Tiết Tháo Một ThờiPartie 7
À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.
Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.
ông vào phòng thủ Hà Tiên với chức Thành Thủ Ủy, nhưng Hà Tiên đã bị Pháp chiếm trước khi ông tới nơi. Ông rút quân về Hòn Chông để chiêu mộ thêm quân sĩ và liên lạc với nghĩa quân các nơi như Cái Nước, Hóc Hỏa, Thầy Quơn, Chắc Băng v.v...
Rất nhiều nhân sĩ địa phương hưởng ứng và giúp đỡ ông như Quản Thứ, Quản Thành, Đội Chín, Quản Câu, Xã Lý, Bà Điều, Bà Đỏ... Nhờ sự hưởng ứng và giúp đỡ này, ông đã có một thế lực đáng kể. Ông quyết định đánh đồn Kiên Giang vào đêm hôm 16-6-1866 và đã chiếm được đồn một cách dễ
dàng. Trong trận này, nghĩa quân giết được 5 võ quan và 67
lính giặc, đoạt được 100 khẩu súng và nhiều đạn dược.
Ông giao đồn cho Lâm Quang Ký trấn giữ và rút về núi Sập.
Ngày 18 tháng 8 năm 1866, bộ chỉ huy Pháp tại Mỹ Tho được tin Kiên Giang thất thủ. Bọn chúng rất lấy làm kinh ngạc, vì đồn Kiên Giang rất kiên cố. Chúng ra lệnh cho Thiếu tá Ausert từ Vĩnh Long đem toàn lực về tái chiếm Kiên Giang.
Cùng đi theo bọn quân Pháp có hai tên Việt gian Trần Bá Lộc và Đỗ Hữu Phương.
Bọn Pháp đến Long Xuyên rồi theo kinh núi Sập tiến vào Kiên Giang.
Ông Nguyễn Trung Trực đoán trước được đường tiến quân của địch, đã huy động dân chúng đắp đập cản nước sông, nhưng thế địch mạnh chúng tiến qua được núi Sập và vào được Sóc Suông. Ông vội vã về Kiên Giang lo việc chống cự, nhưng thất bại, lại phải rút lui về Hòn Chông.
Tái chiếm xong Kiên Giang, bọn giặc đuổi theo ông tới Hòn Chông; ông phải rút quân về Phú Quốc, nơi đây có nghĩa quân của ông Quản Thứ. Ông bàn với ông Quản Thứ định ngày tiến đánh Hà Tiên. Quân Pháp lại đuổi theo, ông rút quân về cửa Cạn (Phú Quốc) lập chiến khu.
Quân Pháp, được tuần dương hạm Groenland tăng cường, tuần thám đảo Phú Quốc vào ngày 19-9-1868.
Sau đó, tên Việt gian Huỳnh Công Tấn được Pháp phong chức lãnh binh dẫn giặc tới tấn công căn cứ của nghĩa quân 138
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
ở Hàm Ninh nhưng chúng đã thất bại vì quân ta đã liều chết cố thủ.
Thấy đánh không thắng nghĩa quân, bọn Pháp theo kế hoạch của Việt gian Huỳnh Công Tấn, sai người tới bắt mẹ và con cái ông đang còn ẩn náu ở Hà Tiên. Chúng báo tin này cho ông hay, dụ ông về hàng, nhưng ông không chịu.
Huỳnh Công Tấn liền bắt rất nhiều đàn bà trẻ con và các cụ già ở quanh vùng trói lại dẫn đến trước đồn ông, và rêu rao sẽ giết tất cả những người này nếu ông còn tiếp tục chống Pháp. Chúng bắt buộc ông phải đầu hàng.
Không thể nhìn đồng bào vì mình mà chết oan, ông giải tán nghĩa quân và tự nộp mình cho giặc.
Huỳnh Công Tấn và Thiếu tá Bouchet Rivière giải ông về Rạch Giá rồi đưa ông lên Sài Gòn. Pháp đem quyền cao chức trọng ra dụ dỗ ông, nhưng ông một mực từ chối. Chống Pháp không thành công, ông chịu chết để đền ơn đất nước.
Trước nghĩa khí của ông, bọn Pháp rất khâm phục, nhưng ông không chịu theo chúng, chúng buộc lòng phải giải ông về
Kiên Giang để hành quyết vào ngày 27 tháng 10 năm 1868.
Ông chết đi, dân chúng rất thương tiếc và người người đều căm giận lũ Việt gian Huỳnh Công Tấn. Cụ Huỳnh Mẫn Đạt có đôi câu đối để ghi công nghĩa sĩ Nguyễn Trung Trực.
Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa,
Kiếm bạc Kiên Giang khấp quỷ thần.
Lược dịch của Thạc Nhân:
Lửa hồng Nhật Tảo lừng trời đất,
Gươm bạc Kiên Giang khóc quỷ thần.
Nhớ ơn ông, dân chúng Kiên Giang có lập đền thờ ông tại các xã Vĩnh Thanh Vân và Vĩnh Hòa Hiệp.
Tương truyền rằng, trước khi thụ hình, ông có làm bài thơ
tuyệt mệnh:
Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên,
Yêu gian đảm khí hữu long tuyền.
Anh hùng nhược ngộ vô dung địa,
Báo hận thâm cừu bất đái thiên.
Bản dịch của Đông Hồ:
Theo việc binh nhung thuở trẻ trai,
Phong trần hăng hái tuốt gươm mài.
Anh hùng gặp phải hồi không đất,
Thù hận chan chan chẳng đội trời.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
HOÀNG DIỆU VỚI
THÀNH HÀ NỘI
Năm Nhâm Ngọ. Cõi Việt Nam ta đang lâm vào tình cảnh loạn ly.
Trong, giặc nổi tứ tung, mặc triều đình ra công trừ dẹp; ngoài, quân Pháp đã xâm lăng hết miền Nam nước Việt và đang kiếm cớ để nhòm ngó miền Bắc, tuy ta đã theo một đường lối ngoại giao hòa hoãn.
Và ngày mồng 6 tháng 3 năm 1882, bỗng dưng quân Pháp, dưới quyền điều khiển của Henri Rivière, kéo từ Gia Định tới đóng binh thuyền tại Đồn Thủy, sát Hà Nội. Giữ Thành Hà Nội bấy giờ là Tổng đốc Hoàng Diệu. Thấy sự hiện diện đột nhiên của quân Pháp, Hoàng Diệu không khỏi nghi ngờ
và lo sợ. Ngài liền một mặt sai quân bố trí canh phòng cẩn mật, một mặt sai quan tuần phủ Hoàng Hữu Xứng mang lễ
vật sang trại quân Pháp để tiếp đón tử tế. Hôm sau, Henri Rivière vào thành để đáp lễ. Hắn thấy quân ta bố trí, tỏ ý bất mãn và yêu cầu triệt hết đi. Lẽ tất nhiên Tổng đốc Hoàng Diệu không chịu lời yêu cầu đó, và hai bên găng nhau không bên nào chịu nhường bên nào. Cho đến sáng mồng 8 tháng 3, Án sát Tôn Thất Bá xin với Hoàng Tổng đốc ra ngoài thành 141
để thương thuyết cùng với Pháp, may ra có tránh được binh đao. Sự thực ấy chỉ là một cớ để Tôn Thất Bá thoát khỏi thành Hà Nội vì y cũng đã cùng Pháp tư thông từ trước.
Y đi khỏi không được bao lâu, bên quân Pháp nổ súng bắn vào thành Hà Nội. Quân Việt Nam kháng cự anh dũng từ 8
giờ sáng đến 11 giờ trưa, nhưng về sau sự bội phản của một số binh lính đã theo Pháp, kho thuốc súng của chúng ta bị
đốt cháy khiến tinh thần quân ta nao núng và nhờ đó quân Pháp vào được trong thành.
Thành bị hạ. Thật là đau đớn cho Hoàng Tổng Đốc. Giữ
thành, thành mất, chỉ còn cách chết theo thành cho trọn nghĩa.
Vì vậy Hoàng Công đã mặc triều phục đi vào hành cung, ngoảnh mặt về cửa Khuyết lễ tạ nhà vua rồi thắt cổ tự tử chết.
Trong khi ấy thì văn quan võ tướng mỗi người chạy trốn một nơi. Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng còn lại trong thành, chạy đi tìm Hoàng Tổng Đốc, nhưng có tên Án sát phản bội Tôn Thất Bá tới khuyên can.
Về sau dân chúng có làm lễ truy điệu Tổng Đốc Hoàng Diệu rất long trọng và sĩ phu đã khóc người bằng những bài văn tế rất sâu xa cũng như bằng những đôi câu đối rất đáng nhớ. Hoàng Hữu Xứng có một đôi câu đối viếng như sau:
- Trinh tai tiết độc khổ như không! Diệc viết tận tâm yên, thị phi hữu triều đình định luận.
- Quý hỹ chi phất quả ư ngã! Phương chi năng tử
giả, cổ kim vi thiên hạ tối nan.
Tạm dịch:
Trung thay, một mình ông trọn đạo làm tôi, thế là hết, phải trái tùy triều đình định liệu.
Thẹn thay, riêng phần ta không đạt ý muốn, cho nên việc chết là việc khó làm xưa nay.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
Chết theo thành, Tổng đốc Hoàng Diệu đã được cả quốc dân ghi ơn, và càng nhớ tới Tổng đốc Hoàng Diệu, người ta càng chê Tôn Thất Bá phản bội nước nhà.
Chết đâu phải là dễ, nhưng vì nghĩa, người ta thường không sợ chết.
Với thành Hà Nội, quân Pháp hai lần tới chiếm đánh, đã hai lần khiến chủ tướng thủ thành phải tìm cái chết để báo đền nợ nước. Lần trước, Nguyễn Tri Phương chống với Francis Garnier; lần sau, Hoàng Diệu chống với Henri Rivière.
Về lần thất thủ Hà Nội năm Nhâm Ngọ, tập “chính khí ca” của Nguyễn Văn Giai đã nêu hết kẻ hay người dở, và đã thuật rõ mọi điểm khen chê.
ÔNG TÔN THẤT ĐẠM
Ông là con trai quan phụ chính Tôn Thất Thuyết và là một võ tướng phò vua Hàm Nghi chống quân Pháp ở Quảng Bình và Hà Tĩnh.
Vua Hàm Nghi cử ông giữ chức Khâm sai Tán Lý quân vụ
ở gần Hà Tĩnh, chỗ hai hạt Kỳ Anh và Cẩm Xuyên. Chính ông giữ việc liên lạc giữa nhà vua và quân Cần Vương ở
các nơi.
Năm 1888, khi tên Trương Quang Ngọc phản bội bắt vua Hàm Nghi nộp cho Pháp và giết chết em ông là Tôn Thất Thiệp, ông biết đại sự đã hỏng, liền tự sát để giữ tròn tiết nghĩa. Năm ấy ông mới 22 tuổi.
Trước khi chết, ông lo bảo toàn tính mệnh cho các tướng sĩ
và quân lính theo ông. Ông đã viết hai lá thư, lời lẽ rất thống thiết, để tỏ rõ tấm lòng trung nghĩa của mình, quyết đem thân thế đền nợ núi sông và để yêu cầu người Pháp đừng sát hại hoặc áp bức những tướng sĩ theo mình.
Ông đã tuẫn tiết trước mặt ba quân. Sử thuật lại rằng trước khi tuẫn tiết ông hội họp tất cả tướng sĩ, khuyên họ ra thú ở
Đồn Thuận Bài rồi về quê hương an nghiệp làm ăn, không nên nhậm chức tước của người Pháp. Ông bảo:
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
- Còn về phần tôi, nếu người Pháp có hỏi, các ông cứ bảo họ vào trong rừng này mà tìm mả.
Khuyên nhủ tướng sĩ xong, ông trật chiếc khăn đang đội trên đầu, thắt cổ tự tử.
Tướng sĩ lấy làm thương xót vô cùng, và chính vua Hàm Nghi, khi được tin này, cũng rất đau đớn.
Dưới đây là hai bức thư ông đã viết trước khi chết, bức thứ nhất đệ gửi vua Hàm Nghi và bức thứ hai gửi Thiếu Tá Dabat, sĩ quan chỉ huy Đồn Thuận Bài.
Bức thư thứ nhất:
“Niên hiệu Hàm Nghi thứ tư, tháng 11 ngày mồng 8.
Thần, Tôn Thất Đạm, Khâm sai chưởng lý quân vụ, cúi dâng ngự lãm.
Không được gần gũi Hoàng Thượng để hộ giá khi có phản thần làm việc ám muội, thần mang tội rất lớn.
Song đây là mệnh trời xui nên nước ta gặp bước gian nguy, và các công thần không được gần vua để cứu giá.
Các quan văn võ sẽ mang hận ấy suốt đời, vậy xin Hoàng thượng tha thứ cho và thề sẽ hết lòng trung cho đến thác.”
Bức thư thứ hai:
“Niên hiệu Hàm Nghi thứ tư, tháng mười một, ngày mồng 8.
Khâm sai đại thần Tôn Thất Đạm, thư kính sĩ quan Pháp, quản đồn Thuận Bài.
Những việc khốn nạn vừa xảy ra ở nước tôi, bắt buộc tôi phải viết thư cho Ngài.
Cha tôi vì việc nước phải xuất dương, hiện chưa về, tôi phải kế cái nghiệp lớn lao mà vua tôi chẳng quản tôi tuổi trẻ tài hèn, đã phó thác cho tôi.
Tôi không hiểu sao trời lại sai khiến cho vua phó thác cho tôi cái trách nhiệm quan trọng ấy, và tôi rất tiếc rằng không 145
được ở cạnh vua để cứu giá và giết chết bọn phản thần hoặc cùng chết với em tôi khi quân phản nghịch bắt vua nộp cho quân địch.
Nếu bọn giáo dân không xen vào giữa người Pháp và người Nam thì không bao giờ có chiến tranh. Nếu chúng tôi có chống với người Pháp chẳng qua chỉ là vì phận sự phải che chở cho bờ cõi và hết lòng trung theo vua khi Ngài rời bỏ kinh thành.
Nay chúng tôi bị thua, cái then của chiến bại đã đến bước cùng. Vậy xin Ngài cho các tướng sẽ được về quê hương an trí làm ăn và không phải ra thờ triều đình mới”(1).
Những người trung dũng như Tôn Thất Đạm, khi quân Pháp mới xâm chiếm nước ta, không phải là hiếm, và chính những người này đã khiến cho người Pháp phải e dè dân Nam. Nếu vì vận nước người Pháp đã đô hộ nước Nam, thì lòng người trong suốt thời gian đô hộ gần một trăm năm, không lúc nào người Nam lại quên giang sơn đất nước, ngoại trừ bọn vong bản cam tâm làm nô lệ cho ngoại quốc.
1 Theo “Việt Nam danh nhân tự điển” của Nguyễn Huyền Anh.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
ÔNG NGUYỄN CAO TỰ SÁT
TRƯỚC MẶT VIÊN THỐNG SỨ
BIHOURD
Trong suốt gần một thế kỷ nước Việt Nam ta thuộc Pháp, đã có biết bao anh hùng liệt sĩ, hữu danh và vô danh, vì nước bỏ mình. Đối với các liệt sĩ đó, chúng ta luôn luôn phải nhớ
ơn và có nhiệm vụ nêu cao nghĩa khí của các Người.
Để tỏ một phần nào lòng biết ơn đối với các vị đó, ở đây xin thành kính thuật lại những cử chỉ liều chết vì non sông của vài ba vị. Cứ kể chép lại những cái chết vị Nghĩa của các liệt sĩ chống Pháp, trong lúc Pháp chiếm đóng Việt Nam thì rất nhiều, không biết mấy nghìn trang sách cho xuể, do đó ở đây chỉ xin thuật lại cái chết của vài ba vị cũng đủ tượng trưng cho cái tinh thần vị nước bất diệt của tất cả các vị khác.
Xin trước hết thuật lại chuyện Án sát Nguyễn Cao.
Nguyễn Cao hiệu là Trác Phong, người làng Cách Bi tỉnh Bắc Ninh, sinh năm Thiệu Trị nguyên niên.
Lớn lên thi đỗ Thủ khoa, ông làm quan với triều Nguyễn, đã từng dự trận đánh giết Ngô Côn với ông Ông Ích Khiêm, năm Nhâm Ngọ 1870, và trước đó đã từng được ông Vũ
Trọng Bình là Tổng đốc Hà Ninh kiêm chức Tuyên Thái 147
Lang quân thứ dùng trong việc quân. Ông là người văn võ kiêm toàn lại lắm mưu lược nên đã giúp ích rất nhiều trong việc tiễu giặc. Về sau ông lại cùng các ông Hoàng Kế Viêm, Tôn Thất Thuyết tiễu trừ giặc Cờ vàng Hoàng Sùng Anh. Sau khi giặc Hoàng Sùng Anh tan, ông được cử giữ chức Án sát Thái Nguyên với nhiệm vụ phụ lực quan quân tiễu trừ giặc cỏ tại các tỉnh mạn ngược: Cao Bằng, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Cạn.
Ông giữ chức này không lâu vì đến năm Quý Mùi (1883) thì triều đình ký Hòa ước nhận sự bảo hộ của người Pháp tại Trung và Bắc Việt.
Được tin này, ông Nguyễn Cao đã ôm mặt khóc và sau bỏ
quan về Hải Dương giúp ông Nguyễn Thiện Thuật, tức là ông Tán Thuật, chống Pháp ở vùng Bãi Sậy. Tổng hành dinh của ông Tán Thuật đóng ngay ở làng Xuân Dục, quê ông Thuật, và đã quy tụ được rất nhiều nhân sĩ chống Pháp. Quân Bãi Sậy chống nhau với quân Pháp, trận được trận thua, mãi cho tới năm Bính Tuất (1886) mới bị quân Pháp đánh tan. Ông Tán Thuật, sau đó, cùng một số đồng chí trốn sang Tàu để
gây cơ sở, nhưng công việc không thành.
Trước sự tan vỡ của đại sự, ông Nguyễn Cao chỉ đành ngậm ngùi và tìm đường lẩn trốn những con mắt của bọn tay sai Pháp. Ông phải trốn đến làng Kim Giảng, phủ Ứng Hòa.
Hà Nội, lúc đó chưa có tỉnh Hà Đông, để dạy học. Nhưng về sau ông cũng bị bắt vì sự phản bội của lãnh binh Nhung, một tay sai của Pháp, đầy tớ của Lê Hoan.
Ông bị dẫn tới trước mặt Thống sứ Pháp là Bihourd. Tên này dụ ông quy thuận sẽ được trọng dụng và lại được bổ án sát Thái Nguyên, nếu không, sẽ bị chém đầu.
Ông Nguyễn Cao đã dùng giọng khinh bỉ trả lời Bihourd, nói cho y biết, quan tước của y không thể mua chuộc được ông như những bọn phản dân hại nước.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
Rồi ông vừa nói chuyện, vừa tự rạch bụng, moi ruột, cắn lưỡi, móc mắt, để tỏ cho Bihourd biết là người Việt Nam không sợ chết và không phục người Pháp.
Bihourd giận lắm. Mặc dầu ông Nguyễn Cao đã ở tình trạng sắp chết, y còn sai đem chém đầu cho bõ tức.
Ông bị chém đầu bằng mã tấu vào lúc 6 giờ chiều ngày 14-4-1887.
Ông Nguyễn Cao chết nhưng đã cho giặc Pháp thấy cái nghĩa khí của người Việt Nam. Thà làm ma nước Nam chứ
không làm quan với Pháp trong địa vị nô lệ.
Cho hay danh vọng có làm gì nếu nghĩa khí đã mất.
Ông Nguyễn Cao chết, dân Việt Nam đời đời ghi ơn ông.
Ham danh vọng, theo hầu ngoại nhân để hậu thế mỉa mai, sao cho bằng thác trong vinh dự.
BÀ ẤU TRIỆU
Bà tên thật là Nguyễn Thị Đang, sinh trưởng trong một gia đình bình dân ở xã Thế Lại Thượng, tỉnh Thừa Thiên.
Bà gia nhập Việt Nam Quang Phục hội từ khi hội mới thành lập, và là một đảng viên rất đắc lực. Bà đã hoạt động liên lạc và tuyên truyền tại các tỉnh miền Trung, nhất là tại mấy tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam và Quảng Ngãi. Nay tỉnh này, mai tỉnh khác, bà góp phần rất nhiều vào công việc cổ
động phong trào thanh niên Đông du. Người Pháp vẫn để ý theo dõi bà từ lâu. Bà lại tham gia phong trào kháng thuế tại các tỉnh Trung Việt.
Với người thân, bà thường nói:
- Bọn Pháp chúng bóc lột dân ta, nếu ta không có phản ứng gì, chúng càng bóc lột nhiều hơn. Trước những hành động của ta, ít ra chúng cũng thấy nhân dân Việt Nam không phải ai cũng là tay sai cho chúng.
Năm 1910, bà bị chúng bắt. Chúng giam giữ bà và tra tấn hết sức tàn nhẫn bằng những lối độc ác nhất, nhưng bà nhất thiết không khai mảy may điều gì. Tức giận, chúng càng hành hạ tra tấn bà hơn. Trước mọi thủ đoạn dã man của chúng, bà 150
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
cắn răng chịu, rồi đến khi cơ hội thuận tiện bà đã dùng dây lưng thắt cổ ngay trong ngục.
Bà chết đi để giữ được những bí mật của Việt Nam Quang Phục hội, cũng như của những đồng chí Cách Mạng. Bà đã giữ tròn chữ Nghĩa đối với đoàn thể.
Các bậc trí thức có tâm với đất nước được tin bà tuẫn thân, ai cũng lấy làm thương xót.
Cụ Phan Bội Châu đã có đôi câu đối sau đây để khóc bà: Tấm thân trót gả giang sơn Việt; tấc dạ soi chung nhật nguyệt trời.
Tơ nhân, sợi nghĩa, dây lưng thắt; da sắt, lòng son, nét máu hồng.
Bà thật là một liệt nữ.
PHẠM HỒNG THÁI
Trong chuyện liệt sĩ Hoàng Hoa Cương, tôi sẽ có dịp trình bày việc người Trung Hoa vì tôn trọng Phạm Hồng Thái, nên mặc dầu là người Việt Nam, Phạm Hồng Thái đã được an táng ở Hoàng Hoa Cương cùng với các liệt sĩ Trung Quốc đã bỏ mình trong cuộc khởi nghĩa năm Tân Hợi (1911). Chuyện Phạm Hồng Thái, chắc chắn nhiều bạn đã đọc qua; nhân viết tới chuyện các vị liều mình vì Nghĩa lớn, tôi không thể bỏ
qua chuyện liệt sĩ Phạm Hồng Thái.
Là một thanh niên Việt Nam, phẫn uất trước sự cai trị áp bức của người Pháp đối với dân tộc ta, Phạm Hồng Thái thường luôn luôn muốn đuổi người Pháp ra khỏi nước nhà, hay ít ra cũng phải tỏ rõ cho họ biết là dân tộc Việt Nam không phải là dân tộc hèn đớn. Do đó, Thái đã hoạt động cách mệnh và đã tham gia tổ chức chống Pháp.
Năm 1923, Thái nhận được nhiệm vụ sang Quảng Châu để ám sát viên Toàn quyền Đông dương Martial Merlin đi công cán bên Nhật về. Ngày 19-6 năm đó, Merlin lúc ở Nhật về có ghé qua Quảng Châu tại tô giới Sa Điện và được các Pháp kiều nơi đây đặt tiệc đón mừng tại khách sạn Victoria.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
Ta chẳng phải nói, ai cũng hiểu rằng khách sạn này, hôm đó đã được canh gác cẩn mật tới mức nào, và lũ Pháp kiều, cũng như Merlin, ai nấy đều dương dương tự đắc coi người đời bằng nửa con mắt, tưởng rằng đi chinh phục được nước ngoài thì mọi người đều phải khiếp sợ mình. Có ngờ đâu giữa lúc tiệc đang vui vẻ, giữa lúc mọi người đang hân hoan nói cười thì bỗng có tiếng nổ vang khiến cả bọn phải cuống quít chạy trong trốn ngoài. Đó là liệt sĩ Phạm Hồng Thái của Việt Nam đã ném một trái bom để mong trả mối thù của dân tộc, nhưng Merlin chưa tới ngày tận số, quả lựu đạn của Phạm liệt sĩ đã không giết được y. Ném xong quả lựu đạn, Phạm liệt sĩ băng mình chạy, nhưng bị lính canh đuổi gấp, liệt sĩ đã không ngần ngại, nhảy xuống dòng Châu Giang tự tử.
Liệt sĩ thà chết để nêu cao chính nghĩa còn hơn sống mà bị kẻ thù bắt được. Phạm liệt sĩ đã chết vì nước. Người Việt Nam nhớ ơn liệt sĩ. Người Trung Hoa, thấy liệt sĩ liều mình vì nghĩa lớn cũng đem lòng kính mến và an táng liệt sĩ vào Hoàng Hoa Cương với tấm bia ghi rõ sự nghiệp của liệt sĩ.
Người Pháp, sau trái bom nổ ở khách sạn Victoria, cũng đã hơi bừng tỉnh, không dám coi thường dân tộc Việt Nam.
Người ta đã ca ngợi Phạm Hồng Thái là Kinh Kha Việt Nam; và Kinh Kha Việt Nam, cũng như Kinh Kha thời Chiến quốc, đã một đi, không trở lại.
NGUYỄN KHẮC NHU
VỚI BA LẦN TỰ SÁT
Người ta còn gọi ông là Xứ Nhu.
Ông sinh năm 1881 ở làng Song Khê tỉnh Bắc Giang, trong một gia đình nho học luôn luôn lấy đạo đức tiết nghĩa làm đầu.
Ông theo nghiệp nhà học đạo thánh hiền. Năm ngoài 20
tuổi, ông đến thụ nghiệp cụ Cử Nội Duệ, một nhà Nho tiết tháo đã từng hoạt động Cần Vương mưu đồ đánh đuổi người Pháp ra khỏi Việt Nam.
Thụ nghiệp cụ Cử, ông theo luôn ngay được chí hướng của thầy, và hoài bão của ông là mong sao có ngày được đảm nhiệm công việc nặng nề cứu quốc giết thù.
Trong khi theo học cụ Cử, ông đã có hầu hạ bên thầy trong những buổi cụ Cử tiếp các ông Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ
cùng những nhà cách mạng khác. Chí lớn càng nẩy nở ở nơi ông với ảnh hưởng những câu chuyện giữa cụ Cử và các vị
cách mạng tiền bối.
Nung nấu chí lớn, ông càng cố gắng học, ông hiểu rằng 154
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
muốn gánh vác việc quốc gia phải có tài và sách vở chính là những dụng cụ hun đúc tài năng.
Năm Nhâm Tý (1912), thi kỳ khảo hạch, ông đỗ đầu xứ, tức là đỗ đầu trong những sĩ tử toàn tỉnh được chọn lọc dự kỳ
thi Hương, do đó người ta gọi tắt ông là Xứ Nhu.
Đỗ đầu xứ, nhưng khi dự kỳ thi Hương năm đó ở Nam Định, ông đã bay kinh nghĩa, nghĩa là hỏng ngay từ kỳ đệ nhất.
Hỏng kỳ thi này, ông không trở về nhà mà đi thẳng sang Quảng Tây với ý muốn tham dự vào cuộc khởi binh của học sinh Đông du đang sửa soạn ở biên giới Trung Hoa.
Cuộc khởi binh đã không thành, ông buồn rầu trở lại cố
hương trong lòng càng mang nặng hơn chí muốn diệt thù cứu nước.
Ông bỏ hẳn khoa cử, tính chuyện lấy máu sắt rửa hận non sông.
Để che mắt giặc Pháp cũng như lũ chó săn tay sai và bọn quan lại vong bản, ông mở lớp dạy học ở ngay trong nhà.
Dựa vào việc dạy học, ông rèn đúc tinh thần ái quốc cho học sinh và thỉnh thoảng ông lại cùng các đồng chí hội họp để
tính việc lớn.
Tại ngay lớp học, ông có treo câu đối:
Chúng tộc giang sơn, ngô đảng sự.
Thánh hiền hào kiệt thế gian sư.
Nghĩa là:
Nòi giống non sông việc ngô đảng,
Thánh hiền hào kiệt thầy thế gian.(1)
1 Cố Nhi Tân - Nguyễn Thái Học, tủ sách Tiến Bôn. Cơ sở xuất bản của Phạm Quang Khai, trang 91.
Chính trong lúc dạy học này, với sự tuyên truyền khích lệ
đám nam nữ thanh niên, ông đã tổ chức được một đoàn thể
cách mạng ở hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Hai cô Bắc và Giang đều có chân trong đoàn thể này.
Năm 1929, sau bản án đầu tiên xử các đảng viên đồng chí của ông, ông đã cảm khái có bài thơ sau đây:
Nặng lòng ưu ái khó làm thinh,
Dội máu nam nhi rửa bất bình.
Cướp nước, chém cha quân Phú Lãng,
Cháy thành chết mụ chú Ba Danh.
Gian nan những xót người trong hội,
Tâm sự nào ai kẻ với mình?
Hỡi hỡi anh em cùng gắng sức,
Phen này quét sạch lũ hôi tanh.
Trong cuộc khởi nghĩa đánh quân Pháp đêm hôm mồng 9
tháng 2 năm 1930, ông nhận nhiệm vụ chỉ huy tấn công bốn nơi hiểm yếu khu Tây Bắc là Yên Bái, Phú Thọ, Hưng Hóa và Lâm Thao. Ông phân phối công việc cho các anh em đồng chí, còn chính ông trực tiếp chỉ huy đánh đồn Hưng Hóa.
Việc đánh Hưng Hóa của ông đã thất bại vì cơ mưu bại lộ, thực dân đã biết trước, chúng đã đổi hết lính ở đồn này, những người gia nhập đảng hoặc có cảm tình với đảng, và thay thế toàn bằng lính ở nơi khác tới.
Đánh Hưng Hóa thất bại, ông đã cùng anh em đồng chí kéo quân về Lâm Thao thì nơi đây Cách mệnh quân đã chiếm xong phủ lÿ.
Ông biết trước thế nào quân Pháp cũng tới cứu Lâm Thao, nên truyền lệnh cho anh em sửa sang lại khí giới và nấu cơm gấp để các chiến sĩ lấy sức còn phải kháng địch.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
Quân địch tới, chúng vây bắn dữ dội. Cách mệnh quân ứng chiến rất hăng hái, do chính ông xứ Nhu chỉ huy. Ông hăng hái xông pha gươm đạn trước cả mọi người.
Trong lúc giao chiến, ông bị trúng một viên đạn ở đùi, buông tay súng ra, ngã xuống với năm sáu chiến sĩ khác.
Anh em muốn cứu ông liền mở một huyệt lộ ở phía sau phủ, nhưng ông bảo:
- Anh em hãy rút lui đi, lưu cái thân hữu dụng cho Tổ
quốc. Đằng nào tôi cũng chết, anh em đừng quan tâm đến tôi.
Nói rồi, ông khoát tay ra hiệu để các đồng chí tẩu thoát; còn ông, hai tay cầm hai trái lựu đạn mở chốt. Lựu đạn nổ, ngực ông vỡ, bụng ông thủng, gan ruột lòi ra ngoài nhưng không chết.
Ông bị địch bắt, khiêng về đồn Hưng Hóa để băng bó. Ông đã không chết sau lần tự tử đầu tiên.
Ông còn sống, địch sẽ có thể khai thác được ông. Ông phải chết, chết để tạ ơn Tổ quốc, để tạ lòng các đồng chí đã vì ông nổi lên chống giặc, bỏ mình.
Ý định cần chết, phải chết là ý định cuối cùng của ông từ
khi lọt vào tay giặc. Do đó, trong lúc giặc khiêng ông dọc đường, đi sát bờ sông, ông lại nhảy xuống sông tự tử nhưng cũng lại được chúng vớt lên. Lần thứ hai ông tự tử không xong.
Ông bị tên mật thám Riner thẩm vấn. Hắn tra hỏi cách nào ông cũng làm thinh. Bực mình, tên Riner sừng sộ gọi ông là đồ kẻ cướp. Ông trợn mắt quát lại:
- Giữa tao và chúng bay, chúng bay chính là kẻ cướp giết người chứ còn nói ai.
Và từ đó luôn luôn ông thóa mạ bọn Pháp đội lốt văn minh cướp bóc thiên hạ.
Tên phó sứ Phú Thọ là Chauvet hỏi ông:
- Tại sao anh làm loạn?
Ông đã trả lời:
- Tôi là người Việt Nam, có bổn phận bảo vệ đất nước, như
thế là hợp lẽ phải và nhân đạo, sao có thể gọi là làm loạn được.
Ông bị giam trong lô cốt đồn Hưng Hóa. Ở đây ông đã đập đầu vào tường đá đến ba lần mới chết.
Nghe tin ông chết, các anh chị em đồng chí đều xúc động và người Việt Nam có lòng, ai cũng thương cảm.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
THIẾP THEO CHÀNG
Những chàng trai Việt Nam biết vì nghĩa chết theo nước thì những phụ nữ Việt Nam cũng biết vì nghĩa chết theo chồng.
Từ xưa tới nay đã bao nhiêu cặp phu phụ cùng nhau chàng đi theo nước, thiếp theo chàng.
Trường hợp đôi nam nữ Nguyễn Thái Học và Nguyễn Thị
Giang cách đây mấy chục năm cũng đã người vì nước, kẻ
vì chồng.
Ở đây chúng tôi chỉ xin nói riêng về cô Nguyễn Thị Giang.
Cô là một nữ đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng và là vị
hôn thê của đảng trưởng Nguyễn Thái Học.
Chính ra, Việt Nam Quốc dân đảng trước đây không thu nhận nữ đảng viên, ngoại trừ chi bộ tỉnh Bắc Giang mới có một vài biệt lệ.
Trước khi thành lập Việt Nam Quốc dân đảng, ông Nguyễn Khắc Nhu, như tài liệu trước đã trình bày, đã thành lập một tổ chức cách mạng ở hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, và trong số các người gia nhập tổ chức này, có hai chị em Cô Bắc và Cô Giang.
Toàn thể tổ chức của ông Nguyễn Khắc Nhu sau đã sáp nhập Việt Nam Quốc dân đảng, do đó cả hai Cô Bắc và Cô Giang đều thành nữ đảng viên.
Cô Bắc và Cô Giang quê ở Bắc Giang, sinh trưởng ở ngay tỉnh lỵ là Phủ Lạng Thương.
Gia nhập Việt Nam Quốc dân đảng, Cô Giang được dịp gặp Nguyễn Thái Học trong công tác. Đôi bên hiểu nhau, tâm đầu ý hợp rồi nảy lòng cảm mến yêu nhau.
Lạ gì thanh khí nhẽ hằng,