Tiết Tháo Một ThờiPartie 9

À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.

Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.

Hữu Tế Xú bảo:

- Nước Vệ ta ngày trước có người làm bề tôi mà dám giết vua, vậy nên ngày nay bắt chước.

Chu Hu nín thinh chịu chết.

Nhu Dương Kiên đến Trần Đô đem Thạch Hậu ra chém, Thạch Hậu bảo:

- Chết thì ta cũng đành phận, nhưng hãy giải ta về để ta thấy mặt cha ta, rồi sẽ chém.

Nhu Dương Kiên nói:

- Ta phụng mệnh cha ngươi đến đây để chém ngươi. Nếu nhà ngươi muốn gặp mặt cha, ta đem đầu ngươi về để cha ngươi trông thấy.

Nói xong, Dương Kiên tuốt gươm chém Thạch Hậu.

Người sau, nhắc đến chuyện Thạch Thác giết con, ai cũng ngợi khen. Ông đã giữ nghĩa với đất nước không dung túng con làm điều càn bậy.

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

KHUYÊN VUA THỜ MẸ

Chuyện nước Trịnh.

Vua Trịnh Vũ Công lấy con gái vua nước Thân là nàng Khương Thị, sinh hạ hai người con trai: con lớn đặt tên là Ngộ Sinh, con thứ hai đặt tên là Đoạn.

Bà Khương Thị lúc lâm bồn Ngộ Sinh, đẻ ngang bị đau đớn rất nhiều, nên đặt tên con như vậy. Bà ghét Ngộ Sinh lắm và bà chỉ yêu Đoạn. Đoạn người trông phương phi, lại thêm võ nghệ giỏi giang, cung kiếm thông thạo. Ý bà Khương Thị

muốn bỏ Ngộ Sinh để lập Đoạn làm thế tử, mai sau nối giữ

ngôi nước Trịnh.

Nhiều lần bà bàn cùng vua Vũ Công việc đó, đều bị vua Vũ Công gạt đi nói rằng:

- Anh em phải có thứ tự, không thể lộn bậy được. Ngộ

Sinh không có tội lỗi gì, ta không thể bỏ trưởng lập thứ để

gây mầm loạn về sau cho giang sơn.

Ngộ Sinh được lập làm thế tử. Đoạn được phong ở đất Cung. Người thời bấy giờ gọi là Cung Thúc Đoạn.

Khương Thị dẫu không bằng lòng, nhưng trước sự cả quyết của vua Vũ Công, bà đành phải chịu. Từ đấy, bà càng ghét Ngộ Sinh hơn.

Ít lâu sau, Trịnh Vũ Công tạ thế. Thế tử Ngộ Sinh lên nối ngôi lấy hiệu là Trang Công.

Khương Thị thấy Cung Thúc Đoạn vô quyền, trong lòng áy náy không yên, mới bảo Trịnh Trang Công rằng:

- Con nối ngôi cha làm chúa cả nước Trịnh, rộng kể hàng mấy trăm dặm, thế mà em con ở chỗ đất Cung nhỏ mọn không đủ dung thân, con nên nghĩ tới.

Trịnh Trang Công liền thưa:

- Vậy ý thân mẫu muốn thế nào?

Khương Thị bảo:

- Con nên đem đất Chế Ấp mà phong cho em để cho nó đủ sinh sống.

Trịnh Trang Công đáp lời mẹ:

- Thưa mẫu thân, Chế Ấp là một nơi hiểm yếu, xưa kia Tiên vương đã di mệnh không được đem phong cho ai, vậy con không dám tuân lệnh mẫu thân. Ngoài Chế Ấp ra, mẫu thân muốn cho em con chỗ nào con đều xin lĩnh mệnh.

Khương Thị nói:

- Thế thì con phong cho nó đất Kinh Thành.

Kinh Thành là một Ấp lớn, đất rộng người nhiều. Khương Thị muốn cho Cung Thúc Đoạn nơi này là có hậu ý để Cung Thúc Đoạn sau này nhờ đất đó gây nghiệp lớn.

Trịnh Trang Công nghe mẹ nói, nín lặng không đáp. Khương Thị liền nổi giận bảo:

- Anh em sao con chẳng thương nhau. Thế thì con cứ đuổi Cung Thúc Đoạn ra khỏi nước Trịnh, mặc nó muốn làm gì mà sống thì làm.

Thấy mẹ giận, Trang Công thưa:

- Thưa mẫu thân, có đâu con lại dám thế.

Ngày hôm sau, đành cho triệu Cung Thúc Đoạn đến để

phong cho đất Kinh Thành.

Quan đại phu là Sái Túc can thì Trang Công nói: 182

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

- Mẫu thân ta muốn như vậy, ta đâu dám trái ý.

Cung Thúc Đoạn được phong lạy tạ trở ra, rồi vào cung cáo từ Khương Thị. Khương Thị đuổi hết cung nhân đi và bảo kín Cung Thúc Đoạn:

- Anh mày chẳng nghĩ gì đến tình máu mủ, đãi mày rất bạc, nay phong cho mày đất Kinh Thành chỉ là vì ta đôi ba phen nài ép cầu khẩn, nhưng xem ý trong bụng vẫn là miễn cưỡng. Mày đến đất Kinh Thành nên luyện tập quân mã để

chờ cơ hội chiếm lấy nước Trịnh. Mày chiếm được ngôi của Ngộ Sinh lòng ta mới hả.

Cung Thúc Đoạn vâng mệnh, ra ở đất Kinh Thành.

Ở đất Kinh Thành, Cung Thúc Đoạn ngày nào cũng giả

cách săn bắn để luyện tập trận, tìm kế lấy nước Trịnh.

Cung Thúc Đoạn lại chiếm lấy hai ấp ở gần đấy. Các quan ấp tể phải bỏ trốn về tâu cùng Trang Công. Trang Công chỉ

cười nhạt không nói gì.

Quan Thượng khanh nước Trịnh bấy giờ là công tử Lã thấy vậy liền tâu rằng:

- Tội Cung Thúc Đoạn thật đáng chết. Xin chúa công phải lưu ý.

Trịnh Trang Công hỏi thì công tử Lã tâu:

- Đoạn, trong thì cậy có quốc mẫu yêu dấu, ngoài thì cậy có đất Kinh Thành hiểm yếu, đêm ngày luyện tập quân mã, tất là có ý khác. Nay lại chiếm ấp lân cận để khoa trương thanh thế. Xin chúa công cho tôi đem quân ra đất Kinh Thành bắt Cung Thúc Đoạn đem về đây cho khỏi di lụy về sau.

Trịnh Trang Công bảo:

- Tội ác của Cung Thúc Đoạn chưa có gì là chứng cớ, ta không thể đem quân hỏi tội được.

Công tử Lã tâu:

- Nay Đoạn chiếm lấy hai ấp, thế là đủ chứng cớ rồi.

Trang Công vừa cười vừa bảo Công tử Lã:

- Đoạn là con cưng của mẫu thân ta, lại là em yêu dấu của ta, chẳng thà ta bỏ hai ấp, thiệt đi chút ít bờ cõi còn hơn để

hại tình anh em, lại làm cho mẫu thân ta thất ý buồn rầu.

Công tử Lã lại tâu:

- Chúa công nghĩ thế không được. Có đâu là chuyện chỉ

mất bờ cõi mà thôi. Rồi ra còn mất nước nữa. Cung Thúc Đoạn ngày một cường thịnh, dân tình sợ hãi, tất sinh hai lòng.

Bây giờ chúa công bao dung cho Đoạn, tôi e rằng ngày khác Đoạn sẽ không bao dung chúa công đâu.

Trịnh Trang Công lại gạt đi bảo:

- Thôi nhà ngươi không được nhắc đến chuyện ấy nữa.

Công tử Lã không dám nói gì hơn. Ra ngoài, gặp Sái Túc, công tử Lã liền phàn nàn:

- Chúa công ta quyến luyến tình riêng quá, ta e rồi việc nước sẽ bị lỡ.

Sái Túc đáp:

- Chúa công ta là người sáng suốt, có đâu lại không nghĩ

tới điều ấy. Ta chắc rằng ở chỗ đông người, nên chúa công làm ra như vậy. Nhà người thử vào hầu riêng mà hỏi chuyện, chắc chúa công sẽ cho biết định kiến của mình.

Công tử Lã nghe lời, vào yết kiến Trịnh Trang Công.

Trang Công hỏi: “Nhà ngươi vào yết kiến có việc gì?”

Công tử Lã tâu:

- Quốc mẫu vẫn có ý không muốn cho chúa công nối ngôi.

Nếu vạn nhất trong ngoài hợp mưu với nhau, tôi e chúa công không giữ nổi nước Thịnh. Tôi ngày đêm lo lắng về chuyện này, vậy bất đắc dĩ vào tâu chúa công, xin chúa công xét kỹ cho, kẻo mai ngày việc lớn xảy ra rồi dù có ân hận cũng không kịp.

Trang Công bảo:

- Việc này can ngại đến mẫu thân ta, nên ta đã nghĩ kỹ lắm rồi. Đoạn dẫu vô đạo, nhưng tội phản nghịch chưa rõ, nếu ta 184

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

đem quân đi đánh, quốc mẫu tất tìm phương ngăn trở. Hơn nữa người ngoài không biết cho ta là bất hữu đối với em và bất hiếu đối với mẹ. Bởi vậy ta phải mặc kệ hắn làm càn, nếu hắn làm quá, ta sẽ kể rõ tội trạng, đem quân đi đánh thì người trong nước không ai có lòng giúp hắn và Quốc mẫu cũng không trách được ta nữa.

Công tử Lã lại tâu:

- Chúa công nghĩ vậy rất là cao kiến, nhưng tôi sợ thế lực của Đoạn một ngày một lớn, lan ra như cỏ thì cắt không hết được. Chi bằng chúa công nên lập kế, để xem nếu quả là Đoạn có ý khác thì hắn nổi loạn đi, chúa công sẽ nhân tội đó đem quân đi đánh để trừng trị hắn.

Trang Công hỏi kế thì công tử Lã thưa:

- Lâu nay chúa công không vào triều yết kiến thiên tử nhà Chu(1) chắc cũng vì việc của Đoạn. Bây giờ chúa công giả cách vào triều yết kiến thiên tử, Đoạn thấy chúa công đi vắng tất đem quân đánh Trịnh. Tôi xin đem một đám quân đến phục sẵn ở gần đất Kinh Thành. Nếu Đoạn kéo quân đi, tôi lẻn chiếm lấy Kinh Thành, rồi chúa công cũng đem quân do đường tắt kéo tới, hai bên đánh ập lại thì Cung Thúc Đoạn dẫu có mọc cánh cũng không bay thoát được.

Trịnh Trang Công khen mưu của công tử Lã là hay, nhưng dặn công tử Lã không được nói hở cho một ai rõ.

Công tử Lã cáo từ lui ra, khen Sái Túc là cao kiến.

Ngay hôm sau, Trang Công ra triều giả cách truyền lệnh giao quốc chính cho Sái Túc để vào triều kiến thiên tử.

Được tin Trang Công vào triều kiến thiên tử, Khương Thị

mừng lắm, chắc chắn phen này Cung Thúc Đoạn cướp được nước Trịnh.

1 Thời Xuân Thu, các vua chư hầu phải triều Thiên tử.

Khương Thị viết một tờ mật thư sai người tâm phúc đem đến Kinh Thành, ước với Cung Thúc Đoạn đem quân đánh Trịnh. Người mang thư nửa đường bị công tử Lã cho người đón bắt giết đi, rồi đệ trình tờ mật thư tới Trịnh Trang Công.

Trang Công mở xem xong, lại niêm phong như cũ, cho người giả làm người tâm phúc của Khương Thị mang tới cho Cung Thúc Đoạn để lấy thư trả lời. Trong thư trả lời, Đoạn hẹn ngày mồng 5 tháng 5 thì khởi sự.

Trang Công bắt được thư nói:

- Tờ cung chiêu của Đoạn đây rồi, hẳn quốc mẫu không còn che chở được nữa.

Bấy giờ, Trang Công mới vào từ yết Khương Thị, nói là đi triều kiến thiên tử, nhưng kỳ thực đã đem quân theo đường tắt tiến tới Kinh Thành. Công tử Lã cũng đã đem quân đi phục trước ở gần Kinh Thành.

Cung Thúc Đoạn từ khi tiếp được mật thư của mẹ, cùng với con là công tử Hoạt thương nghị, rồi sai Hoạt sang mượn quân nước Vệ, còn tự mình đem quân kéo về Trịnh, nói phao lên là phụng mệnh Trịnh Trang Công về coi quốc chính.

Công tử Lã, sau khi Cung Thúc Đoạn đi rồi, sai quân lẻn vào Kinh Thành làm nội ứng mở cửa cho Lã vào chiếm lấy.

Công tử Lã chiếm xong Kinh Thành treo biển an dân, xưng tụng công đức Trịnh Trang Công, kể tội Cung Thúc Đoạn.

Cung Thúc Đoạn ra quân đến nửa đường thì được tin Kinh Thành thất thủ liền kéo quân về, trong lòng bối rối. Vừa lúc ấy, những quân sĩ của Đoạn cũng nhận được thư nhà, nói rõ sự bội phản của Đoạn, liền cùng nhau bỏ trốn mất già nửa.

Thấy quân sĩ bỏ trốn, Đoạn phải kéo quân về Cung Thành và than rằng: “Thực là mẹ ta giết ta”.

Đoạn lại được tin là Trang Công đem quân đến Cung Thành liền thở dài nói: “Ta còn mặt mũi nào trông thấy anh ta nữa.”

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

Nói xong, Đoạn đâm cổ tự tử.

Khi Trang Công kéo quân đến, thấy em đã chết thì ôm lấy thi thể khóc.

Trang Công lục những đồ hành trang của em, bắt được cái thư của mẹ gửi cho khi trước, liền lấy gói lẫn với bức thư trả

lời của Đoạn, sai Sái Túc đưa tất cả cho Khương Thị xem, rồi đem Khương Thị ra an trí tại Dĩnh Ấp. Trang Công lại thề một câu:

- Trừ khi nào xuống đến suối vàng thì ta mới có thể gặp mặt mẹ ta được.

Khương Thị trông thấy hai bức thư, xấu hổ quá, nghĩ không còn mặt mũi nào gặp Trang Công nữa, liền tức khắc dọn đồ

đạc để đi ra Dĩnh Ấp.

Trang Công ở Cung Thành về, không trông thấy mẹ, trong lòng lấy làm buồn rầu nói:

- Bất đắc dĩ, ta phải khiến để em ta tự sát, nay ta lại phải xa lìa mẹ ta, ta thật là một người trái đạo luân thường vậy.

Quan phong nhân ở Dĩnh Ấp là Dĩnh Khảo Thúc, vốn là người chính trực lại hiếu hữu, nghe tin Trang Công an trí mẹ

ở Dĩnh Ấp thì nói:

- Mẹ dẫu bất từ, con không nên bất hiếu. Chúa công làm việc này, hại đến phong hóa nhiều lắm.

Nói xong, Dĩnh Khảo Thúc bắt mấy con chim cú đem vào dâng Trịnh Trang Công. Trịnh Trang Công hỏi:

- Chim gì đấy?

Dĩnh Khảo Thúc tâu:

- Tâu chúa công, đây là chim cú. Giống chim này thì ban ngày quả núi ở trước mặt cũng không trông thấy nhưng ban đêm lại rất tinh, cái gì cũng trông rõ, dù vật nhỏ đến đâu.

Thật là loài chim chỉ trông thấy cái nhỏ mà không trông thấy cái lớn. Lúc nó bé, mẹ nó kiếm mồi nuôi nó, nhưng đến khi 187

lớn lên nó lại mổ mẹ nó. Vì nó là giống chim bất hiếu, nên tôi bắt để ăn thịt.

Trịnh Trang Công nín lặng không nói gì. Vừa lúc ấy, nhà bếp dâng lên một con dê chín.

Trịnh Trang Công sai cắt một miếng đưa cho Dĩnh Khảo Thúc ăn. Dĩnh Khảo Thúc chọn những chỗ ngon, đem bọc vào giấy giấu trong tay áo.

Trang Công lấy làm lạ, hỏi Dĩnh Khảo Thúc, thì Thúc đáp:

- Tâu chúa công, tôi có mẹ già, nhà lại nghèo. Ngày nào mẹ tôi cũng chỉ ăn các thức gia vị, chưa hề được ăn cái món ngon này. Nay chúa công ban cho tôi, nghĩ đến mẹ tôi, tôi phải bớt những chỗ ngon để mang về dâng mẹ.

Trịnh Trang Công khen:

- Nhà ngươi thực là một người hiếu tử.

Nói xong Trang Công thở dài buồn bã.

Dĩnh Khảo Thúc liền hỏi:

- Chẳng hay vì sao mà chúa công thở dài?

Trịnh Trang Công đáp:

- Nhà ngươi có mẹ già được nuôi để trọn đạo làm con, ta đây tuy làm vua một nước chư hầu thật không được bằng nhà ngươi.

Dĩnh Khảo Thúc, giả cách không biết, hỏi:

- Quốc mẫu hiện đang mạnh khỏe, sao chúa công lại nói như vậy.

Trang Công liền đem việc Khương Thị thông mưu cùng Cung Thúc Đoạn để cướp nước Trịnh và việc an trí Khương Thị ở Dĩnh Ấp nói cho Khảo Thúc nghe. Lại nói cho Khảo Thúc biết là có lời thề “suối vàng”, nay hối lại không kịp.

Dĩnh Khảo Thúc nói:

- Cung Thúc Đoạn nay đã tự sát rồi. Quốc mẫu chỉ có một mình chúa công là con, chúa công lại không phụng dưỡng 188

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

thì có khác gì giống chim cú. Nếu chúa công ngại về lời thề

“suối vàng” tôi có cách này có thể giải được.

Trang Công hỏi thì Khảo Thúc tâu:

- Chúa công sai đào đất xuống tận suối vàng, làm một cái nhà hầm, rước Quốc mẫu xuống ở đấy, rồi nói cho Quốc mẫu biết những cái tình nhớ mong của chúa công. Tôi chắc rằng Quốc mẫu cũng nhớ chúa công và cũng muốn gặp mặt chúa công lắm. Chúa công gặp Quốc mẫu ở dưới nhà hầm sẽ không trái với lời thề suối vàng trước.

Trịnh Trang Công mừng lắm, sai ngay Dĩnh Khảo Thúc đến yết kiến Khương Thị, kể hết sự nhớ mong của mình, và xin rước về phụng dưỡng.

Khương Thị vừa tủi vừa mừng.

Nhà hầm làm xong. Dĩnh Khảo Thúc rước Khương Thị

xuống trước rồi Trịnh Công xuống sau, sụp lạy mẹ mà nói rằng:

- Con là Ngộ Sinh, bấy lâu bất hiếu không phụng dưỡng mẹ, xin mẹ tha lỗi cho con.

Khương Thị đỡ Trang Công dậy, nói:

- Lỗi trước là tự mẹ, không việc gì đến con.

Hai mẹ con ôm nhau khóc, rồi dắt nhau trèo lên mặt đất.

Trang Công đỡ mẹ lên xe, ngồi hầu một bên để cầm cương ngựa. Người nước Trịnh trông thấy, ai cũng khen Trang Công là người có hiếu.

Trang Công cảm ơn Dĩnh Khảo Thúc đã làm cho mẹ con mình được đoàn tụ, phong cho làm đại phu.

Trang Công lại tha tội cho công tử Hoạt là con Cung Thúc Đoạn để cho ở nước Vệ thờ cúng cha.

NGHÈO HƠN GIÀU BẤT NGHĨA

Đời vua Văn Công nước Lỗ có ba vị đại thần nhà vua tin dùng giao cho quyền chính là Trọng Toại, Thúc Trọng Bành Sinh và Thúc Tôn Đắc Thần.

Thúc Trọng Bành Sinh là người hiền hậu được vua Văn Công phong làm Thái phó, lĩnh trách nhiệm dạy bảo thế tử

Ác. Còn Trọng Toại và Thúc Đắc Thần thì chia nhau giữ binh quyền và điều khiển mọi việc triều chính.

Vua Lỗ Văn Công lập con gái vua Tề Chiêu Công là nàng Khương Thị làm phu nhân. Khương Thị sinh được hai con là thế tử Ác và công tử Thị.

Ngoài ra Lỗ Văn Công lại lấy nàng Kính Doanh nước Tần làm thiếp, và cũng sinh được hai con là công tử Tiếp và công tử Thúc Miện.

Trong bốn người con của Văn Công thì công tử Tiếp là lớn tuổi hơn cả, nhưng vì không phải là đích tử nên không được lập làm thế tử.

Nàng Kính Doanh được vua Văn Công sủng ái vẫn có ý muốn giành ngôi thế tử cho công tử Tiếp. Nàng đem tiền của đút lót Trọng Toại để nhờ bênh vực cho con. Trọng Toại nhận lễ, nhưng vẫn e Thúc Trọng Bành Sinh, Thái phó của thế tử

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

Ác, vốn là người hiền. Trọng Toại liền tìm cách đồng mưu với Thúc Tôn Đắc Thần, là người tham danh trục lợi, có thể

lấy tiền bạc mua chuộc được.

Trọng Toại xui công tử Tiếp thỉnh thoảng đến thăm Đắc Thần; lại đem lễ vật của nàng Kính Doanh chia cho Đắc Thần.

Vì đó, công tử Tiếp cũng được lòng Đắc Thần lắm.

Chẳng bao lâu vua Lỗ Văn Công chết, thế tử Ác lên nối ngôi. Các nước chư hầu trong đó có nước Tề, sai sứ tới viếng vua cũ và mừng vua mới.

Trọng Toại bàn với Thúc Tôn Đắc Thần nên kết hiếu với Tề để làm vây cánh cho công tử Tiếp. Đắc Thần đồng ý và hai người dắt nhau sang xứ Tề để tạ ơn vua Tề đã sai người sang viếng tang, rồi nhân cơ hội kết giao cùng vua Tề là Huệ

Công để tính việc thí nghịch và lập công tử Tiếp lên làm vua.

Tề Huệ Công nhận lời kết giao cùng hai người.

Đi sứ ở Tề về, Trọng Toại và Đắc Thần có nói cùng Quý Tôn Hàng Phủ, một vị đại thần nước Lỗ rằng:

- Nước Tề ngày nay cường thịnh. Vua Tề lại yêu công tử

Tiếp, có ý muốn đem đích nữ gả cho.

Hàng Phủ hỏi:

- Tại sao Tề hầu không gả đích nữ cho chúa công, lại muốn gả cho công tử Tiếp?

Trọng Toại đáp:

- Vua Tề nghe nói công tử Tiếp là người hiền nên muốn cùng công tử Tiếp kết giao. Vua Tề có ý không muốn chúa công ta lên ngôi giữ cơ nghiệp nước Lỗ.

Hàng Phủ nín lặng không nói gì, tìm Thúc Trọng Bành Sinh nói lại chuyện đó, và bảo:

- Trọng Toại có ý khác, ta nên đề phòng.

Thúc Trọng Bành Sinh đáp:

- Ngôi vua đã định rồi, ai còn dám có ý khác.

Sau đó, Bành Sinh cũng không để ý gì tới chuyện ấy nữa.

Trọng Toại lập mưu cùng nàng Kính Doanh đánh lừa Lỗ Hầu là thế tử Ác ra chuồng ngựa cùng với công tử Thị rồi cho dũng sĩ đổ ra mưu hại cả hai người.

Giết xong vua Lỗ và công tử Thị rồi, Trọng Toại lại tìm cách giết nốt Thúc Trọng Bành Sinh, vì Trọng Toại hiểu nếu Bành Sinh còn sống thì mọi việc không xong.

Trọng Toại sai nội thị giả cách phụng mệnh vua Lỗ đến triệu Bành Sinh. Bành Sinh mũ áo sắp sửa vào cung thì người nhà là Công Nhiễm Vụ Nhân biết cái mưu của Trọng Toại, liền nắm áo Bành Sinh giữ lại.

Bành Sinh không nghe, dứt đứt vạt áo nói:

- Ta phải vào cung, dù có chết cũng được tận trung với vua.

Bành Sinh vào cung, không thấy vua Lỗ, lại thấy nội thị

bảo nhà vua ra chuồng ngựa, liền đi ra đó thì bị bọn dũng sĩ của Trọng Toại giết chết, rồi đem thi thể vùi xuống đống phân ngựa.

Trọng Toại sai người báo cùng Khương Thị và vua Lỗ là công tử Thị bị ngựa đá chết.

Sau đó Trọng Toại cùng Thúc Tôn Đắc Thần lập công tử

Tiếp lên làm vua tức là vua Lỗ Tuyên Công.

Người nước Lỗ biết tin ai cũng thương vua Lỗ và công tử Thị.

Công tử Thúc Miện là em ruột vua Lỗ Tuyên Công thấy anh mình làm điều bất nghĩa chiếm đoạt ngôi vua cũng không bằng lòng và tỏ ý thương tiếc vua cũ và công tử Thị, nên không vào chúc mừng vua Tuyên Công.

Lỗ Tuyên Công sai người đến triệu muốn phong làm quan to, nhưng Thúc Miện tỏ ý khinh bỉ từ chối không chịu tới.

Có người hỏi Thúc Miện vì cớ gì không chịu làm quan, thì Thúc Miện đáp:

- Tôi không phải là ghét gì phú quý, nhưng làm quan ở

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

triều đình, thấy anh tôi, tôi lại nhớ đến vua cũ và công tử Thị

bị chết ở chuồng ngựa.

Người kia bảo:

- Công tử đã cho anh là bất nghĩa sao không bỏ đi nơi khác.

Thúc Miện trả lời:

- Anh tôi chưa nỡ tuyệt tình với tôi, sao tôi lại tuyệt tình trước.

Lỗ Tuyên Công sai sứ đến thăm hỏi và đưa tặng vàng bạc.

Thúc Miện nhất định chối từ không chịu nhận, mặc dầu sứ

giả khẩn khoản nói mãi.

Người bạn của Thúc Miện bảo:

- Công tử không chịu làm quan cũng đủ tỏ nghĩa khí rồi, nay công tử túng thiếu, chúa công ban cho, can gì mà từ chối.

Dẫu công tử nhận cũng không ai dám bảo là tham.

Thúc Miện chỉ cười không nói gì.

Sứ giả về thuật lại với Tuyên Công. Tuyên Công nói:

- Em ta vốn nghèo, lại không chịu nhận của ta ban cho, không biết lấy gì mà tiêu.

Một đêm, Lỗ Tuyên Công sai người đến rình xem Thúc Miện làm gì, thì thấy đang thắp đèn ngồi khâu giày để ngày hôm sau đem bán lấy tiền ăn.

Lỗ Tuyên Công than rằng:

- Em ta đành chịu nghèo không nhận của ta ban cho, coi là của bất nghĩa. Thôi ý em ta đã muốn học lối Bá Di, Thúc Tề, ta cũng mặc.

Thúc Miện suốt đời không chịu ăn lộc của anh, cũng không nhắc đến lỗi của anh bao giờ.

Người nước Lỗ ai cũng khen Thúc Miện là người nghĩa khí, cam chịu nghèo, không muốn giàu bất nghĩa.

CẮT THỊT NUÔI VUA

Về đời Chiến quốc, vua Hiến Công nước Tấn có nàng ái phi là Ly Cơ rất nham hiểm. Ly Cơ xui vua Hiến Công giết chết thế tử là Thân Sinh, khiến cho hai em ruột Thân Sinh là công tử Trùng Nhĩ và công tử Di Ngô phải bỏ nước Tấn trốn đi ngoại quốc. Công tử Trùng Nhĩ là anh trốn sang nước Địch, còn công tử Di Ngô trốn sang nước Lương.

Hiến Công cũng không tha, sai hai tướng Bột Đề đi bắt Trùng Nhĩ, và Giả Hoa đi bắt Di Ngô, nhưng hai công tử

đều trốn thoát. Công tử Trùng Nhĩ trốn sang nước Địch, có rất nhiều lương tướng hiền thần trong triều đi theo. Tới nước Địch, Trùng Nhĩ được vua nước Địch đón tiếp niềm nở ân cần.

Trùng Nhĩ tới nước Địch rồi, một lúc sau lại có thêm văn thần võ tướng nước Tấn tới, những người này mến đức của công tử Trùng Nhĩ và tin rằng mai sau công tử Trùng Nhĩ sẽ

làm nên được nghiệp lớn, nên cùng nhau bỏ nước đi theo để

tránh sự vô đạo của Tấn Hiến Công.

Trong số những người đi theo Trùng Nhĩ bấy giờ có Ngụy Thù, Điên Hiệt là võ tướng; Hồ Xạ Cô, Giới Tử Thôi, Nguyên Trẩn, Triệu Thôi là văn thần có danh tiếng khắp mọi nước chư hầu.

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

Thấy mọi người bỏ quan theo mình, Trùng Nhĩ hỏi:

- Sao các người đang hưởng phú quý ở triều đình lại bỏ đi theo ta trong bước lưu vong này?

Bọn kia cùng đáp:

- Chúa công thất đức, yêu Ly Cơ, giết thế tử, gây mầm loạn cho nước nhà. Chúng tôi thấy công tử là bậc hiền minh, nên quyết chí theo công tử để mai ngày công tử phục quốc, dẹp loạn cho nước Tấn.

Công tử Trùng Nhĩ trước tấm chân tình của mọi người khóc mà nói rằng:

- Các người có lòng giúp tôi, sẽ không bao giờ tôi dám quên ơn.

Ngụy Thù, một dũng sĩ có danh nói:

- Công tử ở đất Bồ mấy năm nay, người đất Bồ ai cũng yêu mến, xin một lòng theo công tử. Nay nếu công tử nhờ

nước Địch giúp quân và lấy thêm quân đất Bồ kéo về, tôi chắc trong triều sẽ có người làm nội ứng. Bấy giờ công tử trừ

lũ gian thần súc siểm, giữ yên lấy cơ nghiệp nước nhà chẳng hay hơn là trốn tránh ở mãi đây.

Trùng Nhĩ đáp:

- Nhà ngươi nói hăng hái lắm, nhưng nhà ngươi chỉ nghĩ

đến ta mà không nghĩ đến quân phụ ta. Ta kéo quân về, quân phụ ta sẽ sợ hãi, ta sẽ mang tội bất hiếu.

Ngụy Thù, thấy Trùng Nhĩ không nghe lời mình, phàn nàn là Trùng Nhĩ sợ bọn gian đảng của Ly Cơ thì Hồ Yển, một người bầy tôi tòng vong khác của Trùng Nhĩ bảo:

- Công tử không sợ gì bọn Ly Cơ đâu, công tử chỉ sợ hại đến hai tiếng danh nghĩa mà thôi.

Hai công tử Trùng Nhĩ và Di Ngô đi trốn được ít lâu thì Tấn Hiến Công lâm bệnh rồi chết. Hai con nàng ái phi Ly Cơ

là các công tử Hề Tề và Trác Tử kế tiếp nhau lên ngôi đều bị triều thần nổi lên giết chết. Nước Tấn vì vậy mà sinh loạn.

Về sau triều đình phải sai người đi đón công tử Trùng Nhĩ

nước Địch về, nhưng công tử Trùng Nhĩ từ chối không chịu về, nói rằng:

- Trùng Nhĩ này là người có tội phải đi trốn, lúc quân phụ

còn không được phụng dưỡng, lúc quân phụ mất không được dự tang, có lẽ đâu nay nhân lúc trong nước biến loạn chiếm lấy ngôi vua sao cho phải đạo.

Các quan đình thần đón không được Trùng Nhĩ, liền bàn nhau phái người sang nước Lương đón công tử Di Ngô.

Công tử Di Ngô từ khi đi trốn, vẫn mong trong nước biến loạn để tiện dịp về cướp ngôi vua. Trông thấy các quan đình thần tới đón, mừng lắm, liền mượn quân nước Tấn để về nước.

Vua nước Tấn bấy giờ là Mục Công, thấy sứ giả của Di Ngô tới, liền cùng quần thần bàn định thì quan đại phu là Kiển Thúc tâu:

- Vì Tấn Hầu Hiến Công vô đạo nên hai đích tử là công tử Trùng Nhĩ và công tử Di Ngô đều phải đi trốn. Công tử

Trùng Nhĩ ở nước Địch, công tử Di Ngô ở nước Lương. Tôi nghe nói Trùng Nhĩ là người hiền, vậy trước khi đáp lời sứ

giả của công tử Di Ngô, chúa công nên sai người sang nước Địch và nước Lương dò xét xem hai công tử Trùng Nhĩ và Di Ngô, ai là người xứng đáng hơn, chúa công sẽ giúp. Như

vậy vừa được ân với nước Tấn, vừa khỏi phí công lập một người kém đức.

Tấn Mục Công lấy làm phải liền sai công tử Trí trước sang Địch để thăm Trùng Nhĩ, rồi sau sang Lương để thăm Di Ngô.

Công tử Trí tới nước Địch bảo Trùng Nhĩ:

- Nước Tấn đang có loạn, công tử nên nhân dịp này về để

giữ lấy ngôi báu. Chúa công tôi sẽ đem quân giúp công tử.

Trùng Nhĩ đáp:

- Xin đa tạ quý quốc và nhờ ngài về chuyển đệ lên Tần Hầu tấm lòng biết ơn của kẻ lưu vong này, nhưng kẻ lưu 196

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

vong này đâu dám làm thế. Quân phụ tôi mới chết, nếu tôi xử sự như vậy, sẽ mang tiếng là bất hiếu và bất nghĩa với các nước chư hầu.

Nói xong phục xuống đất mà khóc.

Công tử Trí biết Trùng Nhĩ là người hiền, cáo từ lui ra, trong bụng có ý khen. Công tử Trí lại sang nước Lương, gặp công tử Di Ngô thì Di Ngô khẩn khoản nhờ về nói với vua Tấn giúp quân để mình về nước, và hứa sẽ cắt đất để tạ ơn nước Tần.

Nước Tần giúp quân cho công tử Di Ngô, Di Ngô về nước, lên làm vua tức là Tấn Huệ Công.

Tấn Huệ Công là một người vô đạo, làm nhiều điều tàn ác khiến cho dân chúng không phục. Huệ Công tuy làm vua nhưng vẫn sợ một mai công tử Trùng Nhĩ trở về thì ngôi vua của mình không vững, nên tìm hết cách để diệt Trùng Nhĩ.

Trong triều bao nhiêu văn võ trung thần như Lý Khắc, Giả

Hoa bị nghi là luyến tiếc công tử Trùng Nhĩ, Huệ Công đều kiếm cớ giết hết. Huệ Công lại bội ước với nước Tần gây nên chiến tranh rất là khổ sở cho dân chúng.

Từ lúc làm vua, Huệ Công đêm ngày lo lắng về Trùng Nhĩ

ở nước Địch, chỉ e quân Địch phù Trùng Nhĩ về đánh Tấn, nên mới ngầm sai một viên tướng là Bột Đề sang nước Địch để hành thích Trùng Nhĩ. Vua nước Địch biết tin đó, ra lệnh cho các quan ải phải khám xét người lạ rất nghiêm ngặt nên Bột Đề không vào được tới Địch đô để hạ sát Trùng Nhĩ, đành phải quay về.

Công tử Trùng Nhĩ cũng biết tin ấy, liền định trốn đi nơi khác. Các quần thần tòng vong bàn nên trốn sang nước Tề, vì nước Tề bây giờ dưới triều vua Hoàn Công đang làm bá chủ chư hầu.

Công tử Trùng Nhĩ từ khi sang nước Địch được lòng vua Địch nên vua Địch đem nàng Quý Ngỡi gả cho. Trước khi từ