Tiết Tháo Một ThờiPart 5
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Muôn lạy linh tiền lượng xét soi.
Nhà thơ đã khấn xin lượng Tổ xét soi cho con cháu đã hổ tôi ngươi vì bị ngoại bang đè nén, - bài thơ soạn thời Pháp thuộc, nước Nam lúc ấy không được riêng đất cõi như tổ tông xưa.
Cụ Trần Mỹ không khấn đền Hùng như cụ Nguyễn Hữu Chiểu, nhưng đã tới thăm đền Hùng, cụ cũng đã phải có tám câu năm vần để ĐỀ ĐỀN HÙNG:
Mấy đời con cháu cụ Tiên Nông,
Công đức dân ta mãi chẳng cùng.
Cõi đất mở mang miền Quế, Tượng,
Ngôi trời nối dõi giống Tiên Long.
Người trong năm xứ ai quên Tổ,
Nước bốn ngàn năm dấy tự Ông.
Bia đá chẳng mòn tòa miếu cũ,
Tiếng thơm ghi tạc với non sông.
Cụ cử Thái Phong cũng có bài thơ ĐỀ ĐỀN HÙNG VƯƠNG: Cuộc đời từng trải mấy tinh sương,
Miếu Tổ còn đây ngát khói hương!
Mười tám đời truyền bia Cổ Tích,
Hai nghìn năm lẻ dấu Văn Lang.
Sóng dồn mặt nước hồng pha biếc,
Hoa nở đầu non trắng lẫn vàng.
Hai chục triệu người chung giống cả,
Thờ chung xin nhớ Tổ Nam phương.
Cũng để đánh dấu lại cuộc đi thăm viếng đền Hùng, cụ Lương Hồ Nguyễn Trung Khuyến cũng đã ĐỀ ĐỀN VUA HÙNG: Nhớ công để tạo tổ tiên ta,
Đất cũ Phong Châu miếu một tòa.
Mấy triệu cháu con, con cháu họ,
Ba kỳ non nước, nước non nhà.
Cơ đồ đã trải bao dâu bể,
Ân đức còn in dấu cỏ hoa.
Hương khói muôn thu nòi giống Lạc,
Này bia kỷ niệm nét chưa nhòa.
Cụ Trần Ngọc Hoàn cũng VỊNH ĐỀN HÙNG VƯƠNG, nhưng qua bài thơ này chúng ta thấy đền vua Hùng thật là đẹp, đẹp như một bức tranh sơn thủy với những nét chấm phá điểm tô cho phong cảnh:
Mười tám đời vua đất Lạc Hồng,
Hai nghìn năm lẻ nối dài dòng.
Bên vai Tản, Đảo hai hàng núi,
Trước mặt Thao, Lô mấy dải sông.
Bờ cõi chia ra trăm nước Việt,
Cánh vây họp lại một nhà Hùng.
Sửa sang Tổ miếu ngày thêm mới,
Con cháu bao giờ chả nhớ ông.
Cũng nêu phong cảnh của đền Hùng, Nguyễn Văn Áng với bài thơ ĐỀN HÙNG VƯƠNG cũng đã nhắc tới sông Thao, núi Tản, miếu cũ bia xưa:
Nước thẳm sông Thao, núi Tản xa,
Văn Lang muôn thuở nước non nhà.
Miếu lăng nền cũ hương còn đượm,
Mưa nắng bia xưa nét chửa nhòa.
Hơn bốn nghìn năm công đức Tổ,
Ngoài hai mươi triệu giống nòi ta.
Này nơi nguồn gốc chúng ta đó,
Nhớ lấy ai ơi, kẻo nữa mà!
Phải ngày giỗ Tổ, Đền Hùng Vương, đã là người dân Việt thì nên nhớ lấy ai ơi kẻo nữa mà!
Chính vì nhớ ngày Giỗ Tổ, chính vì nhớ Đền Hùng Vương, chính vì không muốn quên cội rễ cho nên năm 1941, giữa lúc dân Việt Nam bị hai nước Pháp và Nhật đua nhau siết chặt gông cùm mà ngày hội Đền Hùng năm đó, một sinh viên người miền Nam đã soạn bài hát Đi Hội Đền Hùng, và bài này đã được Tổng Hội Sinh Viên phát không cho tất cả
những ai đi trẩy hội đền Hùng năm đó ở ngay mộ Tổ. Bài hát đã làm rung động tâm khảm bao người.
I
Chúng ta cùng nhau đi viếng thăm,
Nơi cố hương của giống Tiên Rồng.
Chúng ta cùng nhau đi viếng thăm,
Những vết xưa của núi sông
In dấu chân biết bao anh hùng.
Cùng với nhau: Nam, Bắc, Trung,
Chúng ta về thăm mộ Tổ ta,
Cho vẻ vang với nước non nhà.
II
Biết bao đời Tiên vương nổi lên,
Lý chống ai đắp lũy xây thành.
Biết bao đời Tiên vương nổi lên,
Giữ núi sông, trọng thanh danh,
Xây nước non với tôi trung thành.
Cùng khắc tên trên sử xanh,
Hiến thân mình để lo quốc gia,
Cho vẻ vang với nước non nhà.
III
Chúng ta cùng vui ca hát lên,
Ta hát lên trước cảnh huy hoàng.
Chúng ta cùng vui ca hát lên,
Lễ tổ tiên người Văn Lang,
Ta hát lên khúc ca nhịp nhàng.
Cùng với nhau lên tiếng ca vang,
Chúng ta cùng nhau lên tiếng ca,
Cho vẻ vang thêm nước non nhà.
Xưa nay bao giờ cầm bút, tôi muốn nói các nhà thơ, nhà văn, nhà báo cũng là giới thường đi tiên phong trong những công cuộc đề cao tinh thần yêu nước mở con đường cho các giới khác cùng theo.
Các nhà báo trong năm 1953 đã làm một việc vô cùng đẹp đẽ và đầy ý nghĩa: làng Báo xứ Bắc trong năm đó đã quyết định lấy ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch mỗi năm làm ngày báo chí, ngày đại đoàn kết của khắp tất cả các ký giả trong nước, ngày thiêng liêng để lớp người nâng bút hướng về Tổ
Hùng Vương.
Ban tổ chức của làng báo đã trình bày trong bài diễn văn đọc nhân ngày Giỗ Tổ năm Quý Tỵ (1953) lý do việc làm của mình:
Chúng tôi đã chọn ngày đó là đã cố tâm muốn được anh hồn của tổ tiên nòi giống Lạc Hồng ấp ủ lên công việc của Báo chí, nâng đỡ phù hộ cho Báo chí ngày một phát triển và trở nên dụng cụ đấu tranh thiết thực nhất của dân chúng trong nước nhà và trên Thế giới.
Chúng tôi chọn ngày đó là muốn chiêm ngưỡng tiền nhân mà nhớ đến tiền nhân là nhớ rằng bổn phận mình ở cạnh dân chúng, và vun đắp vào công việc chung làm cho Việt Nam xứng đáng với những trang sử oanh liệt của tiền nhân.
Trong năm Quý Tỵ (1953) cũng như năm sau Giáp Ngọ
(1954) báo chí đã nghĩ ngày Giỗ Tổ và cho xuất bản một số
đặc biệt hợp nhất báo chí Bắc Việt. Trong số báo đặc biệt này, ngoài phần tin tức, các bài khác viết rất nhiều về ngày Giỗ Tổ.
Trong số đặc biệt năm Giáp Ngọ, nhà thơ Xuân Tiên có một bài thơ rất cảm động về Ngày Giỗ Tổ, mà sau đây là đoạn kết: Đứng trước ngọn lửa thiêng rừng rực,
Đỉnh trầm hương sực nức khói hương,
Chúng ta con cháu Hùng Vương,
Cao tay thề quyết noi gương Tổ truyền.
Nguyện gìn giữ cho bền danh dự,
Cố ganh đua rộng mở tinh thần,
Nước non ngày một canh tân,
Tiên Rồng nòi giống góp phần văn minh:
Cờ độc lập tung hoành trước gió,
Đài vinh quang đồ sộ ngất cao,
Năm Châu thiên hạ trông vào,
Việt Nam lên tiếng tự hào từ đây!...
Tiếc thay việc làm tốt đẹp và đầy ý nghĩa đó của làng Báo xứ Bắc chỉ được có hai năm!
Tuy nhiên cũng còn có điều đáng mừng là báo chí ở đây cũng không quên ngày Giỗ Tổ, hàng năm mỗi khi ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch tới, người ta vẫn viết nhiều về đức Tổ
Hùng Vương.
Các nhà cầm bút tuy ở phương Nam nhưng luôn luôn hướng về miền Bắc để tưởng vọng tới cội gốc của mình.
Cụ Chiêu Dương trong tập SƠN NHÂN NHÀN BÚT, xuất bản vào đầu năm 1960, có bài Giỗ Tổ Hùng Vương để nhắc lại lịch sử đáng nhớ của chúng ta:
... Hy Cương một dải đứng hiên ngang,
Mộ tổ đời đời đượm khói nhang.
Thành quách Phong Châu tuy biển cả,
Giang sơn Hồng Lạc rất huy hoàng.
Bốn nghìn năm lẻ công khai sáng,
Hăm sáu triệu dư giống thịnh cường.
Bao độ tang thương bao độ tiến,
Đức công tiên tổ rạng vừng dương!
Nhắc đến công ơn của Tổ trong ngày Giỗ Tổ, cụ Chiêu Dương lại nhớ đến công trình xây dựng nước nhà, mảnh đất của Tổ tiên để lại của biết bao nam anh và nữ kiệt. Ta hãy đọc bài NƯỚC NHÀ của cụ:
Giang sơn gấm vóc tổ di truyền,
Rạng mặt con Rồng với cháu Tiên.
Hai chục triệu dư người chẳng kém,
Bốn nghìn năm lẻ nước còn nguyên.
Nhiều phen xâm lược nhưng khôi phục,
Lắm độ tang thương lại vững bền.
Nữ kiệt nam anh bao sản xuất,
Tinh hoa đất nước rất thiêng liêng.
Ngày Giỗ Tổ mỗi năm mỗi đến, ngày nay chúng ta ở phương Nam xa xôi vẫn có thể hướng về ngọn Nghĩa Lĩnh, phủ Lâm Thao tỉnh Phú Thọ để dâng một nén tâm hương.
CẢM ĐỀ GIỗ Tổ HÙNG VƯƠNG
Ai về Phú Thọ, phủ Lâm Thao,
Gửi nén tâm hương thỏa ước ao!
Rừng núi Hy Cương còn vững đó,
Cháu con Hồng Lạc nỡ quên sao!
Dân hai nhăm triệu dân như một,
Nước bốn nghìn năm nước khác nào.
Rạng với năm châu nòi giống Việt,
Công ơn đức Tổ sánh Trời cao.
Bài thơ trên của kẻ viết bài này mạo muội cung đề nhân ngày Giỗ Tổ năm Mậu Tuất (1958) đã được cụ Chiêu Dương họa lại:
Hy Cương di tích giải sông Thao,
Giỗ Tổ mong về ước lại ao!
Muôn dặm Bắc Nam đường cách trở,
Đôi bờ ranh giới dạ xôn xao.
Non sông dâu bể âu nhường ấy,
Dòng giống Rồng Tiên phải thế nao?
Còn đất còn trời còn Tổ quốc,
Hùng Vương công đức đã nêu cao!
Nêu cao công đức của vua Hùng là nhiệm vụ của các nhà cầm bút, dù là nhà văn, nhà thơ hay nhà báo. Thi sĩ Minh Đức, vì vậy đã cảm tác khi nhớ công đức Quốc Tổ bằng một bài hát nói:
Mưỡu:
Hỏi ai uống nước nhớ nguồn
Nhớ chăng Quốc Tổ công ơn muôn đời?
Non sông hoa cỏ tốt tươi,
Vì ai gây dựng cho người hưởng chung.
Hát nói:
Trở về nguồn gốc,
Nhớ Hùng Vương lập quốc đã bao đời,
Bốn nghìn năm riêng một cõi trời,
Nước rộng mở muôn người ai hưởng thụ.
Gây dựng cõi bờ công bất hủ,
Giữ gìn nòi giống đức vô biên.
Chịu ơn dầy, ai chẳng tư nguyên,
Phường vong bản mới quên hoài Quốc tổ.
Vì dân tộc mau mau tỉnh ngộ,
Cứu non sông sóng đỏ khỏi lan tràn.
Mở đường thống nhất giang san
Đắp nền nhân nghĩa mới cam tấm lòng
Nhớ chăng con cháu Tiên Long!
Trước Minh Đức, nữ sĩ Đạm Quang đã nhắc mọi người nhớ Tổ bằng một bài điệu ru em nhan đề HỘI ĐỀN HÙNG.
À ơi! Em nín em trông,
Em trông ngọn núi vua Hùng cho con.
Cỏ cây tươi tốt mấy chòm,
Mây xanh phủ đỉnh sóng cồn xa xa.
À ơi! Vẫn nước non nhà,
Hùng sơn còn đó, Nhị hà còn đây.
Trăng khuya khuyết khuyết đầy đầy,
Tấm lòng nhớ Tổ biết ngày nào phai.
À ơi! Hương khói còn dài,
Hằng năm giỗ Tổ mồng mười tháng ba.
Trai tài, gái sắc gần xa,
Đu tiên lơ lửng tiếng ca dịu dàng.
À ơi! Kẻ Bắc người Nam,
Cùng trong dòng giống Hồng Bàng mà ra,
Trên vai chung gánh sơn hà,
Ái ân ràng buộc mới là tình thân.
Đã là người Việt Nam nhớ nguồn, nhớ gốc, ai là người quên được Quốc Tổ!
Cách đây mấy chục năm, giữa lúc nước ta đang nằm dưới sự đô hộ của người Pháp, có nhiều kẻ quá mù quáng đâm đầu theo ngoại tộc quên cả nguồn cả gốc, cụ Đoàn Xuyên Nguyễn Phan Lững, sau khi đi thăm đền Hùng, trong lòng buồn về nhân tình thế thái, chán vì thấy đồng bào thờ ơ với quốc gia đi theo lũ quan thầy áo ngắn đã nhắc đồng bào bằng bài thơ MƠ THẤY Tổ MẮNG, mà chúng tôi xin trích mấy đoạn sau đây:
Đêm xưa đang giấc điệp mơ màng,
Bỗng chiêm bao thấy cụ Hồng Bàng:
Tay cầm bầu nước xách lễ mễ,
Vai vác cái cuốc đi vội vàng.
*
Người cụ cao lớn mặt đỏ gấc,
Mắt sáng như sao râu quá ngực,
Miệng rộng như bể, trán như non,
Hầm hầm dường có ý căm tức.
*
Quát lên một tiếng như sấm vang!...
Người đang mơ ngủ đều kinh hoàng,
Mắt nhắm, mắt mở chưa kịp dậy,
Cụ đã sừng sững tới đầu giường.
*
Tay cầm cái cuốc gõ vào sọ,
Tay cầm bầu nước dội vào cổ,
Mắng rằng: “Bay đã tỉnh hay chưa?”
Gà gáy tứ tung bay vẫn ngủ!
*
Cái cuốc bỏ đó, nhà đi đâu?
Bầu nước dốc ráo còn chi nào?...
Bay không thức tỉnh để giữ lấy,
Cuốc ơi, nước ơi, đi đằng nào?
*
Người ta lấy cuốc đi khai mỏ,
Người ta lấy nước nuốt vào cổ,
Cuốc cùn lấy gì vỡ ruộng nương,
Nước cạn lấy gì tưới cây cỏ.
*
Cuốc còn, cuốc mất bay không hay,
Nước còn, nước mất bay chối thây!
Giang sơn cơ nghiệp ta ở đấy,
Thôi thôi ta chắc cậy gì bay!
*
Bay chẳng nghĩ công ta khó nhọc,
Mở núi khai sông những săn sóc,
Ngành Hồng, cỗi Lạc mấy ngàn năm,
Truyền tử, nhược tôn riêng một góc.
*
Trăm trai một bọc đều vuông tròn,
Nửa thời về bể, nửa về non,
Rồng con Tiên cháu ngày đông đúc,
Lửa rừng cá biển mưu sinh tồn.
*
Văn minh ngày một ngày bước tiến,
Dần dần thành một cõi văn hiến,
Người chuộng lễ nghĩa thói thuần lương,
Văn hóa ngàn năm không chút biến.
*
Cùng nhau gìn giữ nghiệp tổ tông,
Suốt vùng Ngũ Hồ sông Cửu Long,
Mở mang cõi đất ngày thêm rộng,
Làm sao cho rạng vẻ non sông.
...
Ta chẳng mong bay chẳng cậy người,
Ta chẳng mong bay cầu cứu ai,
Ta chỉ mong bay thương nước Tổ,
Ngọt cùng chịu ngọt, cay cùng cay!
...
Ta rất mong bay trọng quốc túy,
Khuyên nhau gìn giữ lấy luân lý,
Khiến cho người khỏi hóa ra ma,
Mất tiếng ngàn năm nước lễ nghĩa.
*
Ta rất mong bay thương lẫn nhau,
Chị ngã em nâng trước bảo sau,
Nồi da nấu thịt lòng sao nỡ,
Cẳng đậu đun đậu dạ càng đau.
*
Nước ta bây giờ của đã kiệt,
Danh giáo cương thường lại bại liệt,
Bay còn ngớ ngẩn đợi gì ai?
Cá chậu chim lồng lo chẳng chết.
Bài thơ chính ra rất dài, chúng tôi chỉ xin trích mấy đoạn trên để tặng những ai uống nước quên nguồn cùng những ai cõng rắn cắn gà nhà đưa ngoại tộc vào để xâu xé đất nước dân mình.
Bài thơ làm cách đây 47 năm, nhưng hôm nay đọc lại cho những người bây giờ, nghe thật cũng còn thấm thía lắm!
Chính kẻ viết bài này, mỗi năm ngày Giỗ Tổ đến vẫn hằng nhớ tới thuở thiếu thời đã có lần được đến tận nơi giữ lễ. Một trong kỳ Giỗ Tổ trước đây đã cung soạn bài thơ NGÀY GIỗ
Tổ sau đây để tỏ lòng thành kính với đức Hùng Vương: Quý xuân Giỗ Tổ nhớ mồng mười,
Dân Việt xa gần hãy ngắm coi:
Nghĩa Lĩnh còn ghi công đắp dựng,
Phong Châu chưa xóa sức vun bồi.
Nước non Hồng Lạc thêm bờ cõi,
Con cháu Tiên Long rạng giống nòi.
Hoàn vũ bao phen từng góp mặt,
Công cao đức Tổ chiếu muôn đời.
Nhớ công cao của đức Tổ, chúng ta không được quên ngày Giỗ Tổ, nhưng đã nói đến ngày giỗ, ắt phải có văn tế.
Dưới đây là một bài văn tế cụ Chiêu Dương đã kính soạn nhân một dịp Giỗ Tổ.
Nhớ ơn Tổ xưa:
Khai sáng nước nhà
Sửa sang bờ cõi,
Gầy dựng giống nòi,
Lập thành xã hội.
Văn sẵn tài năng giao tiếp cùng ngoại bang, Võ rất hùng cường bảo toàn cho nội địa.
Thương cùng tranh cạnh khắp năm châu,
Nông thường mậu dịch ngoại bốn nghìn năm,
Con cháu Tiên Rồng trên hai chục triệu.
Nước có tiếng tăm trên toàn cầu,
Người tỏ vẻ vang trong thế giới.
Đất nước tiên tổ để dành cho,
Cơ đồ cháu con xin mở rộng.
Cẩn cáo (1)
Văn thơ về đức Quốc Tổ cũng như về ngày Giỗ Tổ còn nhiều. Trên mặt báo chí hàng năm chúng ta vẫn còn đọc nhiều bài rất thành kính mà tiếc rằng phạm vi bài viết này không thể ghi chép hơn được nữa.
Để kết luận, thiết nghĩ không gì hơn bằng chép lại dưới đây những dòng thơ nói về đức Quốc Tổ và nước Văn Lang của chúng ta trong Đại Nam Quốc sử Diễn ca của các ông Phạm Đình Toái và Lê Ngô Cát:
Kể từ trời mở Viêm bang
Sơ đầu có họ Hồng Bàng mới ra.
Cháu đời Viêm đế thứ ba,
Nối dòng Hỏa đức gọi là Đế minh.
*
Quan phong khi giá Nam hành,
Hay đâu Mai lĩnh duyên sinh Nam kiều.
1 Trích trong Sơn Nhân nhàn bút.
Vụ tiên vừa thuở đào yêu,
Xe loan nối gót tơ điều kết duyên.
Dòng thần sánh với người tiên,
Tinh anh nhóm lại, thánh hiền nối ra.
Phong làm quân trưởng nước ta,
Tên là Lô Tục hiệu là Kinh Dương.
Hóa cô dựng mối luân thường,
Động Đình sớm kết với nàng Thần Long.
Bến hoa ứng vẻ lưu hồng,
Sinh con là hiệu Lạc Long trị vì.
Lạc Long lại sánh Âu Ky (Cơ),
Trăm trai điềm ứng, hùng bi lạ thường.
Noãn bào dù truyện hoang đường,
Ví xem huyền điểu sinh thương khác gì.
Đến điều tan hợp cũng kỳ,
Há vì thủy hỏa sinh ly như lời.
Chia con cũng sự lạ đời,
Qui sơn, qui hải khác người biệt ly.
Lạc Long về chốn Nam thùy,
Âu Cơ sang nẻo Ba Vì, Tản Viên.
Chủ trương chọn một con hiền,
Sửa sang việc nước nối lên ngôi Rồng.
Hùng vương đô ở Châu Phong,
Ấy nơi Bạch Hạc, hợp dòng Thao Giang.
Đặt tên là nước Văn Lang,
Chia mười lăm bộ bản chương cũng liền.
Sự tích đức Quốc Tổ có nhiều người coi là hoang đường, nhưng qua bao nhiêu sử sách, dân tộc nào chẳng có những 103
điều kém xác thực về thời tiền sử, nhưng dù sao những danh từ Đế Minh, Lạc Long Quân, Kinh Dương Vương không phải là không có. Đã có tức là truyện đức Quốc Tổ của dân Việt Nam phải có.
PHầN
II
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
TINH THẦN TRỌNG NGHĨA
PHƯƠNG ĐÔNG
Chịu ảnh hưởng của Khổng giáo rất sâu xa, người phương Đông luôn luôn cho tới ngày nay vẫn vậy, có một tinh thần trọng nghĩa rất cao quý. Người ta có thể hy sinh mọi quyền lợi để giữ nghĩa, và đã hơn một lần lịch sử chứng kiến sự
hy sinh cả mạng sống để bao toàn chữ Nghĩa của người Á
Đông qua các dân tộc, nhất là ba dân tộc Nhật Bản, Trung Hoa và Việt Nam.
Người Nhật Bản trọng nghĩa và không sợ chết, đặt chữ
Nghĩa trên cái chết. Nói đến người Nhật Bản, có lẽ tất cả thế
giới đều phải phục họ ở tinh thần võ sĩ đạo, không sợ chết.
Hơi bị nhục là họ tự sát bằng cách mổ bụng. Họ coi cái chết như rơm rác, và những chuyện liều chết vì nghĩa của họ đã từng khiến cả năm châu phải bái phục.
Những chuyện đạn người, người lái thủy lôi đâm vào tàu địch trong trận đại chiến thứ hai vừa qua cũng như những chuyện phi công lái máy bay Thần Phong đâm nhào xuống những chiến hạm Mỹ đã nói lên rất nhiều sự hy sinh anh dũng của họ. Để chứng minh tinh thần trọng Nghĩa của người Nhật, 107
chúng tôi sẽ xin nêu ra mấy câu chuyện hy sinh cả mạng sống để giữ tròn chữ Nghĩa của họ.
Cũng như người Nhật Bản, người Trung Hoa không thiếu tinh thần hy sinh cho chữ Nghĩa. Những chuyện trọng nghĩa khinh thân qua các sách vở của Trung Hoa nhiều lắm, nếu thu góp mà kể lại hết không biết mấy nghìn trang giấy cho đủ. Đời nào và giới nào cũng có những người liều chết để giữ
nghĩa, liều chết để cứu cha, liều chết để báo thù cho chúa, liều chết để trả một ơn sâu. Những người trọng nghĩa này, nam nhiều mà nữ cũng nhiều, như chuyện năm trăm nghĩa sĩ nước Tề chết theo Điền Hoành; chuyện Thừa tướng Lục Tú Phu ẵm vua Tường Hưng nhà Tống nhảy xuống biển tự
tử; chuyện hàng nghìn người chết theo vua Trang Liệt nhà Minh... và nhiều chuyện khác.
Trong những câu chuyện này, chữ Nghĩa bao giờ cũng đứng trên hết. Những câu chuyện nêu ra sẽ được xếp riêng hai loại: Những chuyện vị nghĩa thời Xuân Thu, và những chuyện khác về sau này.
Những câu chuyện chúng tôi nêu ra cốt để chứng minh cái tinh thần vị nghĩa, và nhất là lòng hy sinh của các Nghĩa sĩ, do đó có thể có những chuyện khác hay hơn, nhưng sự lựa chọn của chúng tôi chỉ nhằm mục đích trên, nếu có sự vụng về cũng rất mong các bạn thứ lỗi.
Sau hết là người Việt Nam. Với hơn bốn nghìn năm lịch sử, trải bao nhiêu cuộc hưng vong, dân ta đã chịu biết bao nhiêu sự điêu đứng, nhưng chính trong sự điêu đứng này, tinh thần vị nghĩa của người Việt Nam đã được biểu lộ rõ rệt. Qua những trang lịch sử, bao nhiêu anh hùng vị nghĩa đã lưu tên lại sử xanh. Một Trần Bình Trọng với câu trả lời giặc Nguyên:
“Thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Một Lê Lai liều mình cứu chúa; một Hoàng Diệu chết theo thành Hà Nội v.v... là những tấm gương sáng cho chúng ta ngày 108
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
nay, nhưng cũng là những vết son trong lịch sử để chúng ta kiêu hãnh với tinh thần trọng nghĩa của dân tộc.
Và gần đây hơn, một Phạm Hồng Thái dám đơn độc ném bom ở Sa Điện để định giết Toàn quyền Pháp Merlin rồi chịu chết, một Trần Trung Lập đành chịu chết ở Lạng Sơn chứ
không chịu tìm cái sống bằng cách bỏ những kẻ đã theo mình đều là những nghĩa sĩ đã nêu cao tiếng tăm người Việt... Và còn nhiều nữa, hữu danh và vô danh.
Tinh thần Trọng Nghĩa Phương Đông muôn thuở được nêu cao với các nghĩa sĩ, và tinh thần này thực đáng tôn trọng, nếu chúng ta đem so sánh hành động của các nghĩa sĩ với hành động của những kẻ tham danh lợi, sợ chết đã coi rẻ chữ Nghĩa.
Nói đến Phương Đông là nói đến tất cả dân tộc ở Viễn Đông, nhưng trong tập sách này chúng tôi chỉ nhắc tới ba dân tộc Nhật Bản, Trung Hoa và Việt Nam là những dân tộc đã chịu ảnh hưởng Khổng giáo. Chúng tôi mong sẽ có dịp đề cập tới tinh thần trọng Nghĩa của các dân tộc bạn khác ở Phương Đông.
NHỮNG CHUYỆN
TRỌNG NGHĨA VIỆT NAM
Khí thiêng non sông hun đúc, hoàn cảnh địa dư bồi đắp và hoàn cảnh lịch sử tạo con người, nói đến những chuyện trọng nghĩa Việt Nam, không phải là chỉ nói đến một hai người, nhưng đây là tất cả những người đã có công với đất nước, đã hy sinh cho non sông, đã liều mình vì dân tộc, vì lý tưởng, vì nghĩa vụ, vì đạo đức, từ những vị anh hùng nữ
kiệt, nói đến ai cũng biết, như Trần Bình Trọng, Lê Lai, Vũ
Công Duệ, Phan Thanh Giản... như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Phan Thị Thuấn, đến những người vô danh, đã bỏ mình vì chính nghĩa, vì bổn phận...
Ở đây chúng tôi không nhắc lại tất cả những bậc nghĩa sĩ
anh hùng liệt nữ, nhiều người đã biết tới, chúng tôi chỉ xin trình bày qua một số nhân vật đã lấy nghĩa làm trọng, đã coi nhẹ thân mình để giữ nghĩa đúng với tinh thần đạo đức của phương Đông nói chung và của Việt Nam nói riêng. Một số
các nhân vật này trước đây đã từng âm thầm hy sinh, bổn phận chúng ta phải nhắc tới để tỏ lòng biết ơn.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
Chúng tôi cũng chỉ xin nhắc tới một số danh nhân liệt nữ
mà thôi, vì nói hết đến tất cả các nhân vật của Việt Nam đã có công với đất nước, đã giữ tròn chữ Nghĩa, biết mấy nghìn trang giấy cho vừa; với khuôn khổ tập sách này, chúng tôi buộc lòng phải tự hạn chế nhiều lắm, đó là không kể nhiều điều chúng tôi còn thiếu sót.
TƯỢNG ĐÁ DÃI
Ai đã có dịp đi thăm đền Lý Bát Đế tại làng Đình Bảng thuộc phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, ắt phải để ý tới hai pho tượng đá, mình trần đóng khố, chầu ở hai bên hương án.
Đó là tượng Tướng Đá Dãi.
Tướng Đá Dãi là ai? Đó là vị tướng đời Hậu Lý, rất có công với vua Lý Thái Tổ trong việc đánh dẹp Chiêm Thành.
Sự tích tượng Đá Dãi như sau:
Nguyên tại làng Cổ Pháp xưa (làng Đình Bảng ngày nay) vào cuối đời nhà Tiền Lê, có một cây gạo bị bão đổ, trong cây có câu sấm: Hòa đao mộc lạc, thập bát tử thành nghĩa: là Lê rụng, Lý lên (ba chữ Hòa đao mộc chắp thành chữ Lê và ba chữ Thập bát tử chắp thành chữ Lý), thì đồng thời ở
bên giếng làng tự nhiên có một đứa trẻ nằm trên một hòn đá.
Đứa trẻ chỉ cười không khóc. Có vợ chồng ông hàng nước ở đầu làng mang về nuôi. Đứa bé rất mau lớn và ăn rất tốn.
Khi vợ chồng ông hàng nước chết, đứa bé lang thang đây đó và lạc ra thành Đại La. Lớn lên, sức nó rất khỏe, một mình có thể kéo nổi chiếc thuyền đi ngược nước. Không có quần áo, luôn luôn nó chỉ mang một chiếc khố. Bấy giờ Lý Công Uẩn đã thay nhà Tiền Lê lập ra nhà Lý, tức là vua Lý Thái 112
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
Tổ. Vua Lý Thái Tổ thấy đất Hoa Lư chật hẹp, dời đô ra Đại La. Trong cuộc dời đô này, khi thuyền rồng đi tới Đại La, gặp dòng nước chảy mạnh, thuyền không tiến được và quân lính cố sức chèo thuyền cũng không đi. Khi ấy, thằng bé con nuôi ông hàng nước đi trên bờ sông, trông thấy liền nhảy xuống sông lấy dây buộc vào thuyền rồng mà kéo. Thuyền đi phăng phăng mặc dòng nước ngược đang chảy xiết.
Nhà vua thấy là người có sức khỏe liền vời tới hỏi họ tên thì khai không biết họ tên là gì, và chỉ biết mọi người vẫn gọi mình là thằng Đá Dãi.
Vua ban quan tước cho, không chịu nhận; và ban quần áo, cũng không mặc, chỉ xin phép được sống tự do dời riêng của mình với mảnh khố che thân. Nhà vua ưng cho, nhưng về sau vua đi chinh phạt Chiêm Thành cho vời Đá Dãi đi theo và phong cho làm tướng, từ đó có danh là tướng Đá Dãi.
Tướng Đá Dãi lập được nhiều công trạng trong công cuộc chinh phạt Chiêm Thành, nên được vua Lý Thái Tổ rất quý mến.
Khi ban sư, nhà vua nhất quyết giữ tướng Đá Dãi lại triều và tướng Đá Dãi lúc đó cảm lòng quý mến của nhà vua, ở
lại triều đình và lập được nhiều công trạng khác.
Cho đến khi vua Lý Thái Tổ băng hà, trước khi nhắm mắt, nhà vua có căn dặn con là vua Lý Thái Tôn phải trọng dụng Đá Dãi. Vua Lý Thái Tôn vâng theo lời cha, nhưng chỉ trong ít lâu, vì tính cương trực thẳng thắn của tướng Đá Dãi, nhiều quan trong triều không ưa, dèm pha cùng nhà vua là tướng Đá Dãi có ý cậy công, muốn làm phản.
Mặc dầu có lời di mệnh của vua cha, nhưng trước lời dèm pha hàng ngày của bọn gian thần, vua Lý Thái Tôn cũng đem bụng ngờ tướng Đá Dãi.
Một hôm vua Thái Tôn cho vời tướng Đá Dãi tới. Tướng 113
Đá Dãi đã biết ý nhà vua, nên khi vào chầu có đem theo một thanh nứa tép vót nhọn, và trong khi triều kiến, tướng Đá Dãi đã lấy thanh nứa tép này tự đâm từ hậu môn lên tới cổ mà chết.
Trước khi chết, tướng Đá Dãi đã tâu cùng vua Lý Thái Tôn:
- Kẻ hạ thần đội ơn tiên đế, dù lấy cái chết cũng không đủ
báo đền. Sở dĩ thần còn sống tới ngày nay là không muốn phụ lòng tiên đế tin cậy, ủy cho việc phò tá bệ hạ giữ gìn đất nước. Nay bệ hạ đã không còn lòng tin cậy kẻ hạ thần, kẻ hạ thần xin lấy cái chết để giữ tròn chữ Nghĩa. Kẻ hạ thần kính chúc bệ hạ muôn tuổi và xin phép được đi theo Tiên đế.
Tướng Đá Dãi nói xong ngã lăn ra chết. Vua Lý Thái Tôn vô cùng hối hận, làm lễ an táng Tướng Đá Dãi rất trọng thể.
Sau đó nhà vua cho tạc hai pho tượng, một pho đặt ở mộ và một pho đặt ở lăng, nhưng về sau cả hai pho tượng đều được mang về đặt tại lăng vì để tại mộ bị dãi nắng dầm mưa.
Tướng Đá Dãi đã lấy cái chết để tỏ lòng trung nghĩa, khiến cho vua Lý Thái Tôn phải ân hận vì sự nghi kỵ nhỏ nhen của mình.
Người trên hẹp lượng, sao mà dung được kẻ dưới!
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
ĐOÀN THƯỢNG
Ai đã có dịp đi qua Bần Yên Nhân thuộc tỉnh Hưng Yên hẳn được biết ngôi đền thờ Đông Hải Đại Vương dựng trên đường đi Ninh Giang.
Đông Hải Đại Vương chính là Tướng quân Đoàn Thượng, một danh tướng đời Lý mạt.
Đoàn Thượng là người Hồng Thi, huyện Đường Hào tỉnh Hải Dương, làm quan dưới đời vua Lý Huệ Tôn. Ông phụng mệnh nhà vua trấn thủ đất Hồng Châu.
Ông sức khỏe hơn người, võ nghệ tinh thông, lúc lâm trận, một đao một ngựa có thể địch nổi hàng trăm nghìn quân, tung hoành giữa trận. Quân giặc nghe thấy tên ông là đủ sợ.
Vua Lý Huệ Tôn không có con trai, truyền ngôi cho Lý Chiêu Hoàng, nhưng chẳng bao lâu Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh và truyền cho chồng là vua Trần Thái Tôn.
Đoàn Thượng không chịu theo nhà Trần, quyết giữ đất Hồng Châu, nhất là khi được tin nhà Trần giết hại con cháu nhà Lý.
Thái sư Trần Thủ Độ thấy Đoàn Thượng là bậc anh hùng, sai người tới dụ, hứa phong vương và gả công chúa cho, nhưng họ Đoàn nhất định không nghe. Ông lại chiêu binh 115
mãi mã tự xưng là Đông Hải Đại Vương, rắp tâm khôi phục lại giang sơn cho nhà Lý.
Dụ hàng không được, Trần Thủ Độ mang quân tới đánh, nhưng đánh nhau trong mấy năm, quân của Thủ Độ cũng không sao thắng nổi quân của họ Đoàn. Sau cùng Thủ Độ
dùng mưu cùng ông giảng hòa, nhưng thực ra lại sai quân ngầm đánh úp mặt sau để phá quân ông.