hân hoan. Người nông phu không kể chi mình, chỉ trông đến kết quả của công việc mình làm, có ích cho đồng bào là hài lòng.
Tuy nhiên, vất vả phần mình chịu đã đành, lại còn con trâu, người bạn mưa nắng cũng chịu dầu gió dãi mưa như mình. Mà làm ruộng, phải có con trâu! Phải săn sóc con trâu, đủ rơm đủ cỏ để trâu có sức mới giúp đỡ được người trong việc cày bừa nặng nhọc! Người nông phu thường trìu mến con trâu không kém một người bạn quý, và thường an ủi trâu với những lời lẽ rất dịu dàng: Trâu ơi, ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công!
Bao giờ cây lúa còn bông,
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
Ruộng đã cày bừa xong, đất để cho ải, trước khi tát nước vào làm vụ cấy.
Thóc giống gieo trên ruộng mạ sâm sấp nước. Thóc nảy mầm, những cây mạ non mọc lên như tơ nõn. Ngọn mạ lăn tăn trước gió lạnh của trời đông. Những ruộng mạ trông như tấm thảm xanh, chỗ
thưa chỗ dày, chỗ đậm chỗ nhạt. Vào giữa khoảng tháng một, mạ đã mọc cao chừng ba tấc. Bấy giờ người ta nhổ mạ, bó thành từng bó, xén bớt đầu lá để cấy lại trên ruộng lúa. Người ta tát nước vào những thửa ruộng này cho dễ dàng việc cấy.
Trời lạnh, nước cạn, công việc tát nước rất tốn công. Nếu về vụ hè, cánh đồng chiêm mênh mông những nước thì giờ đây, khi cần tới nước nước lại khan hiếm, phải tát từ những nương rất xa, nhiều khi phải cho nước chảy qua ba bốn thửa ruuộng khác mới tới thửa ruộng của mình.
Nước ở những mương này có năm rất cạn, chỉ dâng cao theo với ngọn thủy triều. Người dân quê đồng Nam phải chờ nước triều lên, rủ nhau tát nước họ gọi là đi cướp nước ngọn triều. Những ruộng cao tát bằng gầu dai, còn ở các ruộng thấp phải dùng gầu sòng.
Ruộng cao sắm một gầu dai
Ruộng thấp thì phải sắm hai gầu sòng.
Ruộng đã có nước, việc cấy lúa bắt đầu. Các cô thôn nữ lại cùng nhau quẩy ra đồng những bó mạ, cách đấy mấy hôm các cô vừa nhổ
ở ruộng mạ mang về, những bó mạ xinh xinh nhu những đứa trẻ lên ba thắt lưng con cón.
Vừa bằng thằng bé lên ba
Thắt lưng con cón chạy ra ngoài đồng.
Việc cấy lúa chiêm rất vất vả. Trời đang giữa mùa đông gió đang lạnh, nước đang giá! Thế mà các thiếu nữ đồng quê không quản chi gió bấc mưa phùn, cùng nhau làm việc ở dưới ruộng, nước ngập trên mắt cá nhân. Các cô cũng rét, nhưng các cô phải vui vẻ với việc làm.
Đầu các cô chít khăn mỏ quạ che kín hết hai tai cho tới cằm, và muốn cho được ấm thêm, các cô lại buộc một chiếc lạt ở ngoài khăn, theo nếp vấn đầu để giữ lấy hơi nóng. Các cô mặc áo ấm, phần nhiều là áo bông. Bước xuống ruộng váy phải xắn cao, và để tà váy đằng trước
cũng phủ đằng sau khỏi kéo lê trên mặt nước, các cô lấy lạt buộc thắt lại.
Gió đông lạnh buốt làm má các cô ửng hồng, hai hàm răng các cô run rẩy cắn chặt lấy nhau. Các cô vẫn can đảm làm việc mặc trời giá rét.
Ba bốn cô cấy một thửa ruộng. Những bó mạ đặt ngay ở giữa ruộng. Các cô cởi mở bó mạ ra, tay cầm từng nắm nhỏ, cấy từ bờ
ruộng này tới bờ ruộng kia. Các cô cúi lom khom, thoăn thoắt đưa tay cắm những cây mạ xuống ruộng. Các cô vừa cấy lúa vừa lùi, cứ theo bước chân các cô lùi những hàng mạ được cấy lên. Các cô mải mê với công việc, chỉ ham làm, quên cả chuyện trò với nhau. Trời lấm tấm mưa phùn, gió bấc căm căm thổi. Nhung cây mạ được cấy rồi, ngả
đầu theo chiều gió mặt nước ruộng lăn tăn gợn sóng. Vài con tôm con tép nhảy tanh tách làm mặt nước rung rinh với những vòng tròn nhỏ.
Cấy hết nắm mạ này, các cô lấy nắm mạ khác, và hết một bó mạ, các cô lại cởi thêm bó khác. Thửa ruộng theo với tay các cô nhanh nhẹn cắm những cây mạ gọn gàng xuống đất, chẳng mấy lúc đã được cấy gần xong. Các cô chăm chú với nhánh mạ ham công ham việc mong sao cấy cho thửa ruộng chóng xong để còn cấy sang thửa ruộng khác.
Các cô không để ý tới những thửa ruộng gần đấy, cũng có những người khác đang cấy lúa như các cô, hoặc một vài nông phu đang cày bừa chăm chỉ với con trâu. Các cô cũng chẳng bao giờ để ý tới vẻ rộn rịp của cánh đồng với cảnh nơi cày, noi cấy, nơi bừa.
Có lẽ các cô vừa cấy lúa vừa mong cho vụ lúa năm sau được mùa để dân làng no ấm! Có lẽ các cô đang cầu khẩn cho mưa thuận gió hòa để cho thóc rẻ gạo hơn! Có khi các cô không tính gì tới cả công cấy của mình!
Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề:
Trông trời trông đất trông mây
Trông mưa trông gió trông ngày trông đêm Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng.
Các cô làm việc từ sáng tới trưa, chỉ nghỉ tay để ăn cơm rồi lại làm việc từ trưa đến tối. Và sớm hôm sau, cùng với các nông phu dắt trâu ra đồng cày ruộng, các cô đã rủ nhau đi để cấy nốt thửa ruộng đang cấy dở, hoặc cấy cho xong mấy thửa ruộng khác: Rủ nhau đi cấy đi cày
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu
Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.
Các cô hối hả lo công việc, các cô nhanh nhẹn với lúa mạ, không quản gì khó nhọc với nắng mưa, có lẽ các cô nghĩ tới ngày phong lưu của năm sau, ngày mà thóc vàng tỏa hương thơm ngát khắp cánh đồng chiêm, ngày mà người ta lũ lượt gánh thóc về trên đường làng, ngày mà những người thợ gặt nào liềm nào hái, vui vẻ nói cuời và gặt lúa trên đồng cạn cũng như dưới đồng sâu.
Cấy lúa xong, người dàn quê lại vất vả với những công việc khác, nào làm cỏ, nào phát bờ, nào rải phân. Mọi công việc đều đòi hỏi ở
họ một sự siêng năng và một lòng kiên nhẫn. Rồi khi lúa đến thời con gái, phải tát thêm nước, kẻo để chân lúa khô, lúa dễ bắt sâu. Họ phải theo dõi cây lúa cho tới khi lúa trổ đòng đòng đâm bông.
Bấy giờ đã cuối tháng tư, lúa đã sắp chín, và sắp sửa là mùa nước.
Những đêm chớp bể mưa nguồn là những đêm khiến cho người dân quê lo ngại. Họ sợ những trận mưa to, nước lũ kéo về nuớc sông dâng lên có thể gây lụt lội, công trình của họ sẽ theo mây gió hết! Mà nếu có sự chẳng may ấy, họ sẽ đói họ sẽ khổ! Tiền đâu mà sưu thuế, tiền đâu mà việc nọ công kia. Sự lo lắng của họ quả thật là chính đáng. Họ
sẽ chỉ có thể than thở với trời cao xanh.
Bây giờ gặp phải hội này:
Khi thì hạn hán, khi hay mưa dầm
Khi thì gió bão ầm ầm
Đồng tiền thóc lúa mười phần còn ba!
Lấy gì đăng nạp nữa mà
Lấy gì công việc nước nhà cho đang!
Lấy gì sưu thuế phép thường
Lấy gì bổ chợ đong lường làm ăn
Trời làm khổ cực hại dân.
Họ phải trồng nom ruộng lúa cho tới khi được gặt. Thóc gặt về, đập sẩy, phoi phóng xong họ mới yên tâm. Được mùa là họ được tất cả, họ sẽ có cơm no, áo ấm, có đủ tiền để đóng góp với làng. Chồng con họ sẽ không lo thiếu sưu thiếu thuế.
Tháng năm gặt hái đã xong
Nhờ trời một mẫu năm nong thóc đầy.
Năm nong đầy em xay em giã,
Trấu ủ phân, cám bã nuôi heo.
Sang năm lúa tốt tiền nhiều,
Em đem đóng thuế, đóng sưu cho chàng.
Đói no có thiếp có chàng,
Còn hơn đủng đinh giàu sang một mình.
Câu ca dao trên đã tả đúng tâm lý của chị phụ nữ đồng quê! Được mùa chị sẽ sung sướng, nhưng trong cái sung sướng chị vẫn tính chuyện làm ăn và lo lắng sưu thuế cho chồng. Cũng như muôn ngàn người đàn bà quê miền Bắc, chị phụ nữ tỉnh Nam chịu hy sinh mọi sự
cho chồng, chị mong đuợc cùng chồng no đói có nhau!
Lúa đã gặt rồi, người dân quê tỉnh Nam mới khỏi lo ngại, và mấy tháng trồng cây, bây giờ mới là ngày kết quả.
Thóc đã đập đã phơi, đã sẩy rồi, họ chỉ việc quây vào cót để ăn dần, bán dần lo việc nhà, việc làng, việc nước!
Lúc ấy trời đã cuối tháng năm. Mưa rào đã nhiều và cánh đồng chiêm lại đầy nước trắng xóa. Lại có những người nông phu biến thành ngư phủ, lại có những chị thợ cấy đi mò cua bắt ốc, hoặc đi chở
chiếc thuyền nan! Rồi những bà nội trợ, những cô gái quê đội gạo, hoặc một vài nông phẩm khác như cà, đậu ngô khoai họ đã trồng được ở những chỗ ruộng cao tới các chợ bán: họ đi chợ Rồng, họ đi chợ Bạch Tính, họ đi chợ Ninh Cường. Phong cảnh những con đường làng thỉnh thoảng lại được đôi ba ngày tấp nập vì một vài phiên chợ.
Những người đàn bà ở đây đi chợ họ đều đội hàng hóa trên đầu, họ
không gánh gồng như dân quê các tỉnh miền Bắc Hà Nội. Họ bảo rằng ở đây cánh đồng chiêm, thường phải lội nước, không tiện cho việc gồng gánh! Có lẽ vì phải đội nặng lên đầu nhiều nên đàn bà con gái vùng này ai nấy đều có vẻ lùn thấp
Trong mùa nước ngập, có những gia đình không bận gì về công việc đồng áng thì họ cùng nhau làm tiểu công nghệ: làng Ninh Cường làm nón, các làng ở huyện Mỹ Lộc mua sợi về dệt vải quê v.v... Nền tiểu công nghệ, tuy chỉ là nghề phụ, nhưng cũng đã giúp đỡ cho nhiều gia đình sống qua vụ nước một cách dư dật và đôi khi lại có tiền để
sắm sửa cho gia đình, may mặc cho con cái.
Cần cù nhẫn nại, chăm chỉ siêng năng là những đức tính chung của tất cả dân quê xứ Bắc, dù ở tỉnh Nam Định, tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Hải Dương, tỉnh Phú Thọ hay tỉnh Bắc Giang. Lẽ sống của họ là ở sự làm việc và chịu đựng, nhất là đối với các phụ nữ. Họ chịu đựng chồng con ở nhà, họ chịu đựng luật lệ ở làng, họ chịu đựng sự bất công của xã hội, và nhiều năm họ đã phải chịu đựng cả những sự giận dữ của tạo hóa đã gây ra bão lụt, hạn hán hỏa tai.
Nhưng trong sự chịu đựng đó họ đã có những nguồn an ủi vô biên: ấy là cái cảnh gia đình đầm ấm, vợ chồng con cái đề huề, ấy là lòng tin tưởng ở tương lai, ở kết quả của mọi sự cố gắng và chăm chỉ của họ.
Ngoài ra, không kể những ngày làm lụng vất vả, họ cũng có những lúc ăn chơi và nghỉ ngơi. Ấy là những ngày hội ngày Tết. Những hôm đó, họ nghỉ gông việc, quần áo lịch sự họ rủ nhau đi chùa đi lễ. -
Hàng năm ở Nam Định có hai hội lớn. Hai hội này, không riêng gì dân chúng tỉnh Nam tới dự, mà có thể nói là toàn dân miền Bắc Việt Nam đều tới dự.
Ấy là hội Phủ Giầy ở xã Bảo Ngũ, nơi có đền thờ Công Chúa Liễu Hạnh và hội ở xã Bảo Lộc, nơi có đền thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
Ngày hội Phủ Giầy hàng năm rất linh đình nhộn nhịp, hội mở từ
ngày mồng một tháng ba và kéo dài tới ngày hai mươi mới rã đám.
Các thiện nam tín nữ các tỉnh miền Bắc và một phần các tỉnh miền Trung kéo nhau tới trẩy hội rất đông. Trong ngày hội các cuộc tế lễ
rất tưng bừng. Đáng chú ý nhất là đám rước từ Phủ Giầy tới xã Phù Chính ở chân núi Côi vào ngày mồng sáu tháng ba: đây là một đám ruớc đồ sộ, có hàng mấy trăm ngàn người từ các ngả tới dự. Trên con đường Phú Chính đông nghịt những người, nối dài hàng năm sáu nghìn thước. Màu sặc sỡ của cờ, mùi hương quyện với mùa hoa, tiếng trống rước xen lẫn tiếng người thật là ầm ĩ nhộn nhịp. Người ta hân hoan sùng bái Liễu Hạnh Công Chúa, người đã giúp đỡ cho nhiều dân chúng miền Bắc, người đã giáng bút với những thiên văn thơ tuyệt phẩm.
Ngoài đám rước trên, tại hội Phủ Giầy vào ngày mùng mười lại có cuộc kéo chữ. Phu hội hàng mấy nghìn người trong huyện Vụ Bản từ
các xã cắt tới dự cuộc kéo chữ này. Có năm kéo chữ nẩy Thiên Hạ Thái Bình, có năm kéo mấy chữ Phong Đăng Hòa Cốc. Người ta nô nức đi xem kéo chữ, cũng như người ta nô nức đi dự đám rước cùng các đám tế lễ trong suốt thời gian kéo hội.
Hội Phủ Giầy rã đám, người dân quê tỉnh Nam lại quay về công việc của mình cho tới tháng tám người ta kéo nhau tới xã Bảo Lộc để
dự hội kỷ niệm vị đại anh hùng Việt Nam Trần Quốc Tuấn, người đã hai chuyến phá quân Nguyên, giữ Vững nền độc lập cho nước non nhà. Hội đền Bảo Lộc đông vui, người ta tôn kính và biết ơn vị anh hùng của dân tộc. Dự hội đền Bảo Lộc người ta lại nhớ tới trận thủy
chiến ở Bạch Đằng Giang, và người ta truyền tụng cùng nhau những vần thơ hùng tráng về kỳ công của quân tướng nhà Trần.
Tiếng lau rú ào ào tiếng gió
Sóng bập bồng to nhó thưa mau
Tiếng buồm tiếng nước hòa nhau
Tạo thành khúc nhạc vui đau hỗn đồng.
Hùng tráng tựa tiếng ông Nguyễn Khoái Hô chiến thuyền quay lại đánh Nguyên
Tiếng gào tiếng thét xung thiên
Hiệu kêu lùi xuống, lệnh truyền tiến lên.
Tên vùn vụt từ trên bờ bắn
Thuyền xâm lăng vỡ đắm tan hoang
Tướng Nguyên van lạy xin hàng
Quân ta thắng lợi reo vang nức trời.
Hương lúa tỉnh Nam dịu dàng thơm ngát, người dân quê tỉnh Nam mộc mạc đơn sơ. Họ cần cù với công việc, nhưng không bao giờ họ
quên họ là người dân nước Việt. Họ chăm chỉ làm ăn nhưng họ vẫn nhớ tới công ơn những người vì nước.