VI Chàng đi theo nước thiếp theo chàngPartie 14

À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.

Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.

VI

Chàng đi theo nước thiếp theo chàng

Tại sao Phủ Thảo đã rớt tay súng, đáng lẽ hắn đã kết liễu xong đời của Đẩu Phàn Khoái.

Lúc hắn chạy lại đống vũ khí để chộp lấy khẩu súng lục, hắn đã có chủ

định. Hắn biết rằng hắn ở trong thế rất nguy ngập, khó mà hắn được yên thân, hắn phải tính nước liều.

Hắn liền chộp lấy khẩu súng, cố liều hạ cho kỳ được Đẩu Phàn Khoái.

Hắn định sau khi hạ xong Đẩu Phàn Khoái sẽ dùng khẩu súng lục của hắn uy hiếp tất cả bọn anh em của Đẩu Phàn Khoái và Cẩm Hứa Chử, để cho hai tên lính lấy lại hai khẩu súng trường, tiện thể bắt luôn cả bọn người vừa bắt hắn. Tha hồ mà được công trạng, kẻ gian manh đến lúc gần chết cũng vẫn gian manh, tinh thần bồi của hắn ngay trong lúc nguy vẫn còn nghĩ theo lối bồi, nghĩa là nghĩ lập công cán được với lũ quan thầy áo ngắn.

Ác nghiệt thay! Hắn nghĩ vậy, nhưng tình thế đã xoay chuyển không theo ý hắn, và Điển thi sĩ đã kết liễu đời tên tham quan ấy bằng một lưỡi gươm đưa!

Có lẽ hắn đã hết số, nên khi chộp được khẩu súng chĩa vào bắn Đẩu Phàn Khoái thì chính hắn cũng lại bị ai bắn vào ngay cánh tay cầm súng, tay đưa lệch đi, khẩu súng đã bóp cò, viên đạn nổ, do vậy cũng bắn trật ra ngoài.

Ai đã bắn Phủ Thảo vậy?

Sau khi đầu và mình tên ô quan này đã lăn rơi dưới đất, đầu một nơi và mình một nẻo, thì mọi người được nghe một tiếng đàn bà cười trong trẻo phát ra từ trong một bụi cây. Tiếp theo chuỗi cười ấy là câu nói:

- Chư vị anh hùng xử tội kẻ gian khéo lắm thay! Tý nữa thì còn đâu là đời của tay đàn anh đệ nhất hạng của khu rừng Yên Thế.

Mọi người đều không khỏi ngạc nhiên khi thấy người nói câu đó từ trong bụi cây bước ra.

*

* *

Người đó là ai?

Bây giờ chúng ta hãy trở lại từ lúc xe hơi của Phủ Thảo đang bon bon trên con đường liên tỉnh từ Bắc Giang và Yên Thế rồi sa hố, đâm gốc cây men rừng.

Ngay từ lúc sâm sẩm tối, khi bọn Đẩu Phàn Khoái và Cẩm Hứa Chử dẫn đàn em ra đào khúc đường ven rừng, đã có một người theo dõi, để ý đến bọn Đẩu và tuyệt nhiên không ai trông thấy người đó.

Người đó đứng núp trong những lùm cây, và mọi hành động của bọn Đẩu đều bị người đó biết rõ hết.

Người đó lẩm bẩm:

- Các ông tướng làm ăn thế này, có kẻ nào theo rình thật là nguy cho cả

bọn.

Nhưng không có ai theo rình cả, trừ người đó ra.

Từ lúc mọi người đào hố trên đường, cho tới lúc xe Phủ Thảo đi tới rồi đâm vào gốc cây, người đó, mắt không hề rời bọn Đẩu và Cẩm.

Người đó nhận rõ mọi cách đào hố của bọn họ, thầm khen cách bố trí cũng như kiểu đào để dẫn cho xe Phủ Thảo đâm vào gốc cây.

Khi Phủ Thảo bị chúng tay chơi bắt dẫn vào rừng, người đó cũng đi theo, và cũng đã chứng kiến cuộc dượt võ của Đẩu Phàn Khoái với tên tham quan này.

Mặc dầu thấy Đẩu đem tài nghệ giỡn với Phủ Thảo, người ấy cũng nhận thấy ở Phủ Thảo đôi chút võ nghệ khả dĩ chống đỡ nổi với sự đùa giỡn của tay đệ nhất anh hùng khu rừng Yên Thế.

Rồi đến khi Phủ Thảo manh tâm định dùng súng để kết liễu đời Đẩu Phàn Khoái thì chính người này đã cứu Đẩu, bắn tên ngầm vào cánh tay phải của lão tham quan.

Người đó là ai?

Qua tiếng cười, người đó chỉ là một người đàn bà, một nữ lang xinh đẹp không xa lạ gì với bọn Đẩu.

Người đó chính là cô Dậu, ái nữ ông Xã Thúc, đã do đường võ xe duyên sánh cùng Đẩu Phàn Khoái.

Chính cô Dậu đã dùng cung tên thô sơ kiểu Đẩu dùng bắn chim sẻ khi đóng vai chú Quao giữ vườn cho ông Xã, để bắn vào tay cầm súng của Phủ

Thảo, giữa lúc Phủ Thảo nhắm bắn Đẩu.

Tại sao cô Dậu lại tới đây để cứu Đẩu kịp thời như vậy?

Nguyên sau một thời kỳ trăng mật ngắn ngủi, Đẩu phải từ giã Dậu để về

Yên Thế trước là lo báo cái thù bắt giam của viên tri phủ, sau là để cùng các anh em hai vùng Nhã Nam và Yên Thế cố noi gương ông Đề Thám để gây một tiếng vang cho bọn Pháp hoảng kinh.

Đẩu ra đi được mấy hôm, bỗng một buổi Dậu thấy sốt ruột. Nàng lo ngại có điều gì xảy ra cho Đẩu.

Nàng nói với ông Xã:

- Con không hiểu có chuyện gì xảy tới cho nhà con không, mà sao con sốt ruột quá? Con muốn thử lên Yên Thế xem sao.

Ông Xã Thúc cười, bảo con gái:

- Mày nhớ chồng mày thì mày sốt ruột chứ có điều gì, chồng mày cũng như Cẩm Hứa Chử thừa khôn ngoan để tránh mọi tai họa. Nhưng, mày có muốn đi Yên Thế thì cứ đi.

Thế là Dậu lại lên đường với bộ y phục quê mùa, nàng không mang theo gì, ngoài chiếc cung cật tre và mấy mũi tên cứng.

Nàng tự nghĩ:

- Cung tên này tuy nhỏ, không ai thèm để ý tới, nhưng biết đâu lại dùng được việc gì.

Dậu ra đi, bụng tự nghĩ là sẽ cố giúp Đẩu rất đắc lực trong công cuộc gây dựng nghĩa quân để nối chí lớn của các anh hùng chống Pháp.

Đẩu đi theo nước thì Dậu phải đi theo chồng.

Lên tới khu rừng Yên Thế, tìm đến nhà Đẩu không gặp. Dậu liền quay lên lối phủ, định dò la hỏi thăm. Giữa đường Dậu trông thấy mấy người anh em của Đẩu lảng vảng ở khu rừng, nơi họ sẽ đào hố trên đường lên tỉnh.

Dậu bèn dừng chân, ẩn nấp không cho bọn kia trông thấy và bọn kia vì không để ý, chỉ cho là một thôn nữ qua đường, không nhận ra đó là Dậu.

Dậu đã chứng kiến đám anh em Đẩu đào đường đón bắt viên tri phủ, rồi dẫn mấy thầy trò hắn vào sâu trong rừng Yên Thế. Nàng cũng lẳng lặng theo họ vào rừng.

Thấy bọn Đẩu giở trò đấu võ với Phủ Thảo, Dậu lẩm bẩm:

- Các bố trẻ này rõ khéo vẽ! Đã bắt được hắn, tha thì tha, không tha thì giết phắt đi, còn giỡn hoài.

Rồi đến khi Phủ Thảo nhặt được khẩu súng sáu định hại Đẩu Phàn Khoái, Dậu phải vội vàng dùng cái cung tên thô sơ của mình, bắn vào cánh tay hắn, cứu Đẩu thoát viên đạn của lão ô quan.

Khi Điển đã tặng Phủ Thảo một nhát mã tấu rồi, Dậu mới từ trong lùm cây xuất hiện ra.

Bọn anh em phần nhiều đã biết mặt Dậu trong dịp cưới vừa qua, đều reo lên:

- Chị Đẩu, sao chị lại ở đây?

Và Đẩu cũng mừng rỡ, hỏi nàng:

- Mình lên đây bao giờ?

Dậu thuật rõ đầu đuôi từ khi nàng thấy nóng ruột ở nhà cho tới lúc nàng bắn mũi tên vào cánh tay Phủ Thảo.

Anh em ai cũng ngợi khen, và Đẩu bảo vợ:

- Thế ra lại chính mình đã cứu anh! Thảo nào, lão tham quan bắn chệch.

Dậu nói:

- Chẳng ai như các anh! Đã bắt được hắn còn đùa giỡn, mà đây tuy là ở

trong rừng thật, nhưng giá trong lúc xử tội tên quan phủ tham ô này, các anh cắt người canh gác có phải cẩn thận hơn không.

Mọi người đều cho Dậu nói hợp lý và nhận ra sự sơ hở của bọn mình.

Cẩm Hứa Chử:

- Nhưng may đã có chị đứng gác hộ đêm nay, và một lần nữa chị đã cứu anh Đẩu.

Dậu khiêm tốn nói:

- Đó cũng là một sự may mắn nên tên tham quan không bắn được anh Đẩu.

Mỗi người một tiếng mỗi người một câu, tiếng nói ồn ào cả khu rừng.

Bỗng Đây bên Nhã Nam bảo mọi người:

- Bây giờ tên tri phủ bồi Tây đã bị giết rồi, anh em ta chẳng lẽ cứ ở đây mãi sao?

Đẩu Phàn Khoái nói:

- Ừ, ta phải rời khỏi nơi đây để còn tính chuyện khác chứ.

Vận hỏi Đẩu và Cẩm:

- Còn hai người lính và người tài xế các đại ca tính sao?

Cẩm vẫy bọn ba người lại. Cả ba đều run lập cập đi lại trước mặt Cẩm.

Cẩm ôn tồn nói:

- Các người không phải sợ. Các quan đây không giết người vô tội. Tên tri phủ tham ô hại dân hại nước, các quan phải giết còn các ngươi, các quan tha cho. Liệu mà về với vợ con, đừng tìm cách báo bắt các quan vô ích. Và sau này, nếu còn làm việc, hai thầy quyền (chỉ hai người lính) chớ nên làm hại đồng bào đây. Nam quốc Nam nhân, cùng da vàng máu đỏ với nhau cả, ta phải thương nhau. Các thầy quyền nên trông gương viên tri phủ hôm nay, nếu phạm tội hại dân hại nước, sau này chớ trách các quan là vô tình.

Hai người lính và người tài xế luôn mồm vâng dạ.

Cẩm Hứa Chử bảo một đàn em dẫn bọn ba người này trở lại chỗ đường đào để mặc cho họ về phủ.

Các người này về sau không thấy ai nhắc tới, không biết họ có bị lôi thôi gì vì cái chết Phủ Thảo hay không.

*

* *

Từ bữa đó có tại địa hạt tỉnh Bắc Giang luôn luôn có một bọn nghĩa quân xuất hiện, đánh những đồn lẻ của Pháp rồi rút vào rừng.

Viên Công sứ Bắc Giang tự mình không dẹp yên được phải trình cùng phủ Thống sứ Bắc Kỳ, và sau đó quân đội Pháp đã được phái lên khu rừng Yên Thế và Nhã Nam một số đông, để đóng các đồn bố phòng ở ven rừng, và luôn luôn đi tuần tiễu trong rừng.

Đã có những cuộc đụng độ không quan trọng giữa quân Pháp và nghĩa quân. Bọn lính khố đỏ người Việt trong quân đội Pháp trong những khi đi tuần thường được nghĩa quân kêu gọi quay súng bắn lại giặc Pháp, và bỏ

hàng ngũ quân Pháp để đi theo nghĩa quân.

Lời kêu gọi tuy không có kết quả thực sự, nghĩa là không có người lính khố đỏ nào quay súng lại bắn Pháp, hoặc bỏ hàng ngũ Pháp đi theo nghĩa quân, nhưng đã có một kết quả tinh thần rất lớn, là những người lính khố đỏ

sau những cuộc tuần tiễu thường nhắc lại những lời kêu gọi của nghĩa quân, vô tình chúng đã tuyên truyền cho nghĩa quân rất nhiều. Có nhiều trận đụng độ, nghĩa quân để ý thấy bọn lính khố đỏ, thường nhắm bắn vào chỗ không người nhiều hơn là nhắm vào đám nghĩa quân.

Trong bọn nghĩa quân có một nữ đoàn viên thật là can đảm. Luôn luôn có mặt ở những chỗ chạm súng, nhất là ở những trận đánh úp các đồn lẻ.

Dân chúng vẫn gọi nữ đoàn viên đó là Phàn Khoái bà vì sự dũng mãnh, can đảm của nàng. Đã có lần, trong cuộc đón đánh quân tuần tiễu với một thanh bảo đao, Phàn Khoái bà đã hạ được hai tên lính Pháp và đoạt được hai khẩu súng trường.

Bọn Pháp nói chuyện với nhau thường gọi Phàn Khoái bà là con nữ tặc, và nói đến nàng chúng đều lắc đầu le lưỡi.

Đám nghĩa quân không đông bao nhiêu nhưng đã gây kinh khủng rất nhiều cho bọn quân lính Pháp, và cả bọn tham quan ô lại làm giàu một cách phi nghĩa.

Thỉnh thoảng nghĩa quân lại xuất hiện như những bóng ma tại các xã để

vay lương thực của dân chúng.

Dân chúng phần nhiều có cảm tình với nghĩa quân, nên khi nghĩa quân tới đâu đều không bị ai ngăn cản chống cự cả. Họ không dám tự mang thóc lúa tiền bạc lại nộp nghĩa quân, nhưng, nếu nghĩa quân tới nhà họ lấy, họ để

cho lấy và đôi khi còn mách khéo cho nghĩa quân những kho thóc hoặc bạc vàng của bọn nhà giàu vô lương.

Mỗi lần nghĩa quân xuất hiện như vậy, rất mau chóng.

Bọn hương lý tuy không chống lại nghĩa quân, nhưng sợ lệnh của bọn Pháp cũng không dám dung túng họ, đành phải đi báo phủ hoặc huyện,

trước khi đi báo như vậy, bao giờ cũng gián tiếp cho nghĩa quân hay.

Như những bóng ma, nghĩa quân thoắt đến rồi lại thoắt đi. Khi lính phủ

hoặc lính huyện tới thì nghĩa quân đã đi xa từ lâu rồi, không ai biết đi về

hướng nào.

Bọn quan lại rất khổ sở, vất vả vì nghĩa quân. Lệnh của bọn Pháp thì nghiệt ngã, nghĩa quân lại tung hoành khi ẩn, khi hiện.

Chính bọn Pháp cũng không biết quân số của nghĩa quân là bao nhiêu.

Chúng thường bảo đó là dư đảng của ông Đề Thám. Bọn lính Pháp phải luôn luôn đi tuần tiễu trong những đường rừng, thường tỏ ra cảm phục sự

anh dũng của đám nghĩa quân.

Họ bảo nhau:

- Đây là những người yêu nước! Chính phủ Pháp mình cố đàn áp họ là vô lý. Tại sao không sửa đổi lại chính sách để chiêu an họ, họ về với mình có phải đỡ mất công bọn mình khổ sở.

Cũng có tên nói:

- Thôi, đó là việc của cấp trên, mình là người lính chỉ biết tuân lệnh, bảo đi đâu thì đi đó, bàn tán làm gì! Coi chừng kẻo lại bị nghi ngờ thông đồng với địch!

Quân Pháp được tăng cường gửi lên Bắc Giang để tiêu diệt nghĩa quân.

Họ đi lùng nghĩa quân, nhưng không hề bao giờ gặp, và cũng không hề có những cuộc giao tranh lớn.

Nhà cầm quyền tỉnh Bắc Giang thật mất ăn mất ngủ với bọn nghĩa quân.

Thấy không sao tìm gặp được bọn nghĩa quân, sau cùng Bộ chỉ huy Pháp phải dùng kế bao vây khu rừng, không ai ra ai vào nữa, cốt để tuyệt đường lương thực của đối phương.

Họ bao vây luôn mấy tháng và vẫn có những cuộc tuần tiễu trong rừng, nhưng họ chỉ nhọc công vô ích, họ không bắt gặp nghĩa quân ở đâu cả. Vậy mà thỉnh thoảng nếu bọn họ đi lẻ tẻ là y như gặp nghĩa quân, phần nhiều do Phàn Khoái bà chỉ huy, tấn công họ.

Họ vẫn bảo nhau:

- Nữ tặc Bắc Giang ghê gớm quá!

Bọn Pháp bao vây rất kỹ lưỡng, khiến hoạt động của nghĩa quân không sao mà bành trướng được.

Dân chúng trước mọi sự đe dọa của Pháp và của bọn tay sai chúng, tuy có cảm tình với nghĩa quân, song cũng không giúp đỡ cho nghĩa quân được bao nhiêu.

Xưa nay ở đời bao giờ cũng vậy, trong công việc gì cũng thế, một là tiến, hai là lùi. Đứng nguyên vị trí cũ, mà người khác tiến, tức là mình lùi.

Tình trạng đám nghĩa quân vùng Nhã Nam và Yên Thế cũng vậy. Tuy rằng trong những cuộc đụng độ không có thiệt hại nhân mạng, trong những cuộc tấn công các đồn lẻ hoặc tiêu diệt những toán quân tuần tiễu nhỏ, nghĩa quân vẫn thắng lợi, nhưng như vậy không phải là tiến trước sự bành trướng của quân Pháp và trước sự canh gác bao vây các đường huyết lộ của nghĩa quân.

Nói như vậy tức là bảo rằng nghĩa quân đã lui vậy! Chính nghĩa quân đã thực sự lui sau một buổi họp các anh em chỉ huy. Và những anh em chỉ huy này không phải ai xa lạ, chính là Đẩu Phàn Khoái và Cẩm Hứa Chử và nữ

đoàn viên mà bọn Pháp ghê sợ gọi là nữ tặc chính là cô Dậu, vợ của Đẩu Phàn Khoái vậy.

Nguyên thấy quân Pháp kéo lên Bắc Giang ngày càng đông và dân chúng ngày càng sợ sệt lũ Pháp cũng như lũ tay sai của chúng, không dám ra mặt ủng hộ và tiếp tế cho nghĩa quân, Cẩm Hứa Chử và Đẩu Phàn Khoái đã bàn nhau tới chữ thời cơ.

Hơn nữa vòng vây càng thắt chặt hơn, khiến sự hoạt động của nghĩa quân rất khó khăn. Cẩm cũng như Đẩu đều nghĩ rằng cơ hội chưa tới phải chờ dịp khác và phải bảo toàn lấy lực lượng.

Cẩm và Đẩu đã cùng đồng ý họp chúng anh em lại.

Cẩm Hứa Chử nói:

- Các anh chị em, hôm nay chúng ta phải nói với nhau điều này thực là vạn bất đắc dĩ. Chúng ta là một bọn người biết thương nước thương nòi, biết nghĩ đến thù chung, can đảm có thừa, dũng mãnh cơ mưu cũng không kém. Chúng ta muốn làm những việc nghiêng trời lệch đất, đuổi lũ giặc da trắng đang thống trị nước ta, nhưng sức chúng ta có hạn, vận nước khốn

cùng, keo này chúng ta xem chừng chưa làm gì nên chuyện, chúng ta phải ẩn nhẫn đợi thời, rồi ra bày một keo khác. Chúng ta có bổn phận phải bảo tồn lấy lực lượng của chúng ta dành cho khi dùng đến sau này. Chắc các anh chị em cũng nhận thấy như chúng tôi, lực lượng Pháp hiện nay quá mạnh, chúng định vây bọc để tuyệt đường lương thực của chúng ta, rồi chúng sẽ hành quân sau. Tinh thần chúng ta có, nhưng khí giới chúng ta kém, nhân số chúng ta thua, chúng ta cần phải biết liệu trước…

Cẩm vừa nói tới đó, Đây ngắt lời:

- Thế đại ca định chúng ta sẽ khoanh tay chịu chết sao? Đâu có được!

Thua thì thua, kém thì kém, chúng ta phải đánh đến giọt máu cuối cùng, hy sinh đến người cuối cùng để lũ quỷ trắng hiểu rằng người Việt Nam bao giờ

cũng vì non sông nước Việt…

Cẩm Hứa Chử khoát tay, bảo Đây.

- Lời chú mày nói rất đúng, nhưng chỉ đúng một đường chứ không hai.

Thử hỏi chúng ta hy sinh bây giờ có được lợi gì không hay chỉ chết thiệt thân vô ích như một võ phu. Chúng ta cần phải sống để còn lo cứu nước, trả

thù cho đồng bào. Lúc này chúng ta yếu, lũ Tây đang mạnh, chúng ta tạm lánh mặt đi rồi cơ hội thuận tiện đến, chúng ta sẽ lại nhóm nhau lại, phất cờ

cần vương chống giặc. Chúng ta bảo toàn được lực lượng và giặc cũng đỡ

giết hại đồng bào.

Điển thi sĩ hỏi:

- Bây giờ đại ca định thế nào?

Đẩu Phàn Khoái nói:

- Tôi xin đỡ lời Cẩm Hứa Chử đại ca. Không ai có quyền định đoạt một mình ở đây cả. Chúng ta phải hợp nhau lại để cùng quyết định. Theo như

thiển ý thì lúc này ta cần tạm lánh bọn Tây trắng, ai về nhà nấy theo nghiệp cũ, rồi một ngày kia cơ hội tới chúng ta lại triệu tập cùng hoạt động cho quốc gia dân tộc. Anh em nghĩ sao?

Song thiết lĩnh bên Nhã Nam thưa:

- Chúng tôi là đàn em chỉ biết nghe theo đại ca. Các đại ca đã làm gì chắc là phải nghĩ chín chắn lắm.

Thơ cũng nói theo:

- Từ trước chúng tới chỉ biết có các đại ca, các đại ca bảo sao chúng tôi nghe vậy, kể cả sự sống chết nữa.

Các anh em khác, mỗi người một câu, song tựu trung ý kiến mọi người đều giống ý kiến của Song và của Thơ cả.

Để mọi người phát biểu ý kiến của mình rồi, Cẩm mới nói:

- Vậy thì hầu hết các anh chị em đều đồng ý là chúng ta tạm giải tán để

chờ cơ hội. Còn ý kiến chị Đẩu thì ra sao?

Thấy Cẩm hỏi mình, Dậu liền thưa:

- Em là đàn bà. Phụ nữ thì tòng phu. Chồng đi theo nước thì thiếp theo chồng. Nay nhà em đã có ý kiến tạm bảo tồn lực lượng, em chỉ biết theo nhà em.

Đẩu nói:

- Như vậy là toàn mọi người nam nữ ở đây đều đồng ý tạm giải tán, nhưng giải tán cũng không phải dễ dàng, chúng ta phải có kế hoạch tránh lọt vào tay Tây.

Cẩm và Đẩu cùng hoạch định kế hoạch, chia người trong lúc đêm đi dần ra khỏi khu rừng, đi ra lẻ tẻ, tránh những đường lối vẫn đi, cần tìm những đường mới để khỏi bị chận.

Kế hoạch đã thực hiện đúng như ý của Cẩm và Đẩu. Các anh em cả hai vùng Nhã Nam và Yên Thế đều không ai việc gì.

Lẽ tất nhiên thế là đám nghĩa quân tan. Quân Pháp vẫn cho vây khu rừng và vẫn cho quân tuần tiễu đi lùng, nhưng sau hơn một tháng chúng cho người vào do thám cũng biết rằng nghĩa quân giải tán. Chúng lại kéo nhau về Hà Nội.

Nghĩa quân giải tán, dân chúng ai cũng nhớ tiếc.

*

* *

Từ đó, không thấy ai nhắc mấy tới bọn Đẩu Phàn Khoái và Cẩm Hứa Chử nữa.

Cho đến năm Giáp Ngọ, nghĩa là hơn ba chục năm sau, có người nói rằng gia đình cụ Đẩu ở Bắc Giang cũng di cư vào Nam.

Hình như cụ Đẩu có rủ cả một cụ bạn già là cụ Cẩm cùng đi. Con cháu hai người cũng khá đông. Nghe đâu cụ Đẩu có một người con làm ăn lập trại ở Ban Mê Thuột và thỉnh thoảng cụ có tới thăm con và các cháu ở đây thì phải.

10-4-63

HẾT

Mấy lời nói đầu

I Chiếc khăn lượt rách

II Anh hùng ngộ anh hùng

III Mối thù khu rừng Yên Thế

Một trận so tài

IV Trai tài gái sắc

V Một lưỡi gươm đưa

VI Chàng đi theo nước thiếp theo chàng