Tiết Tháo Một ThờiPart 6
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Đoàn Thượng cho là giảng hòa với quân Trần rồi, không phòng bị cẩn thận như trước, đến khi được tin quân Trần kéo tới đánh mặt sau, ông liền đem quân ra cự địch. Cùng trong lúc ấy ông Trần Thủ Độ cũng kéo đại quân tới đánh từ mặt Văn Giang lại. Lâm vào thế lưỡng đầu thụ địch, quân của Đoàn Thượng phải thua chạy, Đoàn Thượng quay về chống giữ mặt tiền quân, không ngờ bị một tướng nhà Trần từ mé sau xấn lên chém một nhát vào cổ gần đứt. Bị chém, ông quay cổ lại. Tướng Trần sợ hãi chạy trốn mất. Ông liền cởi giây lưng ra buộc vào cổ cho khỏi rơi đầu rồi hầm hầm tế
ngựa chạy về phía Đông, chạy tới đâu, quân nhà Trần phải dãn đường tránh tới đó.
Khi ông chạy tới làng Yên Nhân, nay là Bần Yên Nhân, có một cụ già mũ áo chững chạc đứng bên đường nói rằng:
- Tướng quân trung dũng lắm. Thượng đế đã kén Ngài làm thần xứ này rồi. Có một cái gò bên cạnh làng kia, đó là đất hương hỏa của tướng quân xin tướng quân để tâm cho.
Đoàn Thượng vâng một tiếng, phi ngựa chạy thẳng tới gò đó, xuống ngựa, gối đầu vào ngọn mác mà nằm, một lát sau thì chết. Ông chết rồi, mối đùn đất đắp thành mộ ngay. Nơi này thuộc thôn Đông Đạo xã Yên Phú.
Ông chết đi, dân làng Yên Phú lập miếu tô tượng để thờ
nhưng về sau vỡ đê nước lụt, tượng ông trôi tới xã Yên Nhân.
Làng Yên Nhân liền lập một ngôi miếu khác để thờ ông ở
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
ngay bên cạnh sông Hồng Giang, mặt ngoảnh ra con đường cái chính xứ Đông Bắc.
Triều Nguyễn phong ông là bảo quốc hà dân nhất đẳng thần. Miếu ông, cho tới hồi tiền thế chiến vẫn còn.
Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm có đôi câu đối:
Thanh miếu tuế thời hương, lăng cốc bất khai canh hoàn cục.
Hồng Châu kim cổ lộ, cương thường sức khởi vãng lai nhân.
Diễn nôm:
Khói hương Thanh miếu ngạt ngào, trời trăng gió cao nêu nền tiết nghĩa.
Đường xá Hồng Châu đi lại, khách gần xa trông rõ cột cương thường(1).
Tương truyền rằng miếu Đoàn tướng quân linh thiêng lắm, kẻ qua lại có ý ngạo ngược bị trừng phạt ngay. Các lái buôn qua lại trước đền, vào kính cẩn lễ bái đều được buôn may bán đắt. Ai cầu gì thường rất linh ứng.
Đoàn Thượng thật xứng đáng được sự tôn thờ của dân chúng. Ông từ khước mọi sự vinh quang nhà Trần dành cho ông để giữ tròn tiết nghĩa với nhà Lý. Ông đã chết vì nhà Lý, khôi phục nhà Lý không xong, nhưng danh ông còn lưu lại nghìn thu.
1 Nhật Nham Trịnh Như Tấu: “Hưng Yên địa chí”.
THÀ LÀM QUỶ NƯỚC NAM,
CÒN HƠN LÀM VƯƠNG ĐẤT BẮC
Người Việt Nam chúng ta ai không biết câu nói trên của Trần Bình Trọng, một danh tướng đời Trần, câu nói để trả
lời tướng giặc Mông Cổ khi chúng dụ ông hàng.
Ông vốn là dòng dõi Lê Đại Hành, đổi sang họ Trần từ đời ông nội vì có công với triều đình.
Là một người khỏe mạnh và đảm lược hơn người, khi nhà Trần khởi nghiệp, ông có công trong việc ổn định tình hình trong nước, dẹp tan được đám bầy tôi nhà Lý nên được phong là Khuông quốc Thượng tướng quân Thượng Vị Hầu.
Khi quân Mông Cổ kéo sang nước ta lần đầu tiên do tướng Ngột Lương Hợp chỉ huy, ông đã tham dự trận đánh. Quân Mông Cổ bị thua phải rút lui về Vân Nam. Ông được vua Trần Thánh Tôn phong tước Bảo Nghĩa Vương.
Năm 1283 quân Mông Cổ lại sang nước ta lần thứ hai do thái tử Thoát Hoan thống lĩnh. Chúng kéo đại quân lấy cớ
mượn đường đi đánh Chiêm Thành, để thực hiện mộng xâm chiếm nước Nam nhưng triều đình ta không chịu, đã đem quân 118
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
chống lại. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được phong làm Tiết chế Thống lĩnh toàn quân để ngăn giặc. Ngài chia quân đóng giữ các nơi.
Quân Nguyên đánh gấp, Ngài hộ giá tới Thiên Trường rồi sau lại rước xa giá ra Quảng Yên.
Trần Bình Trọng được cử giữ Thiên Trường để cự nhau với quân của Thoát Hoan.
Đóng ở Thiên Trường, ông đón đánh quân Nguyên khi chúng kéo tới bãi Đà mạc (ở khúc sông Thiên mạc, huyện Đông An, tỉnh Hưng Yên), nhưng vì quân ít thế yếu nên bị
chúng bao vây rồi bị bắt.
Quân Nguyên dẫn ông tới Thoát Hoan. Tên này biết ông là dũng tướng muốn khuyên dỗ về hàng, thết đãi cho ăn uống.
Ông từ chối không ăn. Chúng hỏi ông về việc nước, ông không nói. Sau Thoát Hoan hỏi ông:
- Có muốn làm vương đất Bắc không?
Ông quát lên rằng:
- Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt, chỉ có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi thôi.
Thoát Hoan thấy dụ hàng ông không xong, sai quân đem chém.
Được tin ông bị giặc giết, Thánh Tôn thượng hoàng, vua Nhân Tôn và Hưng Đạo Vương thương xót vô cùng.
Ông đã tử tiết vì nước, ông đã khước từ vinh hoa phú quý của giặc để nhận lấy cái chết, không giống bao nhiêu kẻ tôn thất nhà Trần đã đầu hàng giặc như lũ Trần Kiện, Trần Ích Tắc, Trần Nhật Hiệu...
Gương tiết nghĩa của ông vằng vặc chiếu muôn đời.
Đời sau nhắc đến chuyện ông ai cũng ngợi khen. Phan Kế
Bính có thơ khen rằng:
Giỏi thay Trần Bình Trọng!
Dòng dõi Lê Đại Hành.
Đánh giặc, dư tài mạnh,
Thờ vua, một tiết trinh.
Bắc vương sống mà nhục,
Nam quỷ thác cũng vinh.
Cứng cỏi lời trung liệt,
Nghĩa thu tỏ đại danh.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
NGUYỄN BIỂU
Ông làm quan vào cuối đời nhà Trần khi Hồ Quí Ly chuyên quyền để đi dần đến chỗ cướp ngôi nhà Trần.
Ông sinh tại thôn Nội Diên, xã Bình Hồ, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, đỗ Thái học sinh vào năm 1375 làm quan tới chức Điện tiền thị ngự sử.
Nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần, triều Minh bên Trung Hoa cử Trương Phụ sang lấy tiếng phù Trần diệt Hồ, nhưng thực sự là muốn thôn tính nước Nam.
Trước tình trạng ấy, ông bỏ trốn.
Trong khi ấy, con thứ vua Trần Nghệ Tôn là Quỹ xưng là Giản Định Hoàng đế nổi lên nối nghiệp nhà Trần, chống nhau với quân của Trương Phụ. Ông theo Giản Định đế vào Nghệ An. Giản Định đế lúc ấy được các quan triều thần cũ
của nhà Trần theo, nên chống nhau với quân Tàu, đã thắng được những trận lớn như trận Bô Cô, nhưng về sau Giản Định đế bị quân Trương Phụ bắt.
Nước Nam khi ấy có vua Trùng Quang, cháu vua Trần Nghệ Tôn tiếp tục chống nhau với quân Minh nhưng bị thua nhiều trận phải bỏ chạy vào Hóa Châu.
Trước tình trạng không thể thắng được quân Minh, vua Trùng Quang phải sai Nguyễn Biểu đi phong với Trương 121
Phụ; nhà vua muốn dựa vào việc cầu phong để làm kế hoãn binh, có thì giờ chỉnh đốn lại binh mã để tiếp tục chống giặc.
Nguyễn Biểu lĩnh mệnh vua đi, quyết giữ lấy quốc thể, không để cho giặc Minh dám coi thường người Nam. Nhà vua đã tiễn Biểu bằng một bài thơ, và Biểu cũng đã họa lại: Mấy vần thơ cũ ngợi Hoàng Hoa(1)
Trân trọng rày nhân mở khúc ca,
Chiếu phượng vài hàng tơ cặn kẽ,
Vó câu ngàn dặm tuyết xông pha,
Tang bồng đã bấm lòng khi trẻ,
Khương quế thêm cay tính tuổi già.
Việc nước một mai công gỡ vẹn,
Gác lân danh tiếng dội càng xa(2).
Bài họa:
Tiếng ngọc từ vâng trước bệ hoa,
Lắng tai đồng vọng thuở thi ca.
Đường mây vó ký lần lần trải,
Ải tuyết cờ mao thức thức pha...
Há một cung tên lồng chí trẻ,
Bội mười vàng sắt đúc gan già.
Hổ mình luống thiếu tài chuyên đối(3)
Dịch lộ ba ngàn dám ngại xa(4).
Vua tôi tiễn nhau bằng thơ văn, biết đâu những lời thơ đó lại là những lời vĩnh biệt vì chuyến đi sứ này Nguyễn Biểu chỉ có đi, chẳng có về.
1 Có ý chúc Nguyễn Biểu ra đi được thành công.
2 Gác lân là nơi nhà Hán ghi tên những bậc có công với quốc gia.
3 Tài đi sứ.
4 Theo Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
Trương Phụ lúc đó đóng ở Nghệ An. Ông đến Nghệ An vào yết kiến, không chịu lạy, đứng ngang nhiên. Phụ hỏi ông một cách hỗn xược; ông trả lời lại bằng những lời đanh thép, không làm nhục mệnh vua.
Trương Phụ muốn dụ ông hàng, ông không chịu.
Để thử gan ông, Phụ sai dọn một mâm cơm, trong bát canh rất lớn có chiếc đầu lâu người, thực ra đây là đầu một loại cá ở biển Nam Hải. Ông thản nhiên khoét mắt đầu lâu, ăn và nói:
- Mấy khi được ăn thịt chó Ngô.
Trương Phụ giận lắm, nhưng sau bữa cơm vẫn cho ông về.
Không may cho ông, ông ra về chưa được bao xa thì có tên Phan Liêu, hàng tướng của Trương Phụ ton hót nói rằng:
- Không nên thả hổ về rừng. Người này thoát được ắt quân ta nguy lắm.
Trương Phụ liền sai quân bắt ông trở lại, bảo ông nếu không chịu hàng sẽ bị giết. Ông giận mắng Trương Phụ:
- Chúng bay là một lũ chó tham lam, trong bụng chỉ lo đường chiếm giữ, ngoài mặt lại dương tiếng mang quân nhân nghĩa đi đánh dẹp. Trước chúng bay nói sang lập họ Trần, sau lại đặt quận huyện để cai trị, rồi tìm kế vơ vét của cải, ức hiếp dân sinh. Chúng bay là đồ ăn cướp hung ngược. Ta chết thì chết, đời nào ta đi theo lũ chúng bay.
Trương Phụ giận lắm sai đem cột ông vào cầu La, cạnh chùa Yên Quốc.
Ông vùng vẫy, tháo được một tay ra, lấy móng tay vạch vào lớp rêu bám ở cột cầu tám chữ: Thất nguyệt sơ nhất nhật, Nguyễn Biểu tử (1).
Bị trói ở cột cầu, ông tròn xoe cặp mắt chửi giặc Tàu cho đến khi nước thủy triều dâng lên, ông bị chết ngạt mới thôi.
1 Mồng một tháng bảy, Nguyễn Biểu chết.
Tin ông bị giết tới vua Trùng Quang, nhà vua thương xót lắm. Ông thật là một người nghĩa khi coi thường cái chết, dám chửi giặc trong khi có những bọn như Phan Liêu lại đi theo giặc để cầu vinh. Buồn thay, bọn Phan Liêu thời nào cũng có.
Sau khi Nguyễn Biểu đã chết, vua Trùng Quang bị quân giặc đánh thua và bị bắt cùng với các tướng như Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung, Nguyễn Súy. Chúng đem giải mọi người đến Yên Kinh, nhưng giữa đường, vua Trùng Quang nhảy xuống bể tự tử, và Đặng Dung cũng đều tử tiết chết theo. Thật đáng khen thay!
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
LÊ LAI CỨU CHÚA
Ta có câu: Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi để chỉ ngày giỗ của vua Lê Thái Tổ nhằm vào ngày 22 tháng 8 âm lịch mỗi năm, và trước ngày giỗ nhà vua là ngày giỗ ông Lê Lai.
Sự thực không phải ông Lê Lai chết vào ngày 21 tháng 8, nhưng sở dĩ người ta cúng ông vào ngày trước giỗ vua Lê một hôm chính là do lệnh của vua Lê vậy.
Nguyên khi vua Lê khởi nghĩa tự Lam Sơn để đánh quân nhà Minh, có trận được, có trận thua, có khi tiến, có khi thoái, và trong một trận tại Chí Linh, nhà vua bị quân giặc vây kín, rất khó bề thoát thân. Nếu bấy giờ nhà vua bị quân giặc bắt giết, việc khởi nghĩa có thể bị bỏ dở, và quân Minh sẽ tiếp tục làm chủ đất nước Việt Nam.
Nhà vua đóng quân trên núi Chí Linh, quân giặc vây kín chân núi. Trong lúc nguy hiểm đó, nhà vua có hỏi trong các hàng tướng tá, có ai dám, vì nhà vua, liều mình chết thay, như Kỷ Tín khi xưa đã chết thay vua Hán Cao Tổ; thì ông Lê Lai, nhận xin ra trận chết thay vua. Nhà vua trao áo bào cho ông Lê Lai mặc ra trận. Quân Minh thấy ông Lê Lai mặc áo hoàng bào, cho chính là vua Lê Thái Tổ, xông vào vây đánh và ông Lê Lai tử trận.
Giết được Lê Lai, quân giặc cho là đã giết được vua Lê, không đề phòng nữa, vua Lê đã nhờ đó mà thoát thân gây lại thế lực, tiếp tục chiến đấu cho đến năm 1428 toàn thắng quân Minh, đem lại nền độc lập cho nước nhà, lập ra nhà Lê.
Ông Lê Lai đã liều mình cứu chúa, bỏ sự sống tìm cái chết, để giúp vua Lê cứu được đất nước.
Nước nhà lúc đó, không có ông Lê Lai thì được, nhưng không có vua Lê thì không xong, vì ai sẽ là người đánh đuổi giặc Minh đang xâm lăng đất nước.
Ông Lê Lai đã vì nghĩa mà chết. Tấm gương sáng đã được nêu cao. Và để ghi ơn người đã liều chết cứu mình, vua Lê Thái Tổ khi sắp băng hà có truyền lại cho triều đình: hàng năm, trước khi cúng giỗ mình, phải cúng giỗ ông Lê Lai.
Ông Lê Lai vì đất nước cứu chúa, thật đáng khen, nhưng vua Lê Thái Tổ, người biết ơn ông Lê Lai, lại càng đáng khen hơn.
Xưa nay, hết chim thì bẻ ná, hết thỏ, giết chó săn là chuyện thường tình, như Câu Tiễn giết Văn Chủng, như Hán Cao Tổ
giết Hàn Tín và Tiêu Hà, như Tống Thái Tổ giết Trịnh Ân, vậy mà vua Lê Thái Tổ nhớ ơn ông Lê Lai chẳng là một việc khác thường sao. Đáng khen lắm thay, nhất là ở chỗ bắt thần dân, trước khi cúng giỗ mình, phải cúng người đã liều chết thay mình, để công cứu chúa của Lê Lai được mãi mãi lưu truyền cùng hậu thế.
Ân nghĩa trong lòng người Việt nam là như vậy, dù người đó ở giai cấp nào.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
ÔNG VŨ CÔNG DUỆ
VỚI CHIẾC ẤN NGỰ SỬ
Thời có loạn, mới tỏ mặt anh hùng; nước có nguy, mới rõ mặt tôi trung.
Đời nhà Lê, trước khi nhà Mạc cướp ngôi, triều đình nẩy sinh một lũ gian thần kéo bè, kéo cánh, dối vua, lừa dân, đã khiến cho ngai vàng của nhà Lê mất về tay họ Mạc. Nhưng trong đá sỏi còn có trạch vàng, trong đám bầy tôi nhà Lê lẽ
nào không có tôi trung.
Một trong vị tôi trung của nhà Lê khi họ Mạc cướp ngôi, phải kể ông Vũ Công Duệ.
Ông quê làng Trình Xá, huyện Sơn Vi, tỉnh Sơn Tây.
Lúc nhỏ, nhà nghèo, bố mẹ ông phải vay nợ nuôi con. Ông là người thông minh, học đâu nhớ đấy, lại rất chăm chỉ nên ngoài hai mươi tuổi ông đã thi đỗ Trạng Nguyên.
Sách thuật lại rằng, khi ông còn bé, một hôm có khách tới đòi nợ. Cha mẹ lúc đó đều đi vắng. Người khách nợ hỏi ông:
- Bố mày đâu?
Ông đáp:
- Bố tôi đi giết người.
Khách nợ lại hỏi:
- Mẹ mày đâu?
- Mẹ tôi đi cứu người.
Người khách nợ lấy làm lạ không hiểu ý ông định nói gì, căn vặn hỏi ông. Ông bảo rằng:
- Nếu ông muốn biết, cho tôi tiền thưởng, tôi sẽ nói.
Người khách nợ bảo:
- Bố mẹ mày còn nợ tao tiền, mày nói đi, tao sẽ tha nợ
cho nhà mày.
Lúc ấy Vũ Công Duệ đang nghịch đất sét nặn đồ chơi, đất đang còn dẻo. Ông chìa cục đất bảo người khách nợ in tay vào đấy để làm tin.
Người kia liền in tay vào cục đất để thử xem Công Duệ
nói ra sao?
Khách đã in tay rồi. Công Duệ liền bảo:
- Cha tôi đi nhổ mạ, còn mẹ tôi đi cấy mạ.
Người kia lấy làm kỳ dị ra về. Mấy hôm sau, người này trở lại đòi nợ. Vũ Công Duệ liền đưa cục đất sét hôm trước có lằn tay của người này ra nói:
- Ông đã bảo tha nợ cho bố mẹ tôi, tay ông ký vào đây, sao ông còn đòi nữa?
Lời của Công Duệ khiến người kia không còn biết nói sao, đành phải bảo cha mẹ Công Duệ xin tặng món nợ đó để cho Công Duệ lấy tiền mua sách đi học.
Về trí thông minh của Công Duệ, người ta còn thuật lại rằng hồi nhỏ, khi ông đi chơi với bọn trẻ, lấy đất sét nặn con voi, ông đã làm cho con voi đất mà cử động được bằng cách bắt hai con bướm làm hai tai, cắm con đỉa làm vòi và lấy bốn con cua làm chân. Như vậy tuy là voi đất mà tai vẫy được, vòi co lên quắp xuống được và bốn chân đi được, ai trông thấy cũng lấy làm khen.
Đi học, Vũ Công Duệ học rất tấn tới, học đâu nhớ đấy, 128
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
và năm ngoài hai mươi tuổi thì đỗ Trạng Nguyên dưới Triều vua Lê Thánh Tôn.
Ông làm quan, tính nết trung trực nên được nhà vua cất lên chức Đô ngự sử, các quan trong triều đều kính nể.
Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, triều thần nhiều người theo họ Mạc, chỉ còn một số ít các quan trung thần chống lại, là các ông Ngô Hoán, Nguyễn Văn Vận, Nguyễn Thái Bạt, Lê Tuấn Mậu, Đàm Thận Huy, Nguyễn Duy Tường, Vũ Công Duệ v.v... vào khoảng tất cả độ mươi người, đều là những tay khoa giáp, trọng tiết nghĩa. Những người này, người thì nhổ vào mặt Mạc Đăng Dung, người thì lấy nghiên mực đập, người thì chửi mắng. Những người này đều bị Mạc Đăng Dung giết chết. Có người, không bị Đăng Dung giết, lại tự tử để giữ tròn chữ Nghĩa đối với nhà vua. Riêng Vũ
Công Duệ, khi Mạc Đăng Dung dụ ông, ông đã chửi mắng rầm rĩ, sau đó ông ôm quả ấn ngự sử đâm đầu xuống cửa bể
Thần Phù trầm mình.
Ông Vũ Công Duệ đã cùng mấy bạn đồng liêu giữ tròn tiết nghĩa, không ham sống sợ chết, lưu lại tiếng thơm muôn đời.
Sáu chục năm sau, nhà Lê trung hưng khôi phục lại được kinh thành Thăng Long. Triều đình sai đúc quả ấn ngự sử mới, nhưng đúc mãi không xong, đành phải sai người lặn xuống cửa bể Thần Phù để tìm quả ấn cũ.
Người lặn xuống đáy bể, thấy Vũ Công Duệ còn mặc nguyên trào phục, cổ đeo túi ấn, ngồi xếp bằng tròn như khi còn sống, liền trở lên tâu cùng vua Trang Tôn rõ.
Nhà vua lấy làm lạ, cho là lòng trung thành của Công Duệ
đã kết tinh như vậy, liền cho làm lễ, rồi vớt xác Công Duệ, khâm liệm và đưa về an táng tại quê nhà và truy phong làm Thượng đẳng phúc thần.
BÀ PHAN THỊ THUẤN
Bà Phan Thị Thuấn người thời Lê mạt, là ái thiếp của tướng Ngô Cảnh Hoàn coi đội quân tiền phong đời vua Lê Cảnh Hưng.
Năm Bính Ngọ (1786) Ngô Cảnh Hoàn chống quân Tây Sơn bị thua rồi chết trận tại Thúy Ái.
Vợ cả của tướng Hoàn không có con đã thí phát đi tu, nên tuy là thiếp, bà vẫn được chồng coi như vợ cả. Vậy mà khi ông chết, bà không tỏ vẻ gì là đau đớn, cứ thản nhiên như
không, cười nói vui vẻ mặc người chung quanh mai mỉa, và cũng không phân trần phải trái. Người nhà ai cũng lấy làm lạ.
Khi quân Tây Sơn đã rút, bà cũng thu xếp mọi việc trong nhà, dặn bảo trao lại cho các con, bà mới đến chùa Kiến Sơ
làng Phù Đổng, nơi bà vợ cả tu hành, làm một tuần chay tế
độ cho chồng.
Làm chay xong, bà cùng vợ cả và các con ra bờ sông Thúy Ái, ở gần bến Thanh Trì, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông ngày nay, nơi chồng bà đã tử trận, đặt bài vị làm lễ chiêu hồn cho chồng. Mọi người kéo nhau ra xem đông như kiến.
Chiêu hồn chồng xong bà khóc suốt một đêm rồi ngày hôm sau, bà ăn mặc chỉnh tề, quần áo lượt là, đeo hoa hột chải 130
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
chuốt, một mình chở một chiếc thuyền con ra giữa dòng sông, gieo mình xuống tự trầm để chết theo chồng.
Bà chết, ai cũng thương và ai cũng ngợi khen lòng tiết liệt thủy chung của bà.
Vua Tự Đức có bài thơ khen bà:
Trượng Phu tử sự diệc hà bi,
Nhược chất hùng tâm vị dị khuy?
Giang thượng thung dung thân khốc điện,
Khiết thân dĩ định trạc liên y.
Bản dịch của Lam Giang:
Không buồn phu tướng chết trung,
Trong thân liễu yếu, chí hùng, ai hay?
Bên sông tế điện chọn ngày,
Nước trong xin gửi thân này trung trinh.
Tấm gương bà Phan Thị Thuấn đáng để cho phụ nữ ngày nay soi chung. Hàng ngày, bao nhiêu tấn kịch gia đình đã xảy ra chỉ vì người vợ không trọn lòng chồng. Chồng còn sống, năm bảy mặt con với chồng, vẫn bỏ chồng theo trai, thậm chí có kẻ dắt trai về giết chồng để tiện bề dâu bộc với gian phu. Lại còn bao nhiêu kẻ khác, chồng chết, mồ chưa xanh cỏ, đã vội vàng bỏ đàn con dại, lấy ngay chồng khác kẻo sợ phí thời gian.
Bà Phan Thị Thuấn, chồng chết, không lộ vẻ buồn, chính là bà đã quyết tâm chết theo chồng. Bà cần bình tĩnh để thu xếp việc nhà trao lại cho đàn con. Chồng bà chết trận bên sông Thúy Ái, bà đã gieo mình tự trầm ngay nơi đó sau khi làm chay và chiêu hồn chồng, vừa trọn nghĩa với chồng lại vừa giữ vững đạo cương thường. Thật đáng khen lắm thay!
VÕ TÁNH VÀ NGÔ TÒNG CHU
CHẾT THEO THÀNH BÌNH ĐỊNH
Võ Tánh và Ngô Tòng Chu là bầy tôi vua Gia Long.
Tháng tư năm Kỷ Mùi (1799) sau khi lấy được thành Quy Nhơn của nhà Tây Sơn, vua Gia Long lúc đó là chúa Nguyễn Ánh đổi tên là thành Bình Định, ủy cho Võ Tánh làm trấn thủ
và Ngô Tòng Chu làm hiệp trấn để giữ thành này.
Được tin thành Quy Nhơn thất thủ, vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn liền sai Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng đem binh vào cứu. Tháng giêng năm sau, khi vua Gia Long đã kéo quân về Gia Định, thì quân của Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng gồm đủ thủy binh, bộ binh, tiến tới vây đánh thành Bình Định. Võ Tánh và Ngô Tòng Chu cố thủ thành không giao chiến. Quân Tây Sơn vây đánh rất hăng. Trần Quang Diệu đắp lũy chia quân vây bốn mặt thành. Võ Văn Dũng đem chiến thuyền giữ cửa Thị Nại để phòng ngừa quân cứu viện của họ Nguyễn. Được tin thành Bình Định bị vây, vua Gia Long sai các tướng chia quân làm hai đạo ra cứu, nhưng đều bị quân Tây Sơn đánh chặn. Thấy không thể cứu ngay thành Bình Định được, vua Gia Long sai người lẻn vào thành 132
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
bảo Võ Tánh và Ngô Tòng Chu bỏ thành mà ra, nhưng Võ Tánh đã trả lời nhà vua:
- Quân tinh nhuệ của Tây Sơn dồn cả ở Bình Định, xin đừng lo việc giải vây, hãy kíp ra đánh Phú Xuân thì hơn.
Vua Gia Long y theo kế ấy nên tháng năm năm sau, Tân Dậu 1801, thì lấy được Phú Xuân. Trong khi ấy thành Bình Định vẫn bị vây. Lương thực trong thành đã gần hết, dân tình thật là khổ sở. Võ Tánh liệu thế không chống nổi liền viết thư sai người đưa cho Trần Quang Diệu, đại ý nói: Mình làm tướng phải chết theo thành, nhưng xin tha cho quân sĩ và dân chúng. Sau đó Võ Tánh ngồi lên lầu bát giác, sai quân chất củi khô chung quanh rồi nổi lửa đốt để tự thiêu mình.
Hiệp trấn Ngô Tòng Chu cũng uống thuốc độc chết theo Võ Tánh.
Trần Quang Diệu chiếm lại được Bình Định, cảm lòng trung nghĩa của Võ Tánh và Ngô Tòng Chu, đã cho an táng thi hài của hai người theo đúng lễ nghi và cũng thể theo lời yêu cầu của Võ Tánh, không giết một quân sĩ hay người dân nào.
Ở đây, nghĩa khí của Võ Tánh và Ngô Tòng Chu đã cảm hóa được cả kẻ thù. Phận mình làm tướng chết theo thành đã đành, trước khi chết lại xin với quân địch tha thứ cho nhân dân và quân sĩ, thực là đáng khen vậy.
Trần Quang Diệu cũng là người chuộng nghĩa nên kính trọng những người biết vị nghĩa quên mình, dù người đó là kẻ địch của mình.
THÁI PHÓ TRẦN QUANG DIỆU
Trần Quang Diệu là một hổ tướng triều Tây Sơn dụng binh rất giỏi và là một tướng rất có độ lượng.
Theo vua Quang Trung, ông đã từng dự trận đánh đuổi quân Thanh năm Ất Dậu (1789). Sau ông được cử giữ chức Đốc trấn Nghệ An, rồi đến năm Tân Hợi (1792), ông lại được lệnh mang quân chinh phục Ai Lao: thắng trận, ông chia quân ở
lại đóng giữ Vạn Tượng.
Vua Quang Trung băng hà, con là Nguyễn Quang Toản lên ngôi là vua Cảnh Thịnh. Ông giữ chức Thái phó, hết lòng phò vua Cảnh Thịnh theo đúng di mệnh của vua Quang Trung chống lại quân của chúa Nguyễn Ánh ở phía Nam.
Vua Cảnh Thịnh ít tuổi, nhẹ dạ, kém cương quyết, lại hay nghe lời dèm pha gây nên cảnh triều thần giết hại lẫn nhau như việc Võ Văn Dũng giết Ngô Văn Sở năm Ất Mão (1795).
Trần Quang Diệu lúc ấy đang vây thành Diên Khánh của chúa Nguyễn, được tin, thất kinh nói cùng các tướng:
- Chúa thượng không phải là người cứng cỏi để cho đại thần giết lẫn nhau. Nếu trong không yên, đánh người ta thế
nào được.
Mặc dầu tình thế nội bộ ra sao, bên ngoài ông vẫn cố hết 134
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
sức ngăn bước tiến của quân chúa Nguyễn. Với trí dũng hơn người, ông đã thắng nhiều trận khiến cho đối phương phải khiếp. Không những thế ông lại là người rộng lượng, biết bao dung nên đã cảm hóa được Vũ Văn Dũng, người vẫn thù nghịch, trở nên người bạn thân sinh tử.
Năm Tân Mão (1801) sau nhiều tháng bao vây, ông đã hạ
được thành Bình Định do Võ Tánh và Ngô Tòng Chu chống giữ.
Lấy được thành nhưng ông không giết hại tướng địch và không động đến nhân dân. Không những thế ông còn liệm táng Võ Tánh và Ngô Tòng Chu là hai tướng của chúa Nguyễn đã tử tiết theo thành.
Năm sau được tin quân Tây Sơn thua ở Trấn Ninh, ông liền cùng Vũ Văn Dũng bỏ thành Quy Nhơn đem binh tướng đi đường thượng đạo qua Ai Lao ra Nghệ An để hội với vua Cảnh Thịnh lo sự chống giữ.
Lúc này quân chúa Nguyễn đã chiếm được Phú Xuân, và tháng năm năm đó Nguyễn Vương lên ngôi vua và đặt niên hiệu là Gia Long.
Lên ngôi rồi, vua Gia Long cử quân tiến đánh và chiếm được Nghệ An do tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Thuận trấn giữ.
Bấy giờ Trần Quang Diệu từ Quy Nhơn đã ra tới châu Quy Hợp, xuống huyện Hương Sơn, thấy Nghệ An thất thủ, ông cùng vợ là nữ tướng Bùi Thị Xuân lên đường định ra Bắc, bao nhiêu quân sĩ đều bỏ cả. Vợ chồng ông đi tới huyện Thanh Chương thì bị bắt. Vũ Văn Dũng chạy ra đến Nông Cống cũng bị bắt.
Vua Gia Long, thấy ông là người có tài, có ý muốn dụ hàng để trọng dụng. Ông đã khẳng khái trả lời nhà vua:
- Nhà vua thắng là ở trời, chứ không phải ở tài mình. Tôi nay thất thế. Ngài muốn làm gì thì làm. Một người tôi trung, không ai thờ hai chúa. Nếu nhà vua rộng lượng tha chết cho tôi, như tôi đã từng tha cho tướng sĩ của nhà vua ở thành Bình 135
Định độ trước, tôi sẽ xin về quê làm ruộng và đóng thuế như
người thường dân. Ví thử nhà vua e ngại thì tôi sẵn sàng chết theo đại nghĩa.
Vua Gia Long đã không tha ông, ông đã bị hành hình cùng với gia quyến. Ông chịu tội lột da; vợ ông là Bùi Thị Xuân và con gái ông là Bích Xuân bị tội voi giầy. Trước ngày chịu tội, ông có làm sớ xin vua Gia Long tha tội chết cho mẹ già, và đã được như ý.
Đọc đến chuyện ông, người đời ai cũng khen. Ông đành chịu chết vì nghĩa không muốn thờ hai chúa, mang điều bất trung. Khen ông bao nhiêu, người ta lại chê vua Gia Long hẹp lượng chừng ấy. Ông đã có thể tha cho tướng sĩ của nhà vua, lẽ nào nhà vua không thể khoan hồng cho gia đình ông khi ông chịu về sống như một thường dân.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
NGUYỄN TRUNG TRỰC
KHÁNG PHÁP
Khi thực dân Pháp đem quân vào đánh Nam Kỳ, dân chúng trong Nam, các nơi đều lo việc kháng Pháp. Trong số các người đứng lên kháng Pháp, phải kể ông Nguyễn Trung Trực.
Ông lãnh đạo phong trào kháng chiến chống Pháp ở Kiên Giang và đã thắng nhiều trận oanh liệt, nhất là ở Vàm Nhật Tảo.
Năm 1861 hưởng ứng lời kêu gọi kháng Pháp của vua Tự
Đức, ông Nguyễn Trung Trực chiêu mộ nghĩa quân nổi lên đánh phá vùng Tân An và được phong chức Quản Cờ, như
chức Đại Úy ngày nay.
Ngày 10 tháng 12 năm đó, ông chỉ huy nghĩa quân đốt phá được pháo thuyền Espérance của Pháp ở Vàm Nhật Tảo.
Quân Pháp đánh phá ba tỉnh miền Tây, triều đình Huế cử