Tiết Tháo Một ThờiPart 10
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
giã nước Địch, Trùng Nhĩ đem sự nguy cấp nói cùng vợ thì nàng Quý Ngỡi vui lòng khuyên chồng ra đi để gây nghiệp lớn về sau.
Trùng Nhĩ lại sợ vua nước Địch lưu giữ, nên không kịp từ
biệt, cùng bọn quần thần tòng vong kíp ra đi để tránh Bột Đề.
Bọn Trùng Nhĩ đi, bao nhiêu tiền nong vàng bạc đều do Đầu Tu giữ. Nửa đường Đầu Tu cuốn gói lấy hết vàng bạc trốn đi nơi khác. Thế là cả bọn Trùng Nhĩ lâm vào cái cảnh đã không nơi nương tựa lại không cả lương thực, trông rất thảm thương.
Muốn sang nước Tề phải đi qua nước Vệ. Vua Vệ là Văn Công truyền cho quan ải không được mở cửa, khiến cho thầy trò Trùng Nhĩ thật khổ sở.
Hai dũng sĩ trong bọn là Ngụy Thù và Điên Hiệt nói với Trùng Nhĩ rằng:
- Vệ Hầu đã vô lễ và tệ bạc như vậy, ta nên cướp dân thôn để lấy lương ăn. Hắn sẽ không trách được ta nữa.
Trùng Nhĩ đáp:
- Cướp phá như thế thì là quân đạo tặc, chẳng thà ta nhịn đói còn hơn.
Ngày hôm ấy mấy thầy trò đi với nhau, chưa ai ăn cơm sáng cả, vừa nhịn đói vừa đi. Đến quá trưa, cả bọn đi tới một chỗ là Ngư Lộc, có bọn thợ cầy đang ngồi ăn cơm, thầy trò Trùng Nhĩ xin không được, lại rủ nhau cùng đi.
Về sau mệt quá, mọi người đều đói lả, không thể đi được nữa, rủ nhau ngồi nghỉ dưới gốc cây. Trùng Nhĩ đói quá, phải gối đầu vào đùi Hồ Mao mà nằm:
Hồ Mao thấy chủ như vậy nói:
- Triệu Thôi đi sau hãy còn liễn cháo, ta đợi hắn đến.
Ngụy Thù bảo:
- Có còn liễn cháo nữa thì một mình Triệu Thôi ăn chẳng đủ no, lấy đâu làm thừa.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
Mọi người bảo nhau đi lấy rau sam luộc lên cùng ăn. Trùng Nhĩ không sao ăn được. Vừa hay lúc ấy, Giới Tử Thôi đem một bát canh thịt tới dâng. Trùng Nhĩ ăn bát canh lấy làm ngon lắm, ăn xong hỏi Giới Tử Thôi:
- Nhà ngươi lấy thịt ở đâu nấu canh vậy?
Giới Tử Thôi thưa:
- Ấy là thịt đùi của tôi đó. Tôi nghe nói người hiếu tử bỏ
thân để thờ cha mẹ, người trung thần bỏ thân để thờ vua.
Nay thấy công tử không có gì ăn nên tôi phải cắt thịt tôi dâng công tử.
Trùng Nhĩ nghe nói, ứa nước mắt bảo Tử Thôi:
- Ơn này của nhà ngươi biết bao giờ ta đền lại được.
Giới Tử Thôi thưa:
- Tôi chỉ mong cho công tử được về nước Tấn, ấy là trọn đạo thần tử của tôi, chứ đâu tôi dám mong công tử đền ơn.
Một lúc sau Triệu Thôi mang liễn cháo dâng Trùng Nhĩ, Trùng Nhĩ hỏi:
- Nhà ngươi không đói hay sao mà không ăn?
Triệu Thôi đáp:
- Tôi dẫu đói nhưng khi nào dám quên công tử mà ăn lấy một mình.
Trùng Nhĩ truyền hòa thêm nước vào liễn cháo đem lại, rồi chia nhau mỗi người ăn một chút cho đỡ đói lòng.
Ăn xong cả bọn lại lên đường. Khi tới nước Tề, vua Tề
Hoàn Công rất trọng đãi bọn Trùng Nhĩ.
Trùng Nhĩ cùng các bầy tôi tòng vong ở Tề được bảy năm, sau khi vua Tề Hoàn Công chết, cùng nhau lại sang nước Sở.
Ở nước Sở được ít lâu, vua nước Tần là Mục Công sai người sang đón thì cả bọn lại sang Tần.
Bấy giờ Tấn Huệ Công tức là công tử Di Ngô đã chết rồi, con Tấn Huệ Công lên ngôi là Tấn Hoài Công rất vô đạo, 199
giết rất nhiều các vị lão thần, trong số đó có cả Hồ Đột là thân phụ Hồ Yển và Hồ Mao đang theo Trùng Nhĩ.
Dân trong nước Tấn đêm ngày mong Trùng Nhĩ trở về.
Trùng Nhĩ thấy lòng dân hướng cả về mình nên nhờ vua Tần Mục Công cất quân cho về phục quốc.
Lúc mang quân về Tấn, qua sông Hoàng Hà, Trùng Nhĩ
thấy Hồ Thúc là người từ khi đi trốn theo Trùng Nhĩ vẫn giữ
về việc hành lý, đem xếp cả xuống thuyền những màn cũ
chiếu rách thì bảo rằng:
- Ngày nay bọn ta về Tấn, thiếu gì châu báu, giữ những vật này làm gì?
Nói xong, sai quẳng bỏ hết mọi thức ấy ở trên bờ sông.
Hồ Yển thấy vậy thở dài mà than rằng:
- Công tử chưa được phú quý đã quên bần tiện, mai sau có mới nới cũ, lũ ta sẽ chỉ như những vật hư nát này thôi.
Than xong Hồ Yển xin ở lại Tần, tự ví mình là vật hư nát vô dụng. Trùng Nhĩ biết lỗi mình, ứa nước mắt nhận lỗi, bảo Hồ Thúc thu nhặt hết những đồ cũ lại. Và Trùng Nhĩ lại chỉ
dòng sông Hoàng Hà mà thề sẽ không bao giờ quên người cũ đã có công với mình.
Giới Tử Thôi lúc ấy, ở chiếc thuyền bên cạnh, thấy Trùng Nhĩ thề với Hồ Yển, mỉm cười nói rằng:
- Công tử về nước là tự ý trời. Hồ Yển lại muốn nhận làm công mình sao. Ta sẽ phải đồng triều với bọn tham phú quý như vậy, ta xấu hổ lắm.
Ngay từ bấy giờ, Tử Thôi đã có ý muốn sau này, khi Trùng Nhĩ thành công, sẽ mai danh ẩn tích ở chốn hương thôn.
Trùng Nhĩ về nước Tấn được dân chúng đón rước, và Tấn Hoài Công phải bỏ chạy sang nước Cao Lương, nhưng sau cũng bị chết ở đấy.
Trùng Nhĩ lên làm vua lấy hiệu là Tấn Văn Công.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
Tấn Văn Công sau khi bình định trong nước liền ân thưởng cho tất cả những người có công phục quốc.
Ban thưởng xong, Văn Công lại yết chiếu ở cửa thành rằng:
- Nếu người nào có công chưa được ban thưởng được phép tự nói ra.
Tất cả bọn bầy tôi tòng vong khi trước đều được phong thưởng, duy có Giới Tử Thôi là người tánh khí điềm đạm, từ
khi ở bên sông Hoàng Hà thấy bọn Hồ Yển khoe công đã lấy làm khinh bỉ không muốn đồng triều với họ. Đến lúc vua Tấn lên ngôi, Giới Tử Thôi chỉ vào chúc mừng một lần đầu, rồi cáo ốm về nhà, yên phận nghèo khổ, đi khâu giày kiếm ăn.
Khi Tấn Văn Công ban thưởng các công thần, không thấy Giới Tử Thôi, cũng quên đi mất, chẳng hỏi chi đến.
Bấy giờ ở láng giềng nhà Giới Tử Thôi có một người tên Giải Trương thấy Tử Thôi có công theo vua không được thưởng, lại thấy nhà vua yết bảng những người có công chưa được thưởng được phép tự nói ra, liền tới báo tin ấy cho Tử
Thôi biết, Tử Thôi chỉ mỉm cười không nói gì.
Giới mẫu lúc ấy ở bếp, nghe tiếng, bảo con rằng:
- Con khó nhọc trong 19 năm trời theo chúa công lánh nạn, lại đã từng cắt thịt đùi dâng chúa công, sao bây giờ con không nói ra lấy thưởng, chẳng hơn chịu khổ đi khâu giày thuê hay sao?
Giới Tử Thôi đáp lời mẹ:
- Tiên Vương có cả thảy chín người con, chỉ có chúa công là hiền hơn cả, vậy nên trời dành ngôi nước Tấn cho chúa công. Các người theo hầu không biết ý trời, dám tự nhận là công mình, con nghĩ xấu hổ lắm, chẳng thà đi khâu giày mà ăn còn hơn.
Giới mẫu lại bảo:
- Con dẫu không muốn làm quan, nhưng cũng nên vào yết kiến một lần để khỏi uổng cái công lao cắt thịt đùi ngày trước.
Giới Tử Thôi nói:
- Thưa mẫu thân, con đã không muốn làm quan, còn vào yết kiến chúa công làm gì.
Bà mẹ thấy con như vậy liền bảo:
- Mẹ khá khen cho con là người liêm sỉ. Con là một người liêm sỉ, chẳng lẽ ta lại không làm được mẹ người liêm sỉ hay sao. Vậy mẹ con ta nên đến chốn lâm tuyền ẩn thân, chẳng nên lưu luyến nơi đô thị làm gì.
Giới Tử Thôi nghe mẹ nói mừng lắm:
- Từ lâu con vẫn muốn vào rừng Miên Thượng ẩn thân, nhưng e mẹ không bằng lòng. Nay đã có lệnh mẹ, con xin đem mẹ đến ở đấy.
Thế là ngày hôm ấy, Giới Tử Thôi cõng mẹ vào rừng Miên Thượng, làm nhà trong đó mẹ con cùng ở.
Hàng xóm láng giềng không ai biết đi đâu cả, duy chỉ có Giải Trương là rõ.
Đêm hôm ấy, Giải Trương làm một bài thơ, đang đêm đem đến treo ở cửa triều môn:
“Ngày xưa lánh nạn một rồng,
Bầy tôi đàn rắn tòng vong theo hầu.
Rồng kia gặp bước cơ cầu,
Đói ăn, một rắn dâng hầu tô canh.
Canh kia nấu thịt đùi mình.
Vì rồng nên rắn phải đành chịu đau.
Ngày nay trong chốn sang giàu,
Rồng quên mất rắn, ai đâu biết cùng”.
Sáng hôm sau, quan hầu bắt được bài thơ đó, đệ trình lên Tấn Văn Công. Văn Công đọc xong bài thơ, giật mình nói rằng:
- Đây là Giới Tử Thôi oán giận ta đó, khi trước ta qua nước Vệ không có ăn, Giới Tử Thôi cắt thịt đùi để dâng ta. Ngày 202
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
nay mọi công thần đều được ban thưởng, ta quên mất Giới Tử Thôi. Thật là lỗi tự ta vậy.
Văn Công vội vàng sai người đi triệu Tử Thôi, nhưng khi đến nơi không thấy Tử Thôi đâu nữa. Tấn Văn Công truyền hỏi những người láng giềng, ai biết Giới Tử Thôi ở đâu sẽ
có trọng thưởng.
Giải Trương tâu với vua Tấn rằng:
- Bài thơ ấy không phải là của Giới Tử Thôi, chính là của tôi. Giới Tử Thôi không muốn cầu thưởng đã cõng mẹ vào trong hang núi Miên Thượng để ẩn thân. Muốn để chúa công nhớ đến họ Giới, tôi làm bài thơ kia.
Tấn Văn Công bảo:
- Nếu không có bài thơ của nhà ngươi, có lẽ ta quên mất cái công của họ Giới.
Nói xong liền phong cho Giải Trương làm Hạ Đại phu và truyền cho Giải Trương phải đưa đường vào Miên Thượng để tìm Giới Tử Thôi.
Tới nơi chỉ thấy núi rừng xanh rậm, suối chảy, chim ca, không thấy Tử Thôi đâu cả.
Hỏi một nông dân ở đấy thì nông dân thưa:
- Mấy hôm trước chúng tôi có trông thấy một người cõng bà cụ già ngồi nghỉ ở núi này, vục nước suối uống. Xong mẹ
con lại cõng nhau vào rừng không biết đi đâu.
Tấn Văn Công truyền đóng ở chân núi, sai người dò tìm các nơi trong mấy hôm mà không thấy. Tấn Văn Công có ý không bằng lòng bảo Giải Trương:
- Sao Giới Tử Thôi giận ta quá như vậy, Giới Tử Thôi là người chí hiếu, ta sai đốt rừng chắc phải cõng mẹ chạy ra.
Nhưng rừng đốt cháy rực trời cũng không thấy mẹ con Tử Thôi cõng nhau ra. Ba ngày sau khi tắt lửa, quân sĩ tìm thấy đống xương mẹ con họ Giới ôm nhau chết ở dưới gốc cây liễu.
Tấn Văn Công trông thấy thương xót ứa nước mắt, sai quân sĩ đem chôn hài cốt hai người ở dưới chân núi, lập miếu lên thờ và đổi tên núi ấy là Giới Sơn.
Ngày hôm đốt rừng là mồng ba tháng ba. Sau người trong nước nhớ đến Giới Tử Thôi là một bậc liêm sỉ đủ hiếu lẫn trung, đến ngày mồng ba tháng ba kiêng lửa để nhớ lại việc họ Giới bị chết cháy. Ngày hôm đó người ta ăn toàn đồ nguội và gọi là Tết Hàn Thực.
Tết Hàn Thực người ta còn cắm ở trước cửa nhà một cành liễu để chiêu hồn Giới Tử Thôi.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
LIỀU CHẾT THAY ANH
Vua Tuyên Công nước Vệ lấy nàng Di Khương sinh được một con trai là Cấp Tử, lập tước thế tử để mai sau nối ngôi giữ
cơ đồ nước Vệ, giao cho công tử Chức làm Thái phó dạy bảo.
Cấp Tử năm đó 16 tuổi. Vua Tuyên Công sai sứ sang hỏi trưởng nữ vua Hi Công nước Tề là nàng Tuyên Khương cho Cấp Tử.
Sứ giả nước Tề về tâu cùng Tuyên Công là nàng Tuyên Khương nhan sắc thực là một bực nghiêng nước nghiêng thành.
Vệ Tuyên Công vốn là người hiếu sắc, thấy nói Tuyên Khương xinh đẹp, động lòng tham muốn, liền ra lệnh sai Cấp Tử sang sứ nước Tống, và lập một lâu đài ở bờ sông Kỳ để
cướp tranh nàng Tuyên Khương.
Cấp Tử ở Tống về, vua Tuyên Công bắt vào chào lạy Tuyên Khương và bắt gọi là thứ mẫu.
Cấp Tử vốn là một người chí hiếu, thấy cha lấy tranh vợ
mình, không chút oán giận, lại xưng hô gọi Tuyên Khương là thứ mẫu cho cha được vui lòng.
Vệ Tuyên Công cùng Tuyên Khương say đắm, không hỏi han gì đến nàng Di Khương. Sau ba năm lấy vua Vệ, Tuyên Khương sinh hạ được hai con trai là công tử Thọ và công tử Sóc.
Tuyên Công say Tuyên Khương quá. Bao tấm lòng yêu đương Cấp Tử, chuyển cả sang hai con nàng, lại có ý định sau này sẽ truyền ngôi cho một trong hai người con ấy.
Công tử Thọ là người rất mến anh, và quý Cấp Tử không khác chi anh em cùng mẹ, thường trước mặt cha vẫn ngợi khen Cấp Tử.
Vua Vệ bãi chức thế tử của Cấp Tử và ủy cho quan đại phu là công tử Tiết phải dạy bảo trông nom công tử Thọ để
mai sau công tử Thọ nối giữ ngôi vàng.
Công tử Sóc là em công tử Thọ thì tính nết trái hẳn anh.
Sóc cậy thế được mẹ yêu, thường âm mưu định để mai sau chiếm ngôi nước Vệ. Sóc không những ghét Cấp Tử, mà ngay đến cả anh ruột là công tử Thọ, Sóc cũng coi là một chướng ngại vật, muốn trừ đi cùng với Cấp Tử.
Trước mặt mẹ, công tử Sóc thường nói:
- Ngày nay thân phụ hãy còn, mẹ và chúng con được quý trọng, nhưng một mai, thân phụ trăm tuổi về già, triều thần phù tá Cấp Tử lên ngôi báu, mẹ và chúng con biết nương tựa vào đâu. Ngoài ra Di Khương ngày nay thấy mẹ được lòng phụ thân, thường oán hận. Nếu Cấp Tử nối ngôi vua, Di Khương làm quốc mẫu, thật sẽ là một cái họa lớn cho mẹ
và chúng con.
Thấy con nói vậy, Tuyên Khương cũng muốn ngầm mưu hại Cấp Tử vì thấy Cấp Tử, nàng vẫn ngại ngùng; nàng biết rõ ngày trước vua Vệ thực ra định cưới nàng cho Cấp Tử.
Ngày đêm trước mặt vua Vệ, nàng dèm pha Cấp Tử đủ điều.
Một hôm gặp ngày sinh nhật của Cấp Tử, công tử Thọ bày một tiệc rượu mừng, có cả công tử Sóc cùng dự. Trong tiệc rượu Cấp Tử và công tử Thọ cùng nhau chuyện trò thân mật lắm, Công tử Sóc lấy thế làm khó chịu, cáo bệnh lui ra, đi tìm mẹ nói rằng:
- Thưa mẫu thân, hôm nay nhân sinh nhật Cấp Tử, con cũng 206
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
lấy bụng tốt mà cùng anh con dâng rượu mừng, không ngờ
khi Cấp Tử ngà ngà say, dám gọi con là con. Con không bằng lòng có nói lại mấy câu thì Cấp Tử bảo con rằng: “Đáng lẽ
mẹ mày là vợ ta, bây giờ mày nên gọi ta là cha mới đúng”.
Con toan cãi lại thì hắn sừng sộ chực đánh con, may có anh Thọ con ở đấy khuyên giải nên con mới chạy thoát tới đây.
Xin mẫu thân trình cùng phụ thân để phụ thân con định liệu phân xử hộ.
Tuyên Khương, cho là con nói thật, lấy làm ức lắm, khi Vệ
Tuyên Công vào cung, liền nức nở khóc, quỳ xuống tâu rằng:
- Thiếp là người có tội với thế tử, thiếp xin chịu chết để
thế tử vui lòng.
Vua Vệ đỡ nàng dậy, lấy khăn hồng lau mắt lệ và hỏi:
- Chuyện gì mà ái khanh phải khóc lóc vậy. Ái khanh hãy thuật lại cho ta rõ.
Tuyên Khương liền vừa khóc vừa kể lại những lời công tử
Sóc đã nói và đơm đặt thêm ra:
- Cấp Tử thật là người quá tệ, muốn làm ô nhục thiếp? Hắn đã nói rằng thiếp là vợ cũ của hắn, hắn cho chúa công mượn tạm, mai ngày chúa công trăm tuổi, thiếp sẽ phải hầu hạ hắn.
Nghe Tuyên Khương nói, vua Vệ giận lắm. Tuy vậy, nhà vua cũng sai nội thị đi gọi công tử Thọ lại hỏi thì công tử
Thọ nói là không hề có chuyện như vậy bao giờ.
Vệ Tuyên Công nửa tin nửa ngờ, liền sai nội thị trách mắng Di Khương về tội không biết dạy con.
Sau mấy năm thờ ơ của quân thượng, bỗng dưng lại bị trách mắng, nàng Di Khương tức giận không biết nói thế nào cho được, liền thắt cổ tự tử để giải tỏ oan tình.
Cấp Tử thương mẹ lắm, nhưng sợ trái ý cha, đành gạt nước mắt khóc thầm, chứ không tỏ vẻ gì là oán giận cả.
Tuy vậy, công tử Sóc và Tuyên Khương lại nói dèm cùng vua Vệ:
- Cấp Tử thương mẹ lắm, thấy mẹ chết thì nguyền quyết mai sau giết chết mẹ con thiếp để báo thù. Thiếp xin chúa công cho mẹ con thiếp được chết ở trước mặt chúa công, còn hơn để sau này bị nhục.
Vệ Tuyên Công cũng biết Di Khương chết oan, và Cấp Tử là người hiếu hạnh, nhưng ngày đêm bị mẹ con Tuyên Khương xúi giục dèm pha, liền có ý muốn giết Cấp Tử để
làm vui lòng vợ thứ.
Tuyên Công nghĩ kế để giết Cấp Tử mà không mang tiếng với triều thần cùng các nước chư hầu.
Vừa hay gặp lúc Tề Hi Công sai người sang mượn quân nước Vệ để đánh nước Kỷ.
Vua Vệ bày cùng công tử Sóc sai Cấp Tử cầm cờ tiết trắng sang nước Tề, rồi cho đứa hung đồ phục sẵn ở ngay đường, chờ thuyền của Cấp Tử đến, đổ ra giết, mang cờ tiết trắng về
sẽ được trọng thưởng.
Công tử Sóc thi hành mưu đó, cắt đặt mọi công việc xong xuôi liền vào nói chuyện cho mẹ rõ. Tuyên Khương nghe nói mừng rỡ vô cùng.
Công tử Thọ thấy vua cha đuổi hết kẻ hầu người hạ chung quanh, để thương nghị một mình cùng công tử Sóc, trong lòng nghi hoặc, bèn vào cung để dò ý mẹ.
Tuyên Khương vô tình nói thật hết cả, lại dặn cùng công tử Thọ rằng:
- Đó là chủ ý của cha con, muốn vì mẹ con ta giữ gìn để
tránh mọi sự lo về sau, con chớ nên tiết lộ cho ai biết.
Công tử Thọ thấy cha mình đã định như vậy, biết rằng có can cũng không ích gì, mới đến nói riêng với Cấp Tử và khuyên Cấp Tử nên trốn đi nước khác, rồi sau sẽ liệu cách.
Cấp Tử đáp:
- Em cho anh biết tin này, anh rất quý, nhưng em nên nhớ
rằng làm con có biết theo lệnh cha mới gọi là hiếu. Trái mệnh 208
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
cha, tức là đứa nghịch tử. Ta trốn đi nước nào được bây giờ, nước nào là nước không cha.
Nói xong, liền sửa soạn hành trang và cứ việc xuống thuyền đi. Công tử Thọ vừa khóc vừa than. Cấp Tử nhất định không nghe.
Công tử Thọ thấy vậy nghĩ rằng:
- Anh ta thật là một người có hiếu và đáng trọng. Nếu chuyến này anh ta bị giết, ngày sau thân phụ lại cho ta nối ngôi nước Vệ, ta sẽ mang tiếng với các nước chư hầu, tiếng xấu sẽ lưu truyền vạn đại. Làm con phải nghĩ đến cha thì làm em phải nghĩ đến anh. Âu là ta liều mình đi trước để
chết thay cho anh ta, tất anh ta sẽ được thoát nạn. Cha ta được tin ta chết sẽ cảm động nghĩ lại. Như vậy, bên tình bên hiếu đều trọn vẹn cả hai; tiếng thơm sẽ lưu lại thế gian muôn thuở.
Nghĩ vậy, công tử Thọ liền xuống một chiếc thuyền đi theo, mời Cấp Tử sang uống rượu để tiễn biệt. Cấp Tử nói là trong mình mang quốc mệnh, không dám thong thả. Công tử
Thọ liền bước sang thuyền Cấp Tử, rót một chén rượu mời.
Nâng chén rượu đưa mời Cấp Tử, công tử Thọ hai hàng nước mắt lã chã rơi cả xuống rượu. Cấp Tử đỡ chén rượu định uống.
Công tử Thọ nói:
- Chén rượu này có nước mắt sa vào đã bẩn mất rồi.
Cấp Tử nói:
- Anh chỉ muốn uống chén rượu này để tỏ tấm chân tình của em.
Công tử Thọ gạt nước mắt nói:
- Chén rượu này, em cùng với anh từ đây ly biệt. Nếu anh xét tình cho em, anh nên uống với em mấy chén rượu nữa.
Cấp Tử nhận lời.
Hai người nhìn nhau, nước mắt ròng ròng cùng nhau chén 209
tạc chén thù. Công tử Thọ cố ý đổ rượu cho Cấp Tử uống thật say. Cấp Tử say rượu quá, nằm phục xuống mà ngủ.
Công tử Thọ bảo những người đi theo rằng:
- Việc quốc mệnh không thể chậm trễ được, âu là ta phải đi thay.
Công tử Thọ lấy cờ tiết trắng của Cấp Tử cắm sang mũi thuyền mình, lại cho quân hầu ở thuyền Cấp Tử một phong thư dặn đệ trình cho Cấp Tử khi Cấp Tử tỉnh dậy.
Xong đâu đấy, công tử Thọ chèo thuyền đi trước. Thuyền đi tới chỗ bọn côn đồ phục ở bờ sông, bọn này trông thấy cờ
tiết trắng đều cho là Cấp Tử đã đến, kéo nhau ồ ra, Công tử
Thọ liền dõng dạc mắng chúng rằng:
- Ta là trưởng nam Vệ Hầu phụng mệnh sang xứ Tề, lũ
chúng bay là người nào mà dám cản trở đường ta.
Bọn hung đồ đồng thanh nói:
- Lũ ta phụng mật chỉ của vua Vệ đợi ở đây để lấy đầu nhà ngươi.
Nói xong, một tên chém chết Công tử Thọ, lấy đầu đựng vào một chiếc hộp gỗ mang xuống thuyền. Chúng lại lấy cả
cờ tiết trắng. Bọn gia nhân theo công tử Thọ thấy vậy bỏ
chạy tán loạn.
Khi Cấp Tử tỉnh rượu, không thấy công tử Thọ, liền hỏi bọn gia nhân thì chúng đệ trình phong thư. Mở phong thư ra, Cấp Tử đọc chỉ thấy mấy chữ:
- Em đã đi thay anh. Anh tránh đi.
Đọc xong mấy chữ đó, Cấp Tử ứa nước mắt...
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
TRỪ HẠI CHO DÂN
Đất Nghiệp là một quận lớn của nước Ngụy. Nước Ngụy là một trong bảy nước lớn thời Chiến quốc, ở giữa hai nước lớn khác là nước Hàn và nước Triệu.
Đất Nghiệp của Ngụy là một quận quan trọng, ở vào khoảng giữa Thượng Đảng là kinh đô nước Hàn và Hàm Đan là kinh đô nước Triệu.
Thời bấy giờ là thời vua Ngụy Văn Hầu là một bậc minh chúa, rất trọng người hiền. Luôn luôn Văn Hầu lo chấn chỉnh trong nước để yên dân và sửa sang bờ cõi để phòng ngoại dịch. Gặp khi ấy Nghiệp Quận khuyết chức Thái thú. Văn Hầu xưa nay vẫn lưu ý đến quận này và hiểu rằng phải cần một người có tài năng mới trấn thủ nổi nơi biên trấn ấy.
Trong triều khi ấy có Tây Môn Báo là một người có tài, đã có công trạng nhiều, nên được Ngụy Văn Hầu cử làm Thái thú Nghiệp Quận.
Trước khi Tây Môn Báo ra đi, Văn Hầu bảo:
- Ta biết tướng quân không những có tài về nghiệp võ mà lại giỏi việc cai trị, nên ta giao cho tướng quân cái trọng trách coi giữ đất Nghiệp. Nơi biên trấn này rất hệ trọng cho nước Ngụy. Vậy mọi điều ta sở cậy ở cả tướng quân.
Tây Môn Báo đáp:
- Tôi đội ơn chúa công đã nhiều, nay chúa công tín nhiệm mà giao cho Nghiệp Quận để trấn thủ, tôi xin đem hết sức mình ra để đền đáp tấm lòng tin cẩn của chúa công.
Tây Môn Báo khi tới đất Nghiệp, thấy phong cảnh tiêu điều, nhân dân thưa thớt, liền cho vời các phụ lão đến để hỏi.
Các phụ lão được quan Thái thú cho triệu bèn cùng nhau vào yết kiến và kể rõ tình hình đất Nghiệp cho quan Thái thú nghe.
Các phụ lão đều thưa với Tây Môn Báo là dân chúng đất Nghiệp rất khốn khổ về tục Hà Bá lấy vợ.
Tây Môn Báo lấy làm lạ về cái tục kỳ khôi ấy, hỏi thì các bô lão nói:
- Hà Bá là thần sông Chương Hà, con sông lớn chảy qua đất Nghiệp. Vị thần sông này thích vợ đẹp, mỗi năm bắt dân ở đây phải nộp một người. Nếu dân chịu nộp vợ cho Hà Bá thì Hà Bá sẽ phù hộ cho mưa thuận gió hòa, hoa màu tươi tốt. Trái lại, nếu năm nào dân không giữ theo tục lệ, Hà Bá sẽ dâng nước lên làm hại cửa nhà.
Tây Môn Báo hỏi:
- Lệ này có tự bao giờ? Ai đã khởi xướng ra như vậy?
Các phụ lão đáp:
- Bọn đồng cốt ở đất này khởi xướng ra đầu tiên. Dân chúng tôi sợ cái hại nước lụt nên phải thuận theo. Hàng năm, các kỳ lý hương hào cùng nhau bè đảng với bọn đồng cốt bổ
dân chúng phải nộp mấy trăm vạn quan để lấy tiền chi phí về
dịp Hà Bá lấy vợ. Thật ra chi tiêu về việc cưới vợ cho thủy thần chỉ hết có một phần, còn bọn đồng cốt cùng các kỳ lý tư túi chia tay nhau, dân chúng tuy biết cũng chẳng ai nói ra.
Tây Môn Báo lại hỏi:
- Tại sao dân chúng biết bị chia tay nhau lại không ai dám nói ra?
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
Các phụ lão thưa:
- Bọn đồng cốt thì giữ việc cầu cúng, còn bọn kỳ lý hương hào thì có công thu bổ nên họ phải ăn vào đấy, chúng tôi đâu dám phàn nàn. Dân chúng tôi chỉ khổ có một điều, là hàng năm cứ xuân sang, bọn đồng cốt bắt đầu kén vợ cho Hà Bá.
Hễ chúng thấy con gái nhà ai hơi có nhan sắc thì chúng bảo người ấy đáng làm vợ Hà Bá. Phải có tiền lễ lạc cho chúng, chúng mới chịu thôi và chọn người khác. Kẻ nào nghèo khó, không xoay được tiền cho chúng, đành phải mất con gái.
Bọn chúng lập ở ngay bờ sông một nhà trai cung thật đẹp, màn che, trướng rủ, toàn đồ mới. Con cái nhà ai bị chúng kén làm vợ cho Hà Bá thì chúng tắm rửa thay quần áo mới cho ở đấy, rồi khi chọn được ngày tốt, chúng sức cho toàn dân ra dự lễ cưới của Hà Bá. Sau những cuộc lễ bái, người con gái kia bị đưa ngồi vào chiếc thuyền kết bằng cỏ, thả ra giữa dòng sông. Chiếc thuyền cỏ trôi được vài dặm sẽ chìm đi, và người con gái bị thủy thần đưa về Thủy cung làm vợ.
Dân chúng đất Nghiệp rất khổ về tục này. Có nhiều người thương con gái quá, không chịu nộp cho Hà Bá, đành phải bỏ nơi đây trốn đi nơi khác. Bởi lẽ đó nên phong cảnh ở đây trông tiêu sơ và ngày một thưa thớt mãi đi.
Tây Môn Báo lại hỏi:
- Ở đây có bị lụt bao giờ không?
Các phụ lão đáp:
- Năm nào dân chúng tôi cũng chịu nộp con gái nên Hà Bá không ra tay bao giờ. Tuy nhiên, quận này đất cao, đường lại xa, nước sông khó vận tới được, nên dẫu không bị lụt thì cũng thỉnh thoảng lại bị một năm hạn hán. Bị hạn hán, cái khổ chẳng kém gì bị lụt.
Nghe rõ chuyện rồi, Tây Môn Báo bảo các phụ lão:
- Thủy thần thiêng liêng như vậy, năm nay, khi nào làm 213
lễ cưới cho Thủy thần, để ta đến dự, ta sẽ cầu đảo cho dân chúng tránh được cả hạn hán tiêu khô nữa.
Năm ấy, khi chọn được ngày hành lễ để làm lễ cưới cho thần sông, các phụ lão đến bẩm cùng quan Thái thú để ngài ra chủ tọa cuộc lễ.
Tây Môn Báo đội mũ, mặc áo, nghiêm chỉnh thân hành ra đứng bờ sông. Phàm các bô lão, kỳ lý hương hào đều có đủ mặt. Dân chúng kéo tới xem kể hàng mấy nghìn người.
Các bô lão và hương hào đưa ra một bà đồng già, trông vẻ mặt tự đắc kiêu ngạo. Có lẽ bà đồng cho rằng quan Thái thú cũng phải nể mình vì mình là môi nhân cho Hà Bá. Đi theo bà đồng có hơn hai chục đệ tử, khăn áo sặc sỡ, tay xách lẵng hương.
Tây Môn Báo bảo bà đồng già:
- Nhà ngươi gọi vợ Hà Bá ra đây cho ta xem mặt.
Bà đồng vâng lệnh sai đệ tử gọi đến. Tây Môn Báo ngắm qua người con gái rồi bảo bà đồng cùng bọn phụ lão, kỳ lý rằng:
- Người con gái này nhan sắc tầm thường, không xứng đáng làm vợ Hà Bá là một vị quý thần. Phải tìm một người con gái thật đẹp mới được. Vậy ta phiền bà đồng xuống khất với Hà Bá rằng vâng lệnh ta là Thái thú hạt này đến xin cùng Hà Bá để tới ngày mai, ta tìm được một người con gái thật nhan sắc, sẽ nộp sau. Xong việc phải lên trả lời cho ta biết.
Nói xong, Tây Môn Báo sai lính ôm bà đồng ném xuống sông. Mọi người chung quanh lấy làm sợ hãi lắm. Tây Môn Báo vẫn điềm nhiên như không, ung dung ngồi đợi. Một lát sau, Tây Môn Báo nói:
- Bà đồng tuổi đã già, không được việc. Xuống sông từ bấy giờ không về trả lời. Các đệ tử nên đi giục hộ ta.
Dứt lời, Tây Môn Báo liền sai lính quăng một người đệ tử
xuống sông. Giây lâu, ông lại nói:
- Người đệ tử kia đi cũng không xong việc. Mãi chưa về.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
Ông lại sai lính quăng một người đệ tử thứ hai xuống sông, rồi ông lại chê là chậm, bắt thêm người đệ tử thứ ba phải đi.
Cả bốn thầy trò bà đồng đều không thấy trở về.
Tây Môn Báo bảo bọn bô lão:
- Bọn ấy là đàn bà nói năng không được minh bạch nên không xong việc. Phiền các bô lão đi giúp.
Bọn bô lão từ chối. Tây Môn Báo quát to lên rằng:
- Mau xuống ngay, rồi về nói cho ta biết.
Quân lính lại được lệnh quăng một bô lão xuống sông.
Người đi xem chung quanh ai nấy càng khiếp sợ. Tây Môn Báo hình như không lưu ý gì tới sự sợ hãi của mọi người, vẫn ung dung đứng ở bờ sông để đợi, trông rất nghiêm trang tề chỉnh. Một hồi lâu nữa ông lại nói:
- Bô lão già đi cũng không được việc, phải phiền các hào trưởng mới được.
Bọn hào trưởng lúc ấy, người nào người nấy mặt mày xám ngắt, sợ hãi cùng nhau sụp lạy kêu van, không dám ngẩng cổ