Tiết Tháo Một ThờiPartie 1
À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.
Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ...?
VŨ ĐÌNH LIÊN
NGƯỜI VÀ CẢNH
Người là mấy cụ Cử, cụ Đồ, chán đời tranh cạnh, quanh năm sống với rượu với thơ, với quân cờ, với chồng sách cũ, với những vế câu đối đầy chua chát, mỉa mai, với những áng văn phong phú thanh cao đầy thi vị.
Người còn là những nhà võ thuật đã gác kiếm cung để sống an nhàn vì không muốn đem bán rẻ tài ba, phụng sự cho áo cơm mà quên đại nghĩa. Đôi khi những nhà võ thuật ấy nhớ
lại một đường gươm cùng dăm ba bạn hữu, cùng đồng ý kiến, cùng xứng tài năng, dưới trăng thanh đi lại vài đường kiếm, rồi cùng nhau hoặc chép miệng thở dài cho thời thế, hoặc ngạo mạn cười đời coi vũ trụ nhỏ không bằng chén rượu sủi tăm.
Những văn nhân, những võ tướng ấy có người chỉ uống rượu để mà say, say đảo điên, say túy lúy, nhưng muốn tỉnh lúc nào thì vẫn tỉnh; có người chỉ quên đời bằng chồng sách, gặp vài trang xứng ý lại ngâm nga có khi thâu đêm suốt sáng, có người lại chỉ thích ngao du hết nơi này qua nơi khác, để
gặp lại bạn đồng thời, đồng thanh, đồng khí để uống một chén rượu, để ăn một bữa cơm, để nói một câu chuyện, để rồi lại đi tìm người bạn khác, lại uống rượu, lại ăn cơm, lại nói vài câu chuyện tâm đầu; có người chỉ mải mê gõ đầu vài đứa trẻ
tuy biết ngày một ngày hai, rồi những đứa trẻ này cũng sẽ từ
bỏ giấy bản bút lông để theo đòi chữ Pháp; có người không bao giờ vui, ít cười, ít nói, chỉ thở dài chép miệng, kẻ tầm thường không ai hiểu căn cớ vì đâu; có người cười không biết mỏi, thấy chuyện cười mà cười, thấy chuyện thảm cũng cười.
Mỗi người mỗi nết, mỗi nết mỗi lạ, mỗi lạ mỗi khác thường.
Còn cảnh? Ấy là những gian nhà lá xiêu vẹo, ấy là những nơi chùa cổ, ấy là những âm thanh vắng. Phải cảnh ấy mới hợp cùng người ấy.
Người ấy giá có lạc lõng ra nơi phồn hoa đô hội, chắc hẳn người đời phải cho là kỳ quan.
Cảnh ấy giá đem đặt một người đang mải ganh đua, mang nặng mộng công hầu và chắc hẳn người đó phải tự cho mình lạc đến cõi hoang vu.
Cảnh phải xứng người cũng như người cần hợp cảnh mới ngạo mạn nổi thế nhân! Ai biết cho thì biết! Ai không biết muốn bảo là ngông là cuồng cũng được!
NHỮNG ĐÔI CÂU ĐỐI
Hồi Tôn Dật Tiên chết, nhà chí sĩ Phan Bội Châu có đôi câu đối viếng:
“Bắc dĩ loạn nhi trị, Nam dĩ trị nhi vong, anh hùng trường hận.
“Ngã đương tử tắc tồn, quân đương tồn tắc một, tạo hóa hà tâm.
Trung Quốc loạn mà bình, Việt Nam bình mà mất, hận anh hùng bao nguôi được.
Tôi đáng chết mà còn, Ngài đáng còn mà mất, lòng tạo hóa nỡ sao đang.
Đôi câu đối ấy cũng như biết bao đôi câu đối khác đã làm rung động biết bao tấm lòng yêu nước. Nghĩ mình muốn nói, nói chẳng nên lời, muốn viết, viết không ra chữ, nay bỗng đọc được những dòng đầy cảm khái, những dòng ấy nói hộ mình, viết hộ mình thử hỏi con người trí thức ai là không xúc động?
Thì cụ đồ Hải người làng Xuân Mỹ cũng như trăm nghìn bậc lão nho khác đã lấy làm hả dạ khi biết tâm can người Việt được bộc lộ bởi một người Việt tới năm châu. Đôi câu 12
đối ấy phải chăng là phản ánh cái ý muốn, nếu không là của toàn dân nước Việt, là ít nhất cũng là phản ảnh cái ý muốn của toàn thể những bậc túc nho.
Sau những cuộc thất bại của Đông Kinh Nghĩa Thục, từ
ấy đến nay, cụ đồ Hải chỉ đành ngậm hờn sống một cuộc đời bình thản bên ngoài, nhưng bão táp bên trong.
Thôi thúc bởi tiếng gọi của quê hương, cụ đồ cũng như
biết bao đồng chí khác, toan nghiến răng xoay lại cục thế
ngả nghiêng, nhưng tài người có hạn mà vận nước đang suy, hết thất bại này đến thất bại kia, cụ đồ đành cam tâm sống ngậm ngùi thúc thủ ở quê nhà.
Cụ đồ ngày đêm làm bạn cùng vài ba bậc lão nho khác, khi chén rượu khi cuộc cờ, khi bài phú, nhưng cái thứ ưa nhất là câu đối.
Cụ khảo cứu sưu tầm câu đối cũ, cụ soạn câu đối mới.
Trong làng, trong tổng, trong huyện, trong tỉnh và có khi cả
ngoài tỉnh, rất nhiều người mến tài cụ. Việc hiếu, việc hỷ, ai đến xin câu đối cụ, cụ cũng vui lòng nghĩ giúp, viết giùm.
Tuy vậy không phải là ai muốn xin câu đối cụ cũng cho đâu.
Cụ thường nói: “Tôi thà hạ bút trên giấy giúp cho người có liêm sỉ còn hơn viết trên lụa cho lũ giá áo túi cơm!”
Nói đến chuyện câu đối, cụ đọc ra rất nhiều, đôi câu đối cổ kim và rất nhiều ý nghĩa.
Thuật truyện về ông Lê Quý Đôn sang sứ Tầu, gặp ngày Lễ Thọ, vua Tầu sai sứ thần các nước đều làm câu đối mừng.
Trong các câu đối mừng, đôi câu đối của sứ Việt Nam được tặng khen là hay nhất:
Ngũ bách niên tảo ứng thánh nhân sinh, Nhị Thủy, Hoàng Hà nhất sắc.
Thiên vạn tải dục cầu thiên tử thọ, Tản Viên, Thái Lĩnh đồng thanh.
“Năm trăm năm sớm ứng điều sinh thánh, sông Nhị, sông Hoàng một sắc”.
“Nghìn vạn tải muốn mong thiên tử sống, núi Tản, núi Thái đồng thanh”.
Cụ đồ Hải, mỗi lần đọc xong mỗi câu đối ông đều nói:
“Đấy có phải là hay không. Người Tầu cũng phải nhận là hay. Nhưng nhận ra có điều hơi xấc. Xấc ở chỗ Nhị Hà và Tản Viên đứng trên Hoàng Hà và Thái Lĩnh. Đấy người xưa như thế đấy. Đi sứ mà trong một tiệc mừng cũng như trong những trường hợp khác, bao giờ cũng lấy quốc thể làm trọng, khiến Bắc quốc phải khiếp phục Việt Nam”. Rồi cụ chép miệng nói thêm: “Còn thời bây giờ nghĩ đến mà thêm ngán.
Chúng nó chỉ cần nốc rượu cho đầy, miếng bánh cho ngon, nịnh hót cho khéo, còn quốc thể hay nhân cách con người chúng coi rẻ không bằng hạt tấm. Người ta có chửi ngay vào mặt chúng, chúng cũng chỉ dạ dạ vâng vâng, cốt ăn cho đầy tễ, cho đầy mồm.”
Việt Nam vẫn nước Việt Nam
Thịnh suy chuyển biến biết làm sao đây!
Bình sinh cụ đồ Hải rất ghét bọn đang học cũ mà bỏ theo mới. Cụ cho bọn này là thiếu thủy chung. Chẳng thà, bọn trẻ mới lớn lên vô phúc không được biết đến đạo thánh hiền, chúng đi học chữ Pháp đã đành, đằng này đã được khai tâm theo lễ giáo, còn bỏ dở xoay ngang, thử hỏi còn gì đáng chê trách cho bằng. Thế là quên cả lề lối của cương thường Đông Á. Còn nhớ, một ông Phán con một cụ Tú đã qua đời, đến xin cụ câu đối, cụ viết cho:
Quân ân, thần khả báo
Phụ nghiệp, tử năng thừa
Ơn vua tôi phải báo
Nghiệp bố con cần noi.
Cụ bảo ông Phán: “Đây là câu đối của đức Tự Đức làm đấy. Thấy thầy cũng là con cháu nhà nho lão viết tặng cho mà treo, nhưng thầy cũng nên ngẫm nghĩ về câu đối ấy”.
Câu đối cổ kim cụ nhớ lắm. Chữ cụ viết nét rất sắc, rất đẹp nên người ta rất chuộng câu đối cụ viết. Nhiều người cầu kỳ
đi ba bốn ngày đường, đến ngủ để xin cho kỳ được một đôi câu đối cụ viết để treo.
Viết chữ là một nghệ thuật, viết câu đối càng là một nghệ
thuật hơn. Mảnh giấy hồng điều dát vàng gập làm sao cho một hàng bẩy tám chữ, chữ nhiều nét, chữ ít nét đều được viết cho xứng bút để mầu mực Quốc Bảo nổi bóng đen trên nền đỏ. Nét chữ của cụ đồ Hải già giặn sắc cạnh. Người hay chơi câu đối nhìn thấy là hiểu ngay. Chơi câu đối của cụ đồ
Hải viết đã trở nên một cái thú. Các nhà chuộng cũ đều câu kỳ xin cho được một đôi câu đối treo trong nhà.
Tiếng tăm của cụ đến tai ông Huyện sở tại. Ông Huyện này xưa cũng đã từng theo đôi chút nho học, sau xuất thân trường Pháp chính, nên tuy theo mới mà vẫn thích cũ. Thấy mọi người tán tụng nét chữ của cụ đồ, ông cũng muốn có mấy chữ treo cho hợp thời. Ông bèn mua chè lá, sai đội lệ
mang giấy đến để xin cụ mấy chữ.
Ông đội lệ tưởng được quan sở tại nhờ đến là một điều vinh hạnh cho cụ đồ, có ngờ đâu, cụ nhất định từ chối không chịu viết, mặc dầu ông đội lệ đôi ba phen khẩn khoản. Cụ nói:
“Quan Huyện nhà theo tây học làm nên, chẳng nên treo câu đối cũ làm gì. Ở công đường cũng như ở tư thất, thầy đội nói với quan nên nhờ người viết cho mấy đôi câu đối chữ tây mà treo. Như thế nó hợp với người với cảnh hơn”.
Sau khi ông đội ra về, thuật lại câu chuyện đó với các cụ
nho khác, cụ đồ bảo: “Quân nó to gan thật, coi trời bằng vung, dám cho người đến xin câu đối của tôi. Nó tưởng quan huyện là to rồi hẳn, là chơi được câu đối đấy hẳn. Chơi câu đối phải hiểu kinh hiểu truyện của thánh hiền, phải biết nghĩa lý sâu xa của từng chữ. Có rỗi hơi thì tôi viết câu đối dán chuồng trâu, thừa chữ cũng chẳng có đâu viết cho chúng nó.”
Nhân câu chuyện cụ lại nhắc đến một ông hàn đến xin chữ cụ để khánh thành nhà mới. Ông hàn này xuất thân hạ
tiện, gặp dịp lại nhờ có quan thầy đề cử nên được thưởng hàn lâm, và được cả Chính phủ Pháp ân thưởng Bắc Đẩu Bội Tinh. Ông giầu có lừng lẫy cả một vùng. Hồi ấy, làm nhà mới ông đến xin cụ mấy chữ đại tự để khắc hoành phi. Hạng người như thế vốn xưa nay cụ đồ vẫn ghét, cứ kể cụ từ chối thì cũng chẳng làm gì nổi cụ, nhưng cụ lại viết tặng bốn chữ
“Cao Cư Lư Xá”. Bốn chữ ấy nghĩa đen rất hợp với ngôi nhà mới, lại có ý tâng bốc bên trong, nên ông hàn rất vui lòng, hỉ hả mang chữ về.
Khi nâng chén chè Long Tỉnh, ông Hàn tặng làm nhuận bút, cụ đồ tự nói: “Cái thằng này mua trà khéo, ngon đây, nhưng nó có hiểu nổi ý bốn chữ mình định tặng nó không?”
Cụ đồ có ý nhắc lại cho ông Hàn bằng bốn chữ “Cao Cư
Lư Xá” cái nghề kéo cưa lừa xẻ mà ông ta đã xuất thân.
Nói đến chuyện câu đối của cụ đồ, phải nhắc đến thiên giai thoại sau đây:
Hồi ấy, viên Tuần Phủ tỉnh cụ ăn hối lộ bị dân kiện, may là được quan thầy bênh, nên đường hoạn lộ không phải vương víu gì. Tuy vậy đối với đồng liêu, cũng như đối với các thuộc viên và dân chúng ngài hơi ngượng. Ngài muốn đi tỉnh khác, lại sợ mang tiếng thua dân.
Biết cái tâm lý của Ngài, cụ đồ Hải có làm đôi câu đối nôm sau đây:
Ăn không nuốt được, đòi không trả
Ở chẳng xong rồi, đuổi chẳng đi.
Đôi câu đối này cũng như nhiều đôi câu đối khác, ngày nay trong làng Xuân Mỹ và nhiều nơi nữa, đời hay nhắc đến, riêng có cụ đồ đã ra người thiên cổ. Nhưng dù chết, cụ còn để lại một tiếng thơm với nhiều thiên giai thoại lý thú mà người ta hằng nói lại không quên?
TỦ SÁCH CŨ
Lời xưa nói:
Vạn khoảnh lương điền
Bất như bạc nghệ
Thiên kim di tử
Bất như nhất kinh
Có ruộng tốt dẫu rằng muôn khoảnh
Cũng chẳng bằng một mảnh nghề con
Vàng cho con cái hàng muôn
Chẳng bằng kinh sách lưu truyền tử tôn
(lời dịch P.N.Khuê)
Cụ tú Lâm quả đã trọng lời nói của thánh hiền xưa, mặc dù nền học cũ đi sâu vào tàn cục. Cụ chẳng như ai, tấp tểnh lựa gió đổi chiều, đuổi theo bả vinh hoa phú quý. Cụ cam tâm sống trong cảnh thanh bần với gian nhà lá, với bức tường xiêu, bạn cùng những chồng sách cũ.
Sau kỳ thi cuối cùng năm Ất Mão, cuộc đời xoay đổi, lều chõng đành hóa ra vô dụng. Thời mực tàu giấy bản đến đây là hết. Các ông khóa, ông đồ thi nhau “u á u âu ngọn bút chì.”
Cụ tú Lâm không thế. Cụ cũng như vài ba bạn đồng song 18
khác cố giữ vững đức của người quân tử, thủy chung như nhất với đạo thánh hiền.
Ruộng nương cụ bán dần, tiền của cụ hao hụt, nhưng đạo đức cụ vẫn giữ vững như Vạn Lý Trường Thành.
Trong nhà cụ không có vật gì quí giá, nhưng cụ có tủ sách cũ đáng giá hơn những trân châu quý nhất trên đời.
Hàng ngày, để quên hiện tại, để tìm lấy đạo lý, cụ chỉ bạn cùng tủ sách. Cụ xem hết quyển này, cụ lật sang quyển khác.
Cụ nâng niu cuốn sách như nâng niu một đóa hoa tươi. Phải trông thấy cụ lấy khăn lau bụi trên chiếc bìa sơn cậy(1) mới hiểu cụ giữ gìn tủ sách biết chừng nào.
Thường thường hàng năm, sau những tiết trời nồm, gặp ngày nắng mới cụ mang nong ra phơi sách. Hôm đó cụ cấm từ cụ bà đến người nhà đầy tớ không được qua lại khoảng sân đó. Cụ cho rằng sách vở là tối thiêng liêng, phải thận trọng giữ gìn, không được để lũ phàm nhân tục tử bén mảng lại gần. Lúc phơi sách cụ đặt từng quyển, cụ giở từng trang; gặp đoạn sách hay, cụ ngồi ngay giữa nắng đọc hàng giờ
không chán; gặp những trang nhiều bụi cụ vuốt từng tờ, cụ
phủi vào từng kẽ sách.
Tủ sách cụ không thiếu mấy quyển. Đủ Tứ Thư Ngũ Kinh; đủ sách kim, sách cổ, từ sách giáo huấn gia đình đến sách bàn về trị quốc bình thiên hạ. Tuy vậy không bao giờ cụ bỏ
lỡ dịp nào mà không bồi bổ thêm cho tủ sách: gặp các bạn hữu có sách không dùng đến, cụ khẩn khoản xin, gặp kẻ vô học có sách bán, thì dù túng tiền đến đâu cụ cũng xoay bằng có tiền để mua cho được.
Cụ thường nói: “Nho học ngày nay đến lúc tàn, bọn cổ nho chúng tôi không chịu nhận lấy cái trách nhiệm duy trì đạo thánh hiền còn đợi ai gánh vác cho”.
1 Bìa sơn cậy là bìa sơn bằng nước sơn làm từ nhựa cây cậy.
Và cụ vẫn nhắc lại với lũ con: “Thầy nghèo, sau này thầy nhắm mắt, thầy chẳng có ruộng sâu, trâu nái, chẳng có dinh cơ đất cát để lại cho các con, nhưng thầy có tủ sách để lại cho các con. Các con phải cố học, cố giữ lấy. Nếu xem mình mà không có tài đức giữ nổi phải tìm người nào yêu sách mà tặng người ta, chớ không được bán rẻ bán đắt đi. Nhược bằng không có ai xứng đáng thì phải đem biếu trường Bác Cổ, người ta giữ cho, để hậu thế còn có ngày đọc đến. Văn tự, học vấn là của chung, không phải của riêng ai. Muốn thành nhân, muốn trở nên bậc quân tử phải theo gương trước, phải đọc sách xưa. Cổ nhân có câu: Hậu tòng tiên giác, giám cổ
trị kim là thế”.
Ở đời cụ ghét nhất bọn đi mua sách cũ về làm giấy lộn.
Chúng là lũ phá hoại nốt những cái kho cuối cùng của đạo lý Thánh hiền. Gặp chúng vào đến sân là cụ đuổi cho mau, và thường cụ vẫn bảo chúng: “Các người là có tội với thánh nhân. Thiếu Đạo đức của Thánh hiền lưu truyền còn có mấy, nay các người phá dần mòn đi còn gì nữa”.
Tủ sách cũ của cụ rất có nhiều người mượn. Phần đông là các ông Tú, ông Cử, ông Khóa, ông Đồ, muốn nghiền ngẫm khảo cứu vài đoạn văn xưa. Các ông này mượn bao giờ cụ
cũng sẵn sàng cho mượn, nhưng cụ rất ghét bọn mượn sách không chịu trả, cố ý quên để làm của riêng mình. Cụ vẫn bảo các bạn bè: “Tủ sách của tôi là sách chung, các cụ muốn xem cứ lấy dùng, có một điều xem xong xin hoàn lại để các cụ khác xem. Và xin các cụ giữ gìn cho kẻo sách thánh hiền bây giờ hiếm, để nát phí đi có tội với cổ nhân”.
Tuy cụ dễ dàng, nhưng không phải ai mượn sách cụ cũng được. Người xem được sách, hiểu được sách lẽ dĩ nhiên là lấy sách của cụ một cách dễ dàng; cả đến người xem chưa thông, hiểu chưa nổi, có ý muốn học thêm cụ cũng cho mượn và cụ
còn cắt nghĩa giúp từng chữ, từng câu khi cần đến. Nhưng 20
đối với bọn mượn sách để mà mượn, cầm quyển sách không phải để đọc, chỉ cốt làm ra bộ ta đây hiểu sách, cụ chúa ghét.
Hạng ấy cầm đến sách chỉ làm cho thẹn sách. Đối với bọn này, bao giờ cụ cũng từ chối. Cụ thường bảo: “Các ngài đọc truyện quốc ngữ nó dễ hiểu hơn, sách nho khó xem lắm”.
Có một hôm, một ông Phán ở tỉnh về chơi làng Xuân Mỹ, được một người bà con đưa đến thăm cụ. Mới gặp ông Phán này cụ đã không ưa, nhưng chẳng lẽ người ta có nhã ý đến thăm mình, mình lại không tiếp chẳng hóa ra bất lịch sự hay sao. Nói chuyện đến tủ sách của cụ, ông Phán tỏ ý rất thích; lúc ra về, ông hỏi mượn cụ vài quyển về Sử ký Việt Nam và Trung Quốc. Cụ ngần ngại, nhưng cũng cho ông mượn; cụ
chỉ khẩn khoản ông giữ gìn cẩn thận và dùng xong mang trả
cụ ngay để cho người khác xem. Khi nói chuyện với một ông đồ về ông Phán, cụ nói: “Họ tưởng đọc sách nho của mình cũng dễ như ăn cơm, như nịnh hót lũ quan thầy áo ngắn của nhà họ đấy. Rồi cụ xem, hắn cầm sách về để mà cầm, chứ
khi hắn mang trả sách giá ta hỏi trong nói những gì, đố hắn biết. Cái đồ “thính thư như tùng, vọng tự như manh” thấy người ta đọc sách cũng đòi đọc sách. Rõ thật “thuyền đua thì lái cũng đua”.
Cụ Tú sở dĩ đối với bọn tây học có ác cảm như thế, là vì cụ cũng giống các bạn cổ nho của cụ. Cứ kể, nếu cụ muốn, có lẽ to ra cũng như ông Án, ông Tuần, mà nhỏ ra thì cũng phải Ký Lục, Thừa Phái rồi, nhưng cụ phải đâu là người muốn ngôi cao bổng nhiều, muốn cơm no áo ấm. Cụ là người thấy thời cuộc đổi thay cũng muốn cố giữ lại cái gì về thời trước.
Cái gì đây nó là những chồng sách cũ.
Cụ Tú ngày nay không còn nữa. Con trai cụ, ông cả Kỳ, vì tuân lời cha, nên đã mang cả tủ sách của cụ gởi tặng trường Bác Cổ Viễn Đông.
Hà Nội, 29-12-48
LŨ TRẺ THƠ
Hán học đã có hồi toàn thịnh ở làng Xuân Mỹ. Hồi ấy trong làng, thôn nào cũng có Ông đồ ngồi dạy trẻ. Dân trong làng, tuy không phải là những tay văn tự, ai cũng đọc thông được tờ sức của quan trên, cũng thảo nổi bản khế ước. Ai ai cũng bảo nhau học lấy dăm ba chữ để ký nổi cái tên mình.
Khoa cử tuy bỏ, nhưng Hán tự vẫn còn dùng trong giấy má. Hán tự vẫn là cần.
Các ông Đồ, ông Khóa, ông Tú, ông Cử, ai xoay kịp đổi bút lông ra bút sắt thì chạy chọt đi chân Thừa phái, Ký lục, Trợ tá, ai không xoay kịp hoặc chẳng muốn xoay theo chữ
mới, đành ngồi nhà. Muốn qua thì giờ nhàn rỗi, các ông đọc sách, ngâm thơ và dạy học.
Hình như coi sự gõ đầu trẻ là một bổn phận của nhà nho.
Cụ đồ Hải dạy học, cụ Tú Lâm dạy học, ông Khóa Sơn dạy học, cụ đồ Lĩnh dạy học, cụ Cử Cương cũng dạy học. Trẻ con trong làng muốn đi học thật dễ dàng. Bố
mẹ chúng chỉ sửa lễ thánh, xin nhập môn ông Đồ, ông Tú nào cũng được.
Xóm Đông, cụ đồ Lĩnh, xóm Già cụ Cử Cương. Lúc nào cũng thấy tiếng trẻ ê a nhai đi nhai lại những sách giáo huấn 22
vỡ lòng, hoặc những cậu bé lớn hơn nghiêm trang đọc từng bài trong Tứ thư Ngũ kinh.
Nhân sinh bách nghệ
Văn học vi tiên
Nho sĩ thị trân
Thi thư thị bảo...
Minh đạo gia huấn.
Người ta trăm nghệ tùy thân
Nhưng mà văn học phải cần đầu tiên
Thị thư là báu rõi truyền
Học trò là kẻ sĩ hiền trọng thay
(lời dịch của P.N. Khuê)
“Bác học chi, thẩm vấn chi, thận tư chi, minh biện chi, đốc hành chi. Hữu phất học, học chi phất năng phất thố dã; hữu phất vấn, vấn chi phất tri, phất thố dã...”.
“Học cho rộng, hỏi cho rõ, nghĩ cho kỹ, phân biệt cho ranh, dốc lòng mà làm. Có điều không học, nhưng đã học mà không biết rõ không chịu bỏ; có điều không hỏi, nhưng đã hỏi mà không biết rõ không chịu bỏ...”.
Trung Dung
Nhưng thời kỳ phồn thịnh ấy không lâu. Chữ Hán ngày một ít dùng, người ta đua nhau đi học chữ Tây. Rồi trường phủ mở lớn. Học trò theo học được phát giấy bút, và thỉnh thoảng lại còn được phần thưởng.
Trẻ con làng Xuân Mỹ cũng như trẻ con hàng phủ đua nhau bỏ chữ nho đi học quốc ngữ. Lớp học các ông đồ ngày một vắng, rồi dần dần không còn mấy đứa nữa. Thoạt tiên ông Khóa Sơn đóng cửa lớp. Học trò ông còn mấy đứa chuyển 23
sang các ông đồ khác. Rồi cụ đồ Hải cũng nghỉ dạy, cụ Tú Lâm ít lâu cũng hết học trò.
Trong làng chỉ còn cụ đồ Lĩnh và Cử Cương. Hai cụ vẫn bền gan với đạo Thánh tuy số học trò chẳng còn được bao nhiêu. Hai cụ gặp nhau thường nói chuyện: “Đã đành rằng đạo Thánh đến lúc suy, nhưng mình cần phải cố đeo đuổi để gìn giữ lấy cái luân thường đạo lý của Khổng Nho chứ”.
Trường Phủ ngày một mở mang rộng thêm. Số học trò một ngày một đông. Bố mẹ học sinh đua nhau cho con đi học quốc ngữ và nghỉ học chữ nho. Cũng còn nhà còn lưu luyến chữ của Thánh nhân thì ngày thứ năm, chủ nhật lại bắt con học thêm Hán tự. Tuy vậy lũ trẻ tuy có đến học các ông đồ, chúng cũng chẳng chăm chú gì.
Rồi ở làng Xuân Mỹ, ông Cử Cương cũng dồn nốt học trò sang xóm Đông cho cụ đồ Lĩnh. Hai trường dồn một mà số
học trò cũng chỉ vỏn vẹn non hai chục đứa. Than ôi! Thời phồn thịnh nay còn đâu! Nhớ lại hồi xưa, buổi học năm bảy chục đứa, ầm ĩ năm gian nhà, nào đọc, nào viết, nào kẻ, nào tô, nào làm câu đối, nào thử phú thơ; ngày nay đâu còn như
xưa nữa. Non hai chục học trò, đứa nào đứa nấy còn mũi quệt ngang, học mỗi ngày vài bốn chữ không đủ nhớ. Sở dĩ bố mẹ
chúng cho chúng học các cụ đồ là cốt để chúng dạn dần, cho lên học trường Phủ sau.
Cụ đồ Lĩnh cũng biết vậy, nhưng cụ vẫn vui lòng, chuyên tâm vỡ lòng cho lũ trẻ thơ, cụ nói: “Nhân chi sơ, tính bản thiện, lũ trẻ còn non dại mình phải ghi ngay cái đạo đức của Á Đông cho chúng có căn bản, rồi sau này, dù chúng có tiêm nhiễm cái rởm của cuộc đời mới, cũng có một chút gì gìn giữ cho chúng đỡ sa ngã”. Số học sinh vài chục đứa của cụ
sút dần, rồi chỉ còn vài bốn đứa. Cụ đồ Lĩnh vẫn kiên gan dạy chúng.
Cụ căm giận trường Phủ không biết bao nhiêu. Cái bả vật chất của chữ quốc ngữ đã cám dỗ được biết bao đệ tử của làng Nho. Mỗi lần trong làng có một người đậu về Tây học được bổ đi làm, cụ đồ lại thở dài: “Thế là đạo lý còn đâu nữa. Cái mồi phú quí nó đã giết hết cái lương tri của con dân Việt Nam rồi”.
Cụ quyết chí cạnh tranh với trường Phủ. Ngoài vài bốn trẻ
nhỏ vẫn theo học cụ và lũ con cụ, lẽ tất nhiên là chẳng học gì chữ quốc ngữ, cụ muốn có thêm học trò. Cụ bắt cụ bà mua thêm giấy mực rồi cụ dụ lũ trẻ chăn trâu trong làng đến học.
Ban đầu thấy được giấy bút, lũ trẻ này đến học cũng đông, có lẽ đến bốn năm chục đứa. Cụ đồ Lĩnh nói chuyện với bạn Nho đã có lần kiêu hãnh bảo: “Các cụ xem, đạo Thánh hiền đâu chịu thua lũ bút chì”. Nhưng lũ trẻ chăn trâu sau vì bận việc, và vì thấy đi học không phải là chuyện dễ dàng nên cũng thôi dần.
Cụ đồ Lĩnh vẫn không nản. Đối với những đứa nào đến học, không những cụ phát giấy bút, cụ còn cho ăn một bữa cơm.
Cụ bảo: “Ganh nhau với vật chất, phải lấy vật chất mà ganh”.
Sợ học trò bỏ nốt cụ mà đi học chữ Tây, cụ thường dạy:
“Ở đời con người chỉ ở cái nhân cách, chỉ ở cái đạo đức.
Học chữ Tây là lối học vô nhân vô đạo, các con phải coi chừng”. Nhà cụ đồ cũng như trăm nghìn cụ đồ khác chẳng giầu có gì, lại hàng ngày cho lũ trẻ ăn, nên cụ phải bán ruộng để lấy tiền. Cụ bà phàn nàn, cụ gắt: “Bà tính đạo lý mà mất thì ruộng nương có làm gì!” Cụ cố muốn duy trì Hán học, nhưng số phận xui khiến, công cụ chỉ vô ích.
Biết vậy cụ không hề nản. Khi cụ hết tiền, không thể cung cấp bữa cơm cho học trò nữa, chúng lại bỏ cụ dần. Về sau chỉ còn trơ lũ con cụ. Cụ vẫn chẳng nản lòng. Cụ dạy lũ
con. Hoặc có khi cụ tự viết son, rồi lại tự tô lên như để
nhớ một thời dĩ vãng.
Ruộng nương cụ bán hết vì lũ trẻ, cụ đâm túng. Cụ bà xoay quanh cũng khó đủ ăn. Hồi ấy, một người bạn học cũ của cụ
đồ, vì biết tùy thời, xoay theo Tây đi học, đi làm quan, được bổ về làm Chánh án tỉnh cụ. Biết chuyện cụ, ông Chánh án có ý muốn giúp cụ, cho người mang thư đến, mời cụ ra tỉnh dạy lũ con ông học thêm Hán tự. Đọc thư, cụ đồ cười nói: “Chữ
Thánh hiền đâu phải là chữ bán đong. Muốn học đạo Thánh, trò phải đến nhà thầy, chứ có phải như thầy giáo chữ Tây đâu mà muốn bổ đi nơi nào cũng được. Đạo thánh đâu có thế?”
THANH KIẾM CỔ
Ông ngoại tôi mất đã hai chục năm nay, nhưng mỗi lần nghĩ đến ông tôi, hình ảnh người như còn rõ rệt ngay trước mắt. Thời ấy tôi mới lên chín, lên mười.
Tuy nhà tôi cách nhà ông ngoại tôi một quãng đường xa, nhưng hàng ngày tôi hay đến thăm ông tôi, để nghe ông tôi kể
chuyện. Câu chuyện già sao mà hợp với lòng thơ ấu: Trong câu chuyện ông tôi kể phần nhiều là câu chuyện hiếu trung.
Ông tôi kể cho tôi nghe nào là quân Pháp sang đem theo giống Mọi đen để tàn phá làng mạc, nào chuyện những bọn mọi đen hiếp tróc đàn bà con gái, nào những chuyện các ông Hoàng Cao Khải, Lê Hoan giúp đỡ Pháp để bình định Việt Nam, nào những chuyện Cần Vương khởi nghĩa của cụ Phan Đình Phùng, của cụ Bang Tôn, của cụ Đề Thường.
Với tuổi thơ, lòng tôi nhiều khi cũng rạo rực vì những lời thuật chuyện đầy kích thích của ông tôi. Nhiều lần u tôi thấy ông tôi kể chuyện cho tôi như vậy, đã từng bảo ông:
“Cháu nó còn dại, sao thầy cứ kể những chuyện ấy cho cháu nó nghe!”
Ông tôi đáp lại: “Con không biết trong người nó có chút máu của dòng họ nhà ta, thầy cần phải kể những chuyện này cho nó nghe, để mai sau nó nhớ lấy những lời thầy nói bây giờ!”
U tôi không nói gì, nhưng xem ý, u tôi không muốn tôi biết những chuyện của người lớn làm gì. Nhiều lần trí non nớt của tôi muốn tò mò biết gì về ông ngoại tôi, tôi hỏi, u tôi đều gạt đi nói rằng: “Con hỏi làm gì. Cậu con đấy chỉ vì biết chuyện cũ của ông đấy!”
Cậu tôi ngày ấy dính dáng đâu vào mấy vụ bãi khóa, mấy vụ truyền đơn, bị kết án mười năm khổ sai. Bà ngoại tôi, khóc đã khô nước mắt, ông tôi vẫn điềm nhiên bảo: “Làm tài trai đền nợ nước, có gì mà bà phải khóc. Bà phải nên mừng vì con nó đã hiểu hai chữ nước nhà!”
Hai chữ nước nhà, ngày ấy tôi có hiểu là gì đâu! Hiểu nghĩa hai chữ nước nhà mà phải bắt giam, đối với tôi thật khó hiểu quá!
Nhưng dần dần gần gũi ông tôi nhiều, tự tôi đã hiểu ông tôi và hiểu rõ cả nguyên do vì đâu cậu tôi phải bị bắt.
Một hôm ông tôi lấy trong rương ra một thanh kiếm sắt đã rỉ nhưng trông rất sắc và rất nặng cho tôi xem. Ông tôi bảo:
“Cháu có hiểu thanh kiếm này ở đâu không? Thanh kiếm này là của ông Bang Tốn tặng ông hồi trước đây. Cháu nhìn kỹ
mà xem những vết gỉ này có phải hoen lẫn máu không? Ấy là máu của bọn lường thầy phản bạn, quên nước, quên vua chỉ
nghĩ đến vinh thân phì gia, mà ngày xưa quân của ông Bang Tốn từng bắt gặp giết đi để trừ hại cho dân Việt, để rửa hờn cho lòng người Việt. Chính ông ngày xưa, ông cũng đã được chém vài bốn tên vong ơn bội nghĩa ấy!”
Tôi ngạc nhiên! Người hiền lành như ông tôi lại giết người sao. Tôi ngây thơ hỏi: “Làm sao ông lại chém người ta?”
- “Còn làm sao nữa! Thế cháu không nhớ ông nói chuyện về quân Cần Vương khởi nghĩa của ông Bang Tốn, của ông Đề Thường ở Hưng Yên, Thái Bình hay sao? Những toán quân Cần Vương ấy, tuy xưa thất bại nhưng cũng làm cho quân giặc nhiều phen táng đởm kinh hồn. Ông Bang Tốn sau 28
bị Tây bắt giết với ông Đề Thường, còn các đồng chí thì tan nát mỗi người một nơi. Ông lại quay về làm dân!”