Tiết Tháo Một ThờiPart 3

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Sao cho chính nghĩa thành công,

Phất cờ Độc Lập thỏa lòng nam nhi.

...

Trong một đêm nơi lữ thứ, lúc đông về, người người rộn rã sửa soạn đón xuân sang thì trong lòng ông Khóa Bảng cũng rạo rực nhớ đến quê nhà, đến mẹ già, đến vợ dại con thơ.

Trong đời ông Khóa, cái mộng ông theo đuổi là đem thân hiến cho nước nhà để nước nhà bước đến chỗ vinh quang.

Vốn là con cháu nhà nho, hiểu thấu đạo thánh hiền, ông lấy trung làm trọng. Thời cơ chưa đến, ông đành ngậm ngùi ở quê hương, trông tháng ngày mòn mỏi. Những lúc được hầu chuyện các ông Cử, ông Đồ là những lúc lòng ông phấn khởi, vì ở trong những tấm lòng già kia ông cũng nhận thấy một nhịp tơ rung động. Các cụ thường khuyên ông: “Thầy Khóa ạ, phải kiên gan mới được, ở đời việc gì cũng vậy, phải biết đợi chờ: trời chưa triệt nước Việt ta đâu. Còn có ngày ngọn cờ độc lập phấp phới với năm Châu.”

Ngày ngày ông đọc sách, nghiên cứu nghiền ngẫm đến công việc phải làm, khi cơ hội tới.

Năm ấy là năm 1927. Phong trào quốc gia thanh niên ngấm ngầm nhóm ở các nơi. Rồi ông Khóa được liên lạc với các đồng chí của Nguyễn Thái Học.

Sau bao nhiêu ngày chờ đợi, đã đến lúc ông được hoạt động để mưu đồ việc lớn. Làm việc cho chính nghĩa, ông quên cả gia đình.

Sức người có hạn, việc khó không bờ; ý người đã vậy còn vận nước thì sao? Năm 1929, việc vỡ lở, ông đành bỏ quê nhà trốn tránh đi nơi khác.

Vùng Thái Bình của ông ở là vùng mà viên Tổng Đốc Vi Văn Định truy nã gắt gao các đồng chí của ông nhất. Sau cái chết của Lương Duyên Khải và cái chết bí mật của giáo Kỳ, ông và các đồng chí không bao giờ dám quay về nơi đó nữa.

Trong lúc tha hương đã bao phen con tim dồn dập muốn trở lại quê nhà thăm mẹ già, vợ dại và lũ con thơ, nhưng tiếng gọi xa xăm của đất nước thúc giục, ông đành nghiến răng quên cả cái tổ êm ấm, lang thang sống cuộc đời lữ thứ.

Ông ra công muốn hàn gắn lại công việc đã vỡ, nhưng những tin các đồng chí bị bắt dần mòn, vụ xử tử ở Yên Bái làm ông đôi lúc cũng chùn gan. Mặc dầu, ông không nản chí.

Ván cờ này thua, ông xoay ván khác.

Biết bao phen vào sinh ra tử: gặp những bọn phản bạn lừa thầy, gặp những phường tham của định bắt ông để lấy thưởng, ông đều trốn được. Mỗi lần như vậy lại càng làm ông hăng hái hơn xưa.

Việc càng khó càng làm ông Khóa hăng hơn. Ông đi suốt mấy vùng Bắc Ninh, Phả Lại, Hải Dương, Ninh Giang để

liên lạc các anh em cũ. Mỗi một tin các anh em bị bắt đưa tới ông, là một lần ông thở dài, nhưng không hề chán nản.

Anh em bị bắt một ngày một nhiều, và một ngày một hết.

Năm ấy tết lại đến sau lưng, nghĩ đến quê nhà, giọt lệ anh hùng bỗng trào qua mi mắt.

Cải trang là một ông lái thuốc lào, ông vào trọ nhà một người vùng Bắc Ninh. Trông thấy cái cảnh gia đình êm ấm của người ta, ông chạnh nhớ đến cảnh mình. Ông làm bài thơ để tả nỗi buồn riêng, nhưng phút chốc, ông sợ mềm gan người chiến sĩ, ông cố làm thêm tám câu đoạn cuối.

Ông khe khẽ ngâm lại bài thơ. Lòng anh hùng khôn át nổi mối tình nhà. Ông nghẹn ngào cố nín tiếng thở dài chua xót.

Sáng hôm sau, ông từ giã nhà trọ ra đi từ sớm.

Không ai biết ông đã đi đâu, và vợ con ông ở vùng Duyên Hà, tỉnh Thái vẫn hàng ngày mong đợi tin chồng tin cha.

Phải chăng người chiến sĩ ra đi theo tiếng gọi của nước nhà đã nhãng quên con thơ vợ dại?

SƯ CỤ TRÊN CHÙA

Mùa hạ năm 1930. Sư cụ chùa Xuân Mỹ đang cùng một thí chủ trong làng đánh dở một ván cờ. Cờ sư cụ sắc nước hơn, nên người đã dồn đối phương vào một thế bí.

Bỗng một sư bác trạc ngoài ba mươi tuổi ở đâu về có vẻ

vội vàng, đến gần sư cụ, ghé vào tai người nói nhỏ mấy câu.

Nghe xong, sư cụ truyền cho sư bác ra, để sư cụ tiếp tục nốt ván cờ. Nước cờ sư cụ đi bỗng thành bối rối. Chỉ một lát sau sư cụ thua ván cờ ấy. Sư cụ xin lỗi thí chủ để đến dịp khác lại hầu cờ người.

Thí chủ, sau ván cờ ấy cũng cáo lui. Bấy giờ sư cụ mới truyền cho sư bác vào để trình rõ về câu chuyện nói nhỏ lúc trước.

Sư cụ vốn là bậc nho học uyên thâm. Người vốn trước cũng đã có gia đình, nhưng sau vì chán cuộc đời cũng có và vì muốn tránh những sự lôi thôi từ trước người đã có dính líu vào, nên người thế phát đi tu.

Thân ở cửa Phật, nhưng lòng thật vẫn theo đuổi với cuộc đời.

Nghĩ lại những khi còn là một thiếu niên hăng hái, giúp ông đốc Tít, trong những cuộc hành quân quấy rối mấy vùng 54

Hưng Yên trong lòng vị sư già chẳng khỏi bùi ngùi. Người Pháp lúc ấy cho ông đốc Tít là có tội vì ông đã làm mất sự

an ninh của dân chúng một vùng, nhưng theo ý cụ thì công hay tội cần phải cho hậu thế phẩm bình. Vẫn biết làm mất sự

an ninh của dân chúng một vùng là một tội lớn, nhưng gây một phong trào yêu nước, chống lại cường, đấy há chẳng là một công to hay sao!

Sư cụ đi tu đấy, ngày đêm ăn chay niệm phật đấy, nhưng hàng ngày sư cụ vẫn có thư từ đi lại cùng mấy bậc lão nho bàn về thời thế. Và đã bao phen, sư cụ từng cùng các bạn già thở dài vì những sự thất bại của biết bao tấm lòng hy sinh không bờ bến.

Khi phong trào quốc gia năm 1927 bùng dậy, chính sư cụ

đã là người giúp đỡ rất nhiều cho các tổ chức ái quốc trong vùng khi việc kín của các tổ chức kia vỡ lở, các thanh niên có dính líu đến các tổ chức ấy lẩn trốn đã tìm thấy ở chùa Xuân Mỹ, một chỗ dung thân.

Người làng Xuân Mỹ hẳn còn nhớ một hồi trong chùa có toán thợ gặt đàn ông, mà người nào người nấy mặt mũi khôi ngô nói năng lịch sự.

Sau vì lý trưởng trong làng để ý, sư cụ phải đưa các anh em đồng chí đi lánh nạn ở nhiều nơi khác, và còn người nào ở

lại, sư cụ đều bắt cải trang thành những nhà tu hành trẻ tuổi.

Ngày đêm sư cụ niệm Phật, mong Phật độ cho anh em thoát khỏi sự phản trắc của một số bọn tham tiền hơn chuộng nghĩa, cầu Phật phù hộ cho anh em không sa vào tay bọn quan lại trung thành với Chính Phủ bảo hộ để khỏi bị chúng hành hạ

tra tấn, tâng công cùng người Pháp.

Thỉnh thoảng có tin buồn đưa đến sư cụ lại niệm Phật thâu đêm. Có lẽ sư cụ niệm Phật để quên nỗi đau đớn thấy những công cuộc của đồng bang bị tan rã. Có những đêm cụ lâm râm trước bàn thờ Phật suốt sáng. Những hôm ấy, các tăng 55

tiểu trong chùa nem nép không dám làm việc gì mạnh mà cũng không nói to.

Thường thường sau những buổi tụng kinh khác thường ấy, sư cụ thờ thẫn đến bốn năm hôm. Bọn sư ông sư bác muốn cho sư cụ quên buồn thường hay vào trong làng mời vài bậc lão thành đến nói chuyện với sư cụ. Câu chuyện của những bậc già thường hợp tính nhau, nên gặp được các bậc lão thành đến thăm, sư cụ cũng khuây khỏa đôi chút.

Rồi muốn lãng hẳn ý nghĩa buồn rầu, sư cụ cùng các ông bạn già bày ra cuộc đánh cờ. Sư cụ thường nói: “A di đà Phật, đức Phật cũng xá lỗi cho kẻ tu hành còn để ý đến bàn cờ

nhưng kẻ tu hành này chỉ lấy bàn cờ mà giải muộn được thôi”.

Hôm ấy, sư bác trình sư cụ tin những chiến sĩ bị hành hình ở Yên Bái và sư bác lại mong manh nghe đâu viên lý trưởng trong làng có ý tình nghi sư cụ làm chính trị nên đã báo huyện. Viên tri huyện hình như sắp sửa dẫn lính đến vây chùa khám xét.

Nghe sư bác thuật chuyện, sư cụ nói: “Mô Phật, con nhà tu hành họ cũng chẳng để cho yên. Thế ra họ chỉ nghĩ đến món tiền thưởng, đến thăng quan tiến chức, họ quên mất cả họ là người Việt Nam”. Rồi sư cụ truyền sư bác vào lấy ở dưới bệ

ông Hộ Pháp ra một tập giấy đem đốt đi. Giấy ấy có người bảo là truyền đơn, có người bảo là danh sách những người thợ gặt đã ở trong chùa hồi trước.

Quả nhiên ngày hôm sau, viên lý trưởng trong làng có dẫn viên tri huyện đem lính đến vây chùa, và vào trong chùa khám xét.

Viên tri huyện bảo sư cụ: “Thấy báo nhà chùa đây có chứa chấp những giấy tờ quốc cấm và dung nạp bọn cách mạng nên bản chức phải đến khám xét.”

Sư cụ đáp: “Bẩm quan lớn chúng tôi tu hành chỉ biết việc nhà Phật, có biết đâu đến việc ngoài khác, xin quan lớn xét 56

cho. Chúng tôi già cả, gần được theo về đất Phật còn màng gì đến cõi tục mà quan lớn buộc cho những tội ghê gớm thế.

Đạo Phật chúng tôi có sách nói đến chữ trung, chúng tôi há lại không giữ trọn đạo trung hay sao!”

Chẳng biết viên tri huyện có hiểu lời sư cụ nói hay không, nhưng y cứ cho lính sục sạo khám khắp trong chùa. Sau một cuộc khám xét hơn ba tiếng đồng hồ, không thấy gì khả nghi, viên tri huyện mới đem lính rút lui.

Hồi ấy sư cụ lại buồn. Sư cụ buồn rồi sư cụ ốm. Và trận ốm ấy đã đưa sư cụ đến cõi Nát Bàn. Chẳng biết vong hồn sư

cụ có đi lên đất Phật hay vẫn còn lẩn quất ở nước Việt Nam để phù trợ đàn em tranh đấu cho đại nghĩa.

CHIẾC ĐỊA BÀN

Cái khó theo nhau mãi thế thôi,

Có ai hay chỉ một mình tôi,

Bạc đâu ra miệng mà mong được,

Tiền chửa vào tay đã hết rồi.

Van nợ lắm khi tràn nước mắt,

Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi,

Biết đây thủa trước đi làm quách

Chẳng ký không thông cũng cậu bồi.

Ngâm lại bài thơ than nghèo trên cụ Tú Quỳ lại ngẫm nghĩ

đến cảnh mình.

Cụ Tú nghèo, nghèo thật, nghèo lo từng bữa ăn lo đi, có bữa hôm lo bữa mai, nhưng nhiều khi cụ vẫn tự an ủi là chưa đến nỗi phải khom lưng, uốn gối, hệ lụy đến ai. Thôi thì cái sống thanh nhàn là cái sống thú vị. Nếu thủa trước cụ bằng lòng đi làm một chân ký lục nào có khó gì? Chữ nho cụ thông, chữ

quốc ngữ cụ biết đủ dùng. Thời ấy các công sở cần người, nhưng những người cam tâm đi làm rất hiếm. Là con cháu nhà nho, phần nhiều người ta nghĩ đến cái giá trị của nhân cách, người ta chịu đựng được đói rét, nhưng người ta không chịu đựng nổi tiếng mỉa mai của những bạn đồng thời.

Hơn nữa cụ Tú Quỳ lại là người đã từng có óc yêu nước, thương nòi. Cụ đã bị bắt giam cùng một năm với cụ bảng Hoàng Tăng Bí, cụ Lê Đại.

Từ ngày cụ được tha ra, thường đôi khi cao hứng cụ vẫn thường ngâm mấy câu thơ của cụ Lê Đại.

Kém ba tuổi nữa sáu mươi tròn

Vẫn tưởng rằng mình hãy trẻ con

Lều chiếu mấy lần say chưa tỉnh

Xiềng cùm một chuyến dại hay khôn?

Sau mấy kỳ lều chiếu, bởi công danh không đắc lộ, rồi lối thi cũ bị bãi bỏ, cụ Tú Quỳ lại một phen bị bắt giam. Người đời coi cụ là dại, nhưng chính cụ, cụ không hiểu là dại hay khôn. Nếu quả như vậy là dại, thì âu cũng đành tiếng dại, vì trên đời cũng có thứ dại quân tử và dại tiểu nhân.

Cũng như các nhà nho khác, cụ mê đọc sách, nhưng sách mà cụ khảo cứu nhiều hơn hết là những sách nói về địa lý.

Cụ có cả một pho sách của cụ Tả Ao thời trước.

Những lúc nhàn rỗi, cụ đi ngắm hướng, tìm tay long, tay hổ, tìm nơi đất tốt để nếu có dịp sẽ giúp đỡ bà con.

Đối với con mắt cụ, một mô đất cao là một trái núi, một rẻo đất thấp là sông.

Thượng nhất thốn vi sơn, hạ nhất thốn vi hà Nhà tuy túng, nhưng cụ lại hay ngao du sơn thủy để tìm huyệt tốt. Thường thường cụ đi đâu cũng có các bạn đồng học cũ tiếp đãi. Gặp nhau các cụ bàn vài câu chuyện về thời thế, rồi cùng nhau uống một bữa rượu để nhớ lại những ngày cùng đọc sách hay những ngày ở trong lao. Các cụ nhắc đến những áng văn thơ làm trong nhà ngục:

Ông sếp bảo đi chơi.

Quanh như thân buộc cọc.

Đây là hai câu thơ của cụ Bảng Hoàng tả cái cảnh hàng ngày bọn cai ngục thừa lệnh trên bắt bọn tù nhân đi quanh sân lao cho giãn xương cốt. Đi như thế bọn cai ngục họ gọi là đi chơi.

Rượu say, cụ Tú lại đi ngắm đất ở quanh vùng tìm vài ngôi mộ quý. Chỗ nào thủy tụ, chỗ nào phát, chỗ nào sát, cụ

nhất nhất ghi lấy để tâm. Gặp một ngôi đất đẹp, cụ chỉ cho các bạn hữu xem, rồi cụ cắt nghĩa vì những lẽ gì ngôi đất ấy có thể phát được.

Sau khi ở chơi một nơi nào ít lâu, cụ lại từ giã ra đi nơi khác. Nếu các bạn hữu là bậc giàu có hào phóng, họ tiễn cụ

ít tiền ăn đường. Như thế càng hay, không có thì cụ vẫn cứ

lên đường.

Cụ đi từ Bắc vào Trung, đi từ Thanh Hóa đến Vĩnh Yên, từ Sơn Tây đến Bắc Ninh, tìm được ngôi đất nào cụ đều ghi vào sổ tay.

Một lần cụ đến làng kia, những người từng được cụ ra ân cho, thi nhau mời cụ lại nhà để được thù tiếp cụ. Trong số

những người cụ giúp cho có cả một tên ác bá. Đất cụ để cho nhà tên ấy phát ngay. Con trai hắn đậu tri huyện kỳ vừa qua.

Có người hỏi cụ: “Thưa cụ nhà tên ấy thiếu ân đức, bố mẹ

nó ác nghiệt, mà đối với cụ cũng chẳng có ân tình gì, chẳng hay tại sao mà cụ lại giúp cho nó một ngôi đất tốt, chóng phát như vậy?”

Cụ cười đáp: “Nhà nó còn phát to, con nó còn làm nên đến bậc khanh tướng, và sẽ được tiếng tăm như Lê Hoan, như Hoàng Cao Khải. Nhưng ông thử nghĩ như thế có là một điều hay không? Nghìn năm có ai khen bọn ấy? Bây giờ đất phát thì lên đấy, nhưng rồi ra con cháu họ sẽ muôn đời mang tội của ông cha. Những ngôi đất ấy phải để cho hạng người ấy chứ. Chẳng lẽ tôi lại đem những người phúc hậu mà tặng ngôi đất ngụy ấy ư?”

BÀ CỤ HÀNG NƯỚC

Ở SUỐI HOA

Trên đường quốc lộ 1, quãng từ Thị Cầu tới Bắc Ninh, khi đi khỏi địa điểm Thị Cầu, con đường vươn mình lên một ngọn đồi nhỏ rồi dốc xuống để kéo thẳng tới Bắc Ninh. Chỗ

đường dốc đó người ta gọi là Suối Hoa.

Suối Hoa ở trước huyện lỵ Võ Giàng. Không hiểu tên đó có từ bao giờ, nhưng nó chỉ là một tên truyền khẩu. Nó không có tên trong địa dư mà cũng không có tên trong địa bộ của sở Địa chính. Có lẽ người ta gọi thế vì ngày xưa ở đây có nhiều hoa và đã có một dòng nước chảy từ trên đồi xuống.

Dân cư ở Suối Hoa thưa thớt chỉ có mấy nhà ở hai bên đường thường phần đông là các me tây. Lẫn vào đấy có vài hàng quà bánh, bán cho những người có việc phải vào trong huyện đường Võ Giàng. Và có cả một quán hàng nước của một bà cụ.

Bà cụ hàng nước già lắm, có lẽ đến ngoài sáu chục tuổi, không ai hiểu bà cụ người ở đâu và tới bán hàng nước ở Suối Hoa từ bao giờ.

Cùng ở với bà cụ có một đứa cháu nhỏ trạc trên dưới 10

tuổi, hàng ngày vẫn đi học ở trường sơ học Đáp Cầu. Tên nó là Thiện.

Hai bà cháu Thiện sống với nhau, rất ít giao thiệp với mọi người. Thiện là một đứa bé ngoan, đến trường chỉ biết học, và được thầy giáo rất quý.

Khách vào hàng nước của bà cháu Thiện thường là các tổng lý trong huyện Võ Giàng có việc phải lên huyện. Vì thế nên cửa hàng của bà chỉ đông khách về buổi sáng.

Còn buổi chiều, thỉnh thoảng vài bác phu xe đi từ Bắc Ninh đến Thị Cầu, hoặc từ Thị Cầu đến Bắc Ninh, qua quãng đường này dừng chân uống hớp nước cho đỡ khát. Cũng đôi khi vài bác lính lệ ra hút nhờ điếu thuốc lào và ăn một khẩu trầu.

Năm ấy là năm 1930. Việt Nam Quốc Dân Đảng vừa bị

bại lộ và đảng trưởng Nguyễn Thái Học đã bị bắt ở ấp Cô Vịt tỉnh Hải Dương.

Muốn nhổ cỏ cho hết rễ, các nhà đương cuộc Pháp truy tìm gắt gao tất cả đảng viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Lệnh của người Pháp ban ra, một bọn tay sai chó săn muốn được lòng quan thầy làm việc mẫn cán gấp ba nên số người bị bắt hàng ngày ở các nơi không phải là ít.

Họ bắt đảng viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Họ bắt đảng viên của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội. Họ bắt đảng viên của Đông Dương Cộng Sản đảng, họ

bắt tất cả các đảng chính trị khác và họ bắt cả dân lành vu cho là Cách mệnh để tâng công với quan thầy.

Bán hàng ở trước cửa huyện Võ Giàng, bà cụ hàng nước được chứng kiến tất cả những vụ bắt bớ đã giải tới huyện của bọn lính huyện cũng như của các tổng lý muốn lập công.

Mỗi khi thấy lính giải một đảng viên cách mệnh qua cửa hàng, bà cụ lại lắc đầu và mơ màng như nghĩ ngợi. Một vài lần có khách hàng uống nước, thỉnh thoảng bà cụ lại thốt ra một câu: “Thật là tre lại trói tre”. Có người khách hàng 62

nghe cụ nói cũng nói thêm “Bà cụ nói đúng lắm. Tây người ta biết đâu, chỉ người Nam lại giết người Nam; Nam quốc, Nam nhân, nghĩ mà chán?”

Câu chuyện chỉ đến thế. Nhà hàng không nói hơn và khách cũng không nói hơn. Khách sợ vạ miệng, còn nhà hàng biết bụng dạ khách ra sao mà bàn đi nói lại.

Các cuộc bắt bớ ngày một nhiều. Ngày nào cũng có người tình nghi bị bắt. Các tổng lý nhiều khi giải phạm nhân tới huyện, gặp lúc hết giờ, thường phải tạm đưa vào hàng nước của bà cụ để nghỉ chân và đợi giờ làm việc.

Trong những trường hợp này, bao giờ bà cụ cũng tỏ ra chăm sóc các phạm nhân. Bà cụ thường đãi cơm nước không lấy tiền. Các phạm nhân có người muốn trả tiền, thì bà cụ bảo:

“Các ông cứ giữ lấy, các ông còn phải cần đến tiền nhiều”.

Thấy bà cụ tỏ ý ân cần với các phạm nhân, có người hỏi bà cụ không sợ tội hay sao. Bà cụ đáp:

- Tôi già nua thế này mà làm gì được. Bất quá thấy người ta vì việc nước phải bắt, tôi nghĩ cũng thương hại nên gọi là giúp đỡ đôi chút để an ủi người ta trong bước đường cùng đó thôi.

Một hôm vào khoảng quá ngọ, trong khi ở huyện đã hết giờ làm việc, giữa lúc bà cháu Thiện đang ăn cơm trưa, ở

ngoài cửa bước vào ba người; một người áo the khăn lượt, một người quần áo nâu tay vác con dao mã tấu và người thứ

ba cũng quần áo nâu, nhưng hai tay bị trói quặt ra sau lưng.

Người áo the khăn lượt ngồi xuống ghế trước chõng tre, người vác mã tấu ấn người bị trói ngồi xuống đất và hắn cùng ngồi ghé vào chiếc ghế.

Người mặc áo the ngửa chiếc bát úp trên chõng bảo bà cụ

rót nước. Bà cụ ngừng bữa cơm chạy ra múc nước chè xanh đổ vào hai chiếc bát, nhưng mắt vẫn liếc nhìn người bị trói ngồi dưới đất.

Bỗng nhiên bà cụ biến sắc mặt và chiếc gáo cầm trên tay 63

như muốn rơi. Vừa lúc ấy người bị trói cũng hình như nhận ra bà cụ nên gọi: “Cụ Khóa!” Bà cụ không đáp lại, vẫn tiếp tục đổ nước vào hai chiếc bát.

Không thấy bà cụ trả lời, người bị trói cho mình lầm, cúi gầm mặt xuống đất.

Người mặc áo the thâm và người cầm mã tấu cùng uống nước.

Bà cụ gợi chuyện. Hai người này cho biết một người là lý trưởng xã Ngư Đại và một người là tuần phiên, cùng giải tới huyện một đảng viên cách mạng.

Sau mấy câu chuyện, bà cụ khoe nhà mình có rượu ngon, mời hai người xơi để mừng việc bắt được một phạm nhân.

Hai người nhận lời.

Bà cụ vào trong bưng ra một vò rượu, rót mời hai người hai bát đầy. Hai bát rồi lại hai bát, hai người mềm môi uống mãi cho tới khi thật say, cùng tựa lưng vào nhà hàng ngủ gật.

Bấy giờ bà cụ mới lại gần người bị trói lúc đó đang cúi mặt xuống. Bà cụ khẽ gọi: “Anh Tư?” Anh Tư ngẩng đầu lên nhìn bà cụ và một vẻ mừng long lanh trên đôi mắt. Bà cụ cởi trói cho anh Tư bảo trốn đi. Anh Tư ngần ngại sợ liên lụy tới bà cụ.

Bà cụ bảo: “Anh phải trốn ngay đi còn mặc tôi. Anh nên nhớ bây giờ anh không phải là của anh mà là của Tổ

quốc. Anh phải tự bảo vệ lấy thân để sau này giúp ích cho Tổ quốc. Hai đứa kia, tôi đã cho thuốc mê vào rượu, chúng còn ngủ lâu”.

Vừa nói bà cụ vừa đẩy anh Tư ra khỏi cửa, dúi cho anh một món tiền nhỏ. Anh Tư nhận tiền vội vã ra đi.

Bà cụ lại vào ăn nốt bữa cơm, mặc cho hai người khách kia tựa cột mà ngủ.

Vừa ăn bà cụ vừa bảo thằng cháu:

- Thiện ạ, đấy là anh Tư người làng ta đấy: không hiểu anh ta đến Ngư Đại làm gì để đến nỗi phải bắt như vậy. Ấy người 64

làng Cầu Vòng, phủ Yên Thế ta, theo gương cụ Đề Thám ngày trước cả làng đều ghét Tây và thi nhau làm Cách mạng.

Ông Khóa mày ngày xưa cũng đi theo cụ Đề Thám nên bị Tây giết. Rồi đến bố mày cũng đi theo các ông ấy mất tích không dám về. Bà cháu ta bây giờ bán hàng ở đây, gặp được dịp giúp ai cứ giúp. Hai thằng kia lát nữa nó thức dậy, bà sẽ liệu.

Một lát sau, khi hai người thức dậy thấy phạm nhân trốn thoát hỏi, bà cụ đáp:

- Tôi biết đâu với các ông đấy. Trong khi các ông uống rượu tôi vào ăn cơm rồi xuống bếp rửa bát. Ở ngoài này chắc các ông tha nhau rồi định đổ lỗi cho tôi sao?

Hai người không biết nói làm sao, đành phải trình Huyện, viên tri huyện đòi bà cụ hỏi, bà cụ cũng trả lời như trên.

Sau mấy lần đôi hỏi, câu chuyện cũng xong, và bà cụ vẫn giữ ngôi hàng nước ở Suối Hoa như cũ.

CÔ GÁI NON THIỀN

Cô Như là con gái cụ đồ Hà, người làng Thị Cầu, huyện Võ Giang, tỉnh Bắc Ninh.

Làng Thị Cầu ở chân núi Thiềm là một ngọn núi đứng sừng sững bao trùm lên ba làng: Thanh Sơn, Phương Vĩ và Thị Cầu.

Cụ đồ Hà vốn là dòng dõi thế gia. Tổ tiên xưa đều theo đạo trung tín của Thánh Hiền.

Vốn là một nhà nho học, cụ đồ Hà lấy nghĩa nước làm nặng, nên khi thấy quân Pháp xâm lăng nước ta, dòng máu ái quốc đã sôi trong huyết quản, cụ vẫn lăm le chờ cơ hội phất cờ Cần Vương để đem tấm thân bẩy thước đền đáp non sông. Nhưng than ôi? Việc thì lớn, vận nước đang cơn bĩ, bao nhiêu mưu đồ của các nhà ái quốc đều thất bại nên cụ

đồ đành ôm hận trông ngày tháng lần qua.

Rồi năm 1908, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục làm sôi nổi đất Bắc, bao nhiêu tài năng của núi sông hun đúc, bao nhiêu bậc lão thành cũng như bao nhiêu thanh niên trai tráng có tâm huyết đều hưởng ứng gia nhập phong trào này, người học cao thì làm giảng viên ở trường học đặt tại phố

hàng Quạt; người học ít thì đi liên lạc khắp mọi nơi để gây 66

những cơ sở chống Pháp đợi ngày toàn diện khởi nghĩa. Ở

khắp các tỉnh, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục đều được nhiều người hưởng ứng.

Cụ đồ Hà cũng gia nhập phong trào này ở Bắc Ninh. Ngoài nhiệm vụ làm bành trướng phong trào ở tỉnh nhà, cụ lại có nhiệm vụ gây phong trào ở Bắc Giang.

Cụ đã làm tròn nhiệm vụ của mình, cụ đã gây được trong quần chúng phong trào đoàn kết để tạo một sức mạnh chờ

ngày quật khởi.

Nhưng mưu sự tại người, thành sự một phần lớn không tại người. Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục bị bại lộ rồi tan vỡ. Các nhà lãnh tụ như cụ Hoàng Tăng Bí, cụ Lê Đại v.v...

bị bắt và bị đầy ra Côn Đảo.

Ở các tỉnh, phong trào đang lên cũng bị chặn đứng lại rồi dần dần cũng bị tiêu hao để đi đến chỗ không còn nữa.

Trước sự tan rã của công cuộc, cụ đồ Hà không nản chí, cụ

vẫn bền gan cố duy trì phong trào cách mệnh ở hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Việc làm trở nên khó khăn vô cùng, một phần vì các nhà cầm quyền Pháp tăng cường sự canh phòng khám xét, một phần vì bọn chó săn muốn tâng công với bọn quan thầy áo ngắn, thường báo bắt hết các đảng viên của cụ đồ.

Khó khăn nhất là sự liên lạc giữa cụ đồ và các tổ chức cách mệnh trong hai tỉnh Bắc.

Năm ấy cô Như 18 tuổi. Với mái tóc mây, với đôi má ửng hồng, với cặp mắt sáng trong, với đôi môi tươi thắm, với hàm răng đen nhức như hạt na già, cô thật là một hoa khôi ở

vùng núi Thiềm. Thường đi theo cụ Đồ bà đi chợ, cô vẫn bị

con trai làng trên xã dưới trêu ghẹo. Cụ đồ bà ngắm con gái mơn mởn đào tơ cũng mừng và chờ đợi một giai tế giương cung bắn sẻ. Cô Như, trước mọi sự trêu cợt của trai làng và 67

trai thiên hạ cũng tự biết là mình xinh đẹp. Cô đặt bao nhiêu hy vọng vào tương lai và cô xây biết bao nhiêu mộng đẹp với tuổi xuân.

Một hôm bà đồ và cô đi chợ vừa về thì cụ Đồ ông cho gọi cô lên, cụ bảo:

- Thầy có hai lá thư muốn sai con mang tới ông Khóa ở

Tam Sơn và ông Tú ở Hoàng Mai, không biết con có chịu đi không. Việc này nguy hiểm lắm, lính nó bắt được con sẽ

bị tù và thầy cũng bị bắt. Vậy con liệu có đi xong việc được cho thầy không?

Nghe cha nói cô Như tần ngần giây lát. Tuy là gái nhưng cô đã được cụ Đồ dạy cho biết Tứ Thư, Ngũ Kinh, nên nghe qua lời cụ đồ nói, cô đã hiểu hai lá thư đó can hệ đến mức nào và bổn phận của cô trong việc này. Cô chưa kịp trả lời, cụ Đồ lại nói:

- Đây là việc nước. Thầy tiếc không có con trai lớn để trao phó cho nó, thầy mong rằng con sẽ làm việc này như một đứa con trai.

Cô Như sau giây lát tần ngần đáp, giọng cương quyết:

“Thưa thầy việc thầy đã sai, con đâu có từ nan, việc dù khó con cũng xin làm xong.

Con sẽ tỏ ra xứng đáng là con của thầy”.

Cụ đồ Hà mừng lắm, giao hai phong thư cho cô Như. Cô nhận thư, leo qua núi Thiềm đi về mạn Thanh Sơn để ra Tam Sơn, thuộc huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh.

Rồi cô lại về qua núi Thiềm, theo lối Đạo Chân để sang sông rồi ngược lên làng Hoàng Mai, huyện Viết Yên, tỉnh Bắc Giang.

Song, việc làm của cụ Hà có kín được mãi đâu.

Trong làng Thị Cầu có tên Cai Mân, trước làm cai lính tập 68

cho Pháp, mong manh biết tin cụ đồ hoạt động Cách mệnh muốn tâng công với quan thầy, đã đi báo Tây về khám nhà và bắt cụ đồ.

Cụ đồ Hà bị bắt dẫn đi và không về nữa.

Thương mẹ, cô Như thường khuyên:

“Thôi đẻ đừng buồn! Thầy con vì nước mà bị bắt, đẻ nên lấy làm vinh hạnh! Con chắc thầy con dù sao cũng vui lòng”.

Cụ đồ bà nghe nói gạt nước mắt, không đáp.

Và từ đấy cụ cố công tần tảo để nuôi mấy con thơ.

Cô Như cũng vất vả giúp mẹ chợ búa, làm hàng sáo kiếm thêm tiền nuôi em.

Ngay sau khi cụ đồ Hà bị bắt, tên cai Mân được người Pháp tin dùng. Sau đó tên này lại dắt người Pháp về để chiếm cứ

núi Thiềm, lập đồn điền. Dân ba làng Thị Cầu, Phương Vĩ

và Thanh Sơn mất nơi kiếm củi đốn cây và mất con đưòng tắt qua từ làng này sang làng khác.

Nhà cai Mân càng ngày càng giầu, dư thóc lúa để bán cho dân hàng sáo trong làng.

Mỗi lần trông thấy cai Mân, cô Như lại nhớ đến cha và trong lòng cô nung nấu một mối thù.

Một buổi sáng, cô Như vào nhà cai Mân để đong thóc như

thường lệ. Cai Mân đang nhấm nháp chén trà liên tử, thấy cô Như với cái nhan sắc kiều diễm, cai Mân bỗng động lòng và thả giọng lả lơi:

- Mời cô vào đây uống chén nước trà đã. Trà liên tử ngon lắm. Uống trà rồi đong thóc cũng vừa!

Cô Như làm bộ khép nép, nhưng cô cũng uống nước trà và bắt chuyện với Cai Mân.

Hai hôm sau dân làng Phương Vĩ đi chợ sớm qua chân núi Thiềm về địa phận Thị Cầu thấy cai Mân nằm chết bên một 69

gốc cây, bị một nhát dao đâm thấu phổi, máu me chảy đầm đìa đã bắt đầu se tím lại.

Cũng chiều hôm ấy, có người bắt gặp cô Như mang quần áo đi giặt ở ao làng. Trong số quần áo, chiếc áo cánh nâu hình như rớm máu.