Tiết Tháo Một ThờiPart 4

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Dù sao thấy cai Mân bị giết, dân làng Thị Cầu cũng mừng.

Họ không ưa gì tên chó săn hèn hạ ấy.

Cô Như nay đã là một bà cụ già ngoài lục tuần vẫn còn sống. Thỉnh thoảng trong các truyện cổ tích kể cho các cháu nghe bà cụ có kể đến truyện cô gái Non Thiềm đã giết kẻ

thù báo oán cho cha.

TỰA GỐI ÔM CẦN

Truyền ngữ Việt Nam có câu:

“Bé đi câu, lớn đi hầu, già làm khách nợ”

Theo câu truyền ngữ trên thì “đi câu” chẳng phải là một nghề đáng khinh lắm ru! Sự thật đâu có thế! Thành kiến đặt nghề đi câu ngang với hai nghề “đi hầu” và “làm khách nợ”

là một thành kiến sai lầm. Nếu hai nghề “đi câu” và “làm khách nợ” đúng là những nghề của kẻ vô liêm sỉ, chỉ biết lấy đồng tiền làm trọng, không hiểu đến nhân cách là gì, thì trái lại đi câu đã là một thú tiêu khiển của biết bao mặc khách tao nhân cũng như của biết bao nhà ẩn sĩ đợi thời.

Nói đến đi câu ta phải nhớ đến Khương Tử Nha, người đời vẫn gọi là “ông Lã Vọng”, bậc huân quốc công thần đã xây dựng nghiệp lớn cho nhà Chu, đã giúp vua Võ Vương hội họp tám trăm trấn chư hầu lật đổ chế độ tàn bạo của Trụ

Vương nhà Thương. Sự nghiệp anh hùng của vị Thượng Phụ

nhà Chu phải kể như bắt đầu ở dòng sông Vị, đất Bàn Khê của Tây Kỳ vậy!

Ai dám bảo đi câu là hèn hạ? Không! Đi câu cao quý lắm chứ. Bên dòng sông mát rượi, bờ cỏ xanh rì, dưới bóng rợp 71

một góc cây, người ngồi câu ngoài thú được ngắm nhìn trời, yên tĩnh bên ngoài cũng như yên tĩnh bên trong, lại thỉnh thoảng được cái thú chăm chú nhìn chiếc phao dập dềnh trên mặt nước, rồi bỗng nhiên chiếc phao chìm hẳn. Người ngồi câu, nhẹ giật cần câu lên là ở đầu lưỡi câu đã có một chú cá xinh xinh trắng bạc đang cựa quậy tìm lối thoát thân.

Chim tham ăn sa vào vòng lưới

Cá tham mồi mắc phải lưỡi câu

Đã mắc phải lưỡi câu còn mong gì thoát nạn nữa.

Người đi câu hạ cần, lần tay theo sợi dây, túm lấy đầu con cá, gỡ cá ra khỏi lưỡi câu, và từ từ bỏ nhẹ vào giỏ cá ngâm dưới nước để chờ lúc đầy giỏ mới mang về.

Cụ Ngân làng Xuân Mỹ cũng ưa thú đi câu, nhưng có lẽ

không phải vì cụ thích được cá, mà đúng ra chỉ vì đi câu, cụ

cho là một thú tao nhã, khả dĩ giúp cụ quên được nỗi bực dọc do thế sự gây nên.

Vốn dòng nho gia cụ đã thông suốt Tứ Thư, Ngũ Kinh, cụ

hiểu đạo Thánh Hiền, biết lẽ trung hiếu tiết nghĩa.

Cũng như bao người khác, bình sinh cụ hoài vọng một ngày danh chiếm bảng vàng, đem tài thông kinh sử giúp vua trị

nước, trước là thỏa lòng trung sau là được thi thố tài năng để

làm vẻ vang cho dòng họ; nhưng vận nước éo le, quân Tây kéo sang chiếm đất cướp thành, cụ giận mình không đủ tài, đủ trí để giết giặc lập công, cụ đành ẩn dật ở quê nhà, tháng ngày bạn cùng cây cỏ, lấy sách đèn tiêu khiển và đi câu là một thú thanh tao.

Người đời không hiểu cho cụ là thiển cận. Có tài học, tại sao không đem tài ra để giật lấy cân đai bố tử, lại chịu ăn cơm nhạt, sống lần hồi ở quê nhà. Hoài bão của cụ đâu phải chỉ có thế! Cân đai bố tử để làm đầy tớ cho bọn quan thầy áo ngắn, đấy đâu có phải là điều phỉ chí của đấng nam nhi!

Tấm thân bẩy thước phải lo điều ích quốc lợi dân, mà nếu không làm nổi đại sự thì đành ôm hận nuốt sầu, có đời nào lại đem tiết tháo bán rẻ lấy vinh thân phì gia: Chỉ những kẻ tiểu nhân, chỉ những bọn giá áo túi cơm mới làm điều vô sỉ ấy.

Đối với những kẻ chê cụ sao lại đi câu lại chôn vùi chí khí, cụ hằng nói: “Tôi đi câu đây cũng như Khương Thượng câu ở

sông Vị Thủy, tôi đi câu để nghiền ngẫm về thế sự, để ngắm cuộc đời đổi thay, để xem đám thiêu thân lao mình vào đống lửa, cũng như để hiểu đàn cá ham mồi mắc phải lưỡi câu!”

Cụ nói vậy thì nói, chứ thật ra, cụ có câu được cá bao giờ

đâu. Lưỡi câu cụ cũng giống như lưỡi câu của Tử Nha đời nhà Chu, nghĩa là không có móc và cũng không có ngạnh để

cho cá mắc mồi. Mồi cụ mắc vào lưỡi câu bao nhiêu là cá ăn hết bấy nhiêu.

Mấy ông bạn già của cụ thường bảo cụ:

- Cụ đi câu như vậy chỉ làm hư cá thôi. Cá chúng nó được ăn, quen mùi thấy mùi bén mãi, rồi sau đây có người nào câu thật chúng sẽ mắc mồi rất nhiều!

Câu nói trên chừng như hợp ý cụ lắm nên cụ cười ha hả đáp:

- Thì chính vậy, cái giống cá tham mồi cho chúng nó chết.

Nay chúng nó ăn của tôi một mồi, mai chúng nó ăn của tôi một mồi, dần dà chúng quen mồi rồi tôi mới câu bằng lưỡi câu thật. Lúc ấy chúng nó chạy đâu cho thoát.

Nói đến đấy bao giờ cụ cũng nghiêm sắc mặt nói tiếp:

- Có gì khác ngày nay, bao nhiêu người Việt Nam ta mù quáng theo bọn Tây áo ngắn, chúng thí cho chút đỉnh quyền lợi nhỏ, để một ngày kia chúng giật mạnh lưỡi câu thì cả

nước Việt Nam chúng ta chỉ có đi làm nô lệ mà thôi. Tôi và các cụ, chúng ta đã đọc sách Thánh Hiền, chúng ta đã hiểu thế nào là lẽ tiến thoái, nếu chúng ta chưa đánh nổi bọn giặc Pháp, tạm thời ít nhất chúng ta phải cho người khác rõ thế

nào là người Pháp đã buông câu dân Việt chúng ta.

Các cụ đồng ý với nhau, và câu chuyện tâm sự các cụ chỉ

bộc lộ cùng nhau. Các cụ thở dài thấy nhiều người chen chúc đi theo bả vinh hoa để phụng sự cho ngoại tộc.

Đi câu, ngoài cái thú tựa gối ôm cần, cụ Ngân đã tìm thấy cái triết lý của ngư phủ trong một nước đang loạn lạc, mà chính ngư phủ đó không đủ tài ba để an bang tế thế.

Nhiều khi cụ Ngân mang rượu tới bờ sông, cùng mấy ông bạn già vừa câu cá vừa thưởng thức men nồng để quên sự thế!

Ôi thời thế tạo anh hùng hay anh hùng tạo thời thế! Người có tâm huyết với tương lai đất nước, phải chịu vô kế khả thi trước sức mạnh của giặc ngoài, đành phải ẩn thân để răn dạy người đời chớ quên mình là người dân của nước Việt, chớ

để mình là con cá ham mồi, âu cũng giải bớt được phần nào nỗi hoài mong của chí khí.

Ô KÉO DAO CẦU

Xử thế có lúc biến, có lúc thường. Cơn biến phải sống theo lẽ biến, và cơn thường lại sống đúng lẽ thường. Cụ Nguyễn Du đã có câu:

Có khi biến, có khi thường,

Tòng quyền nào phải một đường chấp kinh

Ông lang Ngọc đã hiểu rõ lẽ kinh quyền khi ông bỏ nghiệp văn chương để đi sâu vào nghề làm thuốc. Vốn dòng nho gia, ông cũng như trăm nghìn người khác đi theo cửa Khổng sân Trình, mong một ngày vinh quy bái tổ để làm rạng rỡ tổ

tông, nhưng nào ngờ thời thế đổi thay, nước nhà đang độc lập bỗng bị bọn giặc Pháp xâm lăng. Chiếu Cần Vương của Hoàng đế Hàm Nghi ban ra, biết bao nhiêu con dân đã bỏ

nghiệp riêng để theo đền nợ nước. Ông lang Ngọc đang sửa soạn thi hương, cũng xếp bút nghiên theo các anh em đồng học, rời làng Xuân Mỹ, vào vùng Thanh Nghệ để nhập với nghĩa quân, mong được da ngựa bọc thây, đem tấm thân bẩy thước đền đáp non sông.

Đối với nạn nước, lòng người dân đâu có thờ ơ. Hàng muôn ngàn người đáp lại tờ chiếu Cần Vương đã cùng nhau 75

nổi dậy khắp nơi để chống lại người Pháp, nhưng sức người đã vậy, vận nước thời sao, nên mặc dầu sự cố gắng của bao nhiêu người dân Việt, nước Việt vẫn lâm vào vòng đô hộ

của người Pháp và các đạo quân Cần Vương đã lần lượt xếp cờ bỏ giáp cùng nhau giải tán để mong một cơ hội khác, các nhà ái quốc sẽ lại cùng nhau nổi dậy chống với ngoại tộc xâm lăng.

Vua Hàm Nghi bị bắt, ông lang Ngọc khi ấy đang ở trong đạo nghĩa quân vùng Nghệ An, được lệnh giải tán để chờ dịp.

Nợ núi sông đã không được đền đáp, bây giờ còn theo đuổi cái khoa cử làm chi, nếu không để sau này ra làm quan hầu hạ cho lũ ngoại nhân. Bởi vậy nên ông lang Ngọc quả quyết theo nghề thuốc, không ham chi bả vinh hoa, nó trói buộc con người làm thân trâu ngựa.

Đàng nào cũng là giúp dân, giúp nước. Thôi không đủ tài lấp biển vá trời, ông lang Ngọc đành lấy nghề thuốc để an ủi mình và để cứu người giúp đồng bào vậy.

Quyết tâm theo nghề thuốc nên ông học thuốc rất chuyên cần, rất ham mê. Ông hiểu thấu đạo đức của nghề thuốc, và ông cố đi sâu vào nghề để trở nên một danh y, dù không được như Biển Thước, Hoa Đà, nhưng cũng biết rõ nguyên tắc khí hóa, biết tường tận về mạch học cũng như về mọi điều cần thiết của đông y.

Ông thường nói chuyện với các bạn hữu về nghề thuốc:

- Bắt mạch biết được bệnh, đó là điểm sơ đẳng người làm thuốc phải biết. Người làm thuốc có tài chỉ cần trông khí sắc đã biết người có bệnh, và chỉ cần trông khí sắc đã có thể kê đơn cất thuốc đúng căn bệnh được.

Câu chuyện Tần Hoãn thời chiến quốc xem bệnh cho Tề

Hoàn Công thường được ông luôn luôn nhắc tới để nêu cao giá trị của người chữa bệnh.

Nguyên Tần Hoãn đời nhà Chu chữa bệnh rất có tài, được 76

người đời ví ngang với Biển Thước là ông thánh trong nghề

thuốc sống về thời Hiên Viên Hoàng Đế. Tần Hoãn thường đi chu du thiên hạ để chữa bệnh cho mọi người. Tần Hoãn đến Lâm Tri có vào yết kiến Tề Hoàn Công. Sau khi ngắm khí sắc Hoàn Công, Tần Hoãn tâu:

- Chúa Công có bệnh ở thịt, nếu không chữa sẽ thành bệnh nặng.

Tề Hoàn Công nói:

- Ta chẳng có bệnh gì cả.

Tần Hoãn lui ra. Năm ngày sau, lại vào yết kiến Hoàn Công và nói:

- Bệnh của Chúa Công đã ở huyết mạch, cần phải chữa ngay!

Tề Hoàn Công cho là Tần Hoãn nói bậy, không tin, và cũng không nói gì.

Tần Hoãn lại lui ra và năm ngày sau lại tới. Lần này sau khi ngắm kỹ khí sắc của Hoàn Công, Tần Hoãn lại tâu:

- Bệnh Chúa Công đã ở ruột và dạ dày rồi, nên phải chữa ngay đi.

Tề Hoàn Công lại không nói gì. Tần Hoãn lui ra. Tề Hoàn Công bèn nói cùng quần thần:

- Tệ quá! Thầy thuốc chỉ nghề hay vẽ trò! Người ta không có bệnh cứ bảo là có bệnh.

Qua năm ngày nữa Tần Hoãn lại vào yết kiến vua Tề, nhưng lần này thoáng trông thấy nét mặt Tề Hoàn Công, Tần Hoãn đã vội vàng lui ra bỏ chạy. Hoàn Công sai người hỏi thì Tần Hoãn trả lời:

- Bây giờ bệnh Chúa Công đã vào tới xương tủy rồi. Bệnh ở da thịt còn xoa thuốc được, bệnh ở huyết mạch còn tiêm thuốc được, bệnh ở ruột và dạ dày còn uống thuốc được, nay bệnh đã vào tới xương tủy thì đến thánh cũng không chữa được nữa, bởi vậy tôi không nói mà lui ra.

Mấy ngày sau Hoàn Công quả nhiên ốm nặng, sai triệu 77

Tần Hoãn, Tần Hoãn đã rời khỏi Lâm Tri từ mấy ngày. Hoàn Công ốm ít lâu rồi mất.

Mỗi khi kể xong câu chuyện Tần Hoãn, ông thường kết luận: “Làm thuốc là một nghề cứu dân độ thế, phải dày công nghiên cứu mới đến được chỗ tinh vi. Kẻ làm thuốc tầm thường, nhiều khi chữa bệnh chỉ làm tăng bệnh. Người làm thuốc phải luôn luôn học hỏi, không bao giờ cho mình là biết hết được nghề mới mong không giết oan con bệnh bằng dao cầu và ô thuốc của mình”.

Đúng như lời ông nói, ông lang Ngọc luôn luôn sưu tầm về

thuốc, không bộ sách thuốc nào ông bỏ qua. Ông đã nghiên cứu hết những sách của Lãn Ông và ông cũng đã đọc nhiều sách khác của các danh y Hoa - Việt.

Đối với những con bệnh bao giờ ông cũng hết lòng săn sóc, dù con bệnh đó giàu hay nghèo. Ai có tiền thì ông lấy tiền, ai không có tiền thì ông chữa giúp, ông thường nói: “Đồng bào mình đang khổ sở vì ngoại tộc đè nén, mình có bổn phận làm nhẹ bớt một phần nào nỗi cơ cực ấy. Tôi muốn giúp đỡ

đồng bào rất nhiều, nhưng sức tôi có hạn, tôi đành mang nghề

nghiệp ra cứu giúp được người nào hay người ấy”.

Ngoài thì giờ chữa bệnh và nghiên cứu sách thuốc, ông lang Ngọc chỉ giao du với mấy cụ đồ, cụ tú trong làng là những người cũng như ông đang đau lòng về thời cuộc. Gặp các cụ, cùng nhau nói mấy câu tâm sự để hiểu nhau, đó là những giờ phút đáng quý nhất của các cụ. Các cụ không thể

một lúc đánh đuổi ngay được người Pháp, các cụ đành ôm ấp cái mộng một ngày kia gây được một phong trào, có một lực lượng để đương đầu cùng giặc. Giờ đây mặc cho ai cam tâm đi luồn giặc, các cụ phải giữ lấy tiết tháo của mình để

nêu gương cho con cháu.

30-11-1956

ÔNG TÔI

Ông tôi chết năm nay là 14 năm. Tôi nhớ lắm, năm đó là năm Quý Mùi, ngày mồng tám tháng mười một, một ngày lạnh của trời đông đất Bắc. Ông tôi mất giữa lúc chiến tranh Thế giới thứ hai đang bùng nổ, và ở Việt Nam người ta đã thấy ảnh hưởng của Nhật Bản nổi lên giữa sự đè nén độc địa của người Pháp.

Tuy đã 14 năm qua, nhưng tôi còn nhớ lắm, tôi có thể hình dung được lại hết mọi cảnh vật ở trong gian phòng ông tôi dưỡng bệnh cũng như bên ngoài gió bấc đang heo hút thổi.

Trong lời trối trăn của ông tôi, tôi nhớ nhất một câu ông tôi than tiếc. Lúc ấy ông tôi nói với tôi, vì cả nhà, ông tôi chỉ

cho tôi là người gần và hiểu ông tôi nhất.

Ông tôi bảo:

- Cháu ạ, ông chết đi, năm nay ngót bẩy chục tuổi, ông cũng không còn tiếc gì đời nữa. Ông chỉ hơi ân hận một nỗi là không được sống thêm mấy năm nữa để nhìn sự thống trị

của người Tây sụp đổ và để xem bọn chúng cuốn gói khỏi nước Việt Nam.

Bình sinh ông tôi ghét người Pháp lắm, và ông tôi ghét lây cả những người đi làm cho Pháp cũng như những người 79

cho con cháu đi học chữ Pháp. Ông tôi thường nói: “Chúng nó là quân cướp nước, mình phải thù giết chúng nó mới phải, có đâu lại đi hầu hạ chúng và cái chữ nghịch thiên của chúng làm gì? Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách!

Có lý nào nước mất nhà tan, lại cam tâm làm nô lệ cho kẻ thù và lại cam tâm học hành những điều vô nghĩa của chúng bao giờ”.

Ông tôi thường kể cho chúng tôi nghe câu chuyện người nước Trần không biết sỉ nhục, bị Đức Khổng Tử chê là thiếu cả trí trung dũng, coi cả nước như không có một người nào.

Nguyên nước Trần bị nước Sở đánh, phá tan mất cửa thành bên Tây, sau người Sở bắt dân nước Trần ra tu bổ cửa thành ấy.

Một hôm Đức Khổng Tử đi xe qua đấy, không cúi đầu vào miếng gỗ trước xe. Thầy Tử Cống liền hỏi:

- Cứ theo lễ đi xe qua chỗ ba người, phải xuống, qua chỗ

hai người, phải cúi đầu vào miếng gỗ trước xe để tỏ lòng kính trọng. Nay quan dân nước Trần sửa sang lại thành biết bao nhiêu là người, thế mà nhà thầy đi qua, không tỏ lòng kính trọng là cớ làm sao?

Đức Khổng Tử nói:

- Nước mất mà không biết là bất trí, biết mà không lo liệu là bất trung, lo liệu mà không liều chết là bất dũng. Số người nước Trần tuy đông, mà ba điều ấy không biết được một, thì bảo ta kính làm sao được.

Để kết luận câu chuyện bao giờ ông tôi cũng nói:

- Mình phải biết nước mình mất về tay người Pháp để khỏi mang tiếng là bất trí. Đã biết nước mất, mình cần phải lo liệu để một ngày mai mình lấy lại được, để trọn hai điều trung dũng. Cần nhất mình đừng để cho người Pháp họ khinh mình, họ coi mình như lũ man di mọi rợ. Nếu mình xô nhau đi hầu hạ họ, họ còn coi mình ra gì nữa. Phải cho họ hiểu là vì vận nước mình, họ mới chiếm nổi giang sơn của mình, nhưng dân 80

tộc Việt Nam là một dân tộc bất khuất, sớm muộn người Việt Nam cũng sẽ lại làm chủ non nước của mình.

Tôi không được ông tôi kể rõ cho nghe lúc thiếu thời của người ra sao, nhưng thường thường những khi các bạn già ở

những nơi xa xăm tới thăm, tôi thường thấy ông tôi cùng các cụ đó uống rượu và đàm luận rất lâu. Câu chuyện ít khi ra ngoài chuyện người Pháp đô hộ Việt Nam và những cố gắng của người Việt Nam để mong khôi phục lại nước non nhà.

Chuyện các ông Bang Tốn, Đề Thương, chuyện các cụ Phan Đình Phùng, Nguyễn Tri Phương, chuyện các ông Đề Thám, Tán Thuật cũng như chuyện các ông Tăng Bạt Hổ, Phan Chu Trinh đều được các cụ nhắc tới. Trong những cuộc đàm luận đó, ông tôi không cho người nhà được phép nghe lóng, ngoại trừ tôi phải đứng quạt rượu, không còn ai được bén mảng tới phòng rượu nữa. Ông tôi thường bảo người nhà hay bép xép không cho nghe chuyện quốc gia được.

Những ngày có các bạn hữu ở xa tới như vậy là ông tôi có vẻ hớn hở, sung sướng vì gặp các bạn tri kỷ. Khi các bạn của ông tôi ra về, người lại lủi thủi ít giao thiệp với người trong làng. Ông tôi vẫn cho phần đông người làng tôi mải miết về

công danh của người Pháp bày ra quá, chỉ tranh nhau chân lý trưởng, chỉ cốt cày cục chạy chọt lấy chân cửu phẩm hay bá hộ, chứ không có mấy người biết nghĩ đến cái hận vong quốc đang đè trĩu trên cổ toàn thể dân Việt.

Ngoài những thì giờ đọc sách, ngâm thơ, uống rượu và đàm luận với các bạn ở xa tới hoặc dạy chúng tôi học chữ

nào, ông tôi có hai cái thú khác người mà ông tôi mê mải: nặn đồ rau và vót đũa.

Quê tôi ở vùng trung du, đất đỏ nhiều. Ông tôi vẫn lấy đất đỏ để nặn những cỗ đồ rau rất đều đặn cỗ to có, cỗ nhỏ có.

Một cỗ đồ rau gồm ba ông. Những ông đồ rau này ông tôi nặn bằng đất nhão kỹ miết rất nhẵn, nên dùng rất bền. Ông 81

tôi nặn đồ rau sự thật để nhà dùng rất ít mà để cho thì nhiều.

Hình như để giải thích công việc của mình ông tôi vẫn nói:

“Đồ rau tượng trưng cho bếp, bếp là gốc của nhà, nhà là phần tử của nước. Muốn nước được duy trì, việc đầu tiên phải gây dựng lấy nhà. Đã nói đến nhà tức là nói đến bếp. Các thuật trị quốc bình thiên hạ của người xưa cũng không qua khỏi mức tiên dĩ tu thân tề gia vi trọng”.

Ông tôi nặn đồ rau rất tốn công, nhưng ai xin ông tôi lại rất dễ cho. Cũng như việc ông tôi vót đũa vậy. Nhà tôi có bụi tre hóp dùng để vót đũa rất tốt. Hằng năm, cứ mùa hanh tới, sắp sửa tết là ông tôi đẵn tre vót đũa. Đũa ông tôi vót cũng như đồ rau ông tôi nặn, không phải để dùng và để bán mà để cho, có điều hơi khác là cho đũa ông tôi chọn người.

Ông tôi bảo:

- Người dùng đũa phải biết trở đầu đũa mới là nguời biết nghĩ. Bọn người không biết trở đầu đũa, đáng cho chúng nó ăn bốc. Bọn không biết nghĩ đó, chúng còn hiểu gì là đại nghĩa nữa.

Có nhiều lần khi vót xong những bó đũa đều đặn, ông tôi thường bắt người nhà đi mấy quãng đồng để biếu một người bạn.

Năm ông tôi mất, trong nhà tôi còn mấy chục cỗ đầu rau và mấy nghìn đôi đũa, có nhiều người muốn xin, nhưng bà tôi bảo để làm kỷ niệm không chịu cho ai.

Những kỷ niệm đó, ngày nay với sự biến đổi của thời cuộc không còn nữa. Vả chăng sau khi ông tôi mất được ít lâu thì bà tôi cũng quy tiên.

6-12-56

VĂN THƠ GIỖ TỔ

Từ xưa ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch vẫn được dân ta coi là một ngày quốc lễ. Đấy là ngày giỗ tổ Hùng Vương mà phàm đã là người dân Việt không ai là không nhớ.

Hàng năm trong ngày này, tại đền thờ vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, rừng Hy Cương, thôn Cổ Tích, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ vẫn có Quốc lễ và triều đình qua các thời đại, vẫn cử đại diện tới để làm chủ tế.

Ngày Giỗ Tổ, đã từ mấy nghìn năm nay, được ghi trong tâm khảm của người dân Việt.

Sự ghi nhớ đó đã thể hiện trong văn thơ rất nhiều, kể từ

ca dao trở đi. Này đây một câu ca dao nhắc nhở chúng ta nguồn gốc từ đâu:

Cây có gốc mới nở ngành sinh ngọn,

Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.

Người ta nguồn gốc từ đâu?

Có tổ tiên trước rồi sau có mình.

Có tổ tiên tất phải có ngày Giỗ Tổ?

Cụ Chiêu Dương Nguyễn Các Phụng trong tập thơ Bút Linh Động xuất bản năm 1968 có bài Hát chầu Giỗ Tổ Hùng Vương: 83

Mưỡu:

Ấy ai khai sáng sơn hà,

Đất đai gấm vóc tinh hoa Lạc Hồng.

Bốn nghìn năm lẻ nối dòng,

Hùng Vương thủy tổ đức công cao dày.

Hát nói:

Văn Lang quốc hiệu,

Đô Phong Châu chẳng thiếu đấng lương thần

Đất phì nhiêu ba chục triệu dân,

Công khai sáng thâm ân bao xiết kể

Ẩm thủy tư nguyên tâm tự thệ,

Khai sơn điền hải chí lưu truyền.(1)

Trải bao phen xâm lược lộng quyền,

Thường xuất thánh sinh hiền ra kháng cự.

Phi thường tang hải phi thường sự

Xuất chúng anh hùng xuất chúng mưu.(2)

Diệt xâm lăng, phá cường tặc báo quốc cừu

Tài khôi phục thoát dần ưu nhi quốc thái.

Tiếng oanh liệt vang lừng thế giới

Cờ Việt Nam phất phới khắp nơi nơi

Giang sơn, tổ quốc đời đời!

Nhân ngày Giỗ Tổ năm Ất Mão (1914), sau khi đi thăm hội đền Hùng, cụ Vân Toàn Dương Tự Nhu đã kính cẩn tha thiết nhắc lại quang cảnh đền Hùng và ngày Giỗ Tổ bằng những vần thơ lục bát rất thanh tao:

1 Lòng tự nguyện uống nước nhớ nguồn; Chí nối truyền khai khẩn núi ruộng biển.

2 Dâu bể phi thường, có sự anh hùng phi thường; Anh hùng xuất chúng, có mưu xuất chúng.

Mồng mười ngày hội tháng Ba,

Hội là kỷ niệm vua cha nước nhà.

Sông kia một dải Hồng Hà,

Núi kia cao ngất gọi là Hùng san

Phong Châu nền cũ thác bàn,

Lạc Long cùng họ Hồng Bàng gây ra.

Hơn hai mươi triệu dân ta,

Bốn nghìn năm nước thực là bền lâu.

Nắng mưa trải biết bao thâu,

Nước non, non nước một màu thanh cao.

Đường đi tính chẳng là bao,

Tiên Cương ga ấy thẳng vào thong dong.

Hy Cương, Cổ Tích bên trong,

Đất này là đất vua Hùng ở đây!

Có làng, có miếu mới xây,

Có chùa, có tháp, có cây cổ tòng.

Có giếng đá, có nước trong,

Hai bà thần nữ linh lung vẫn còn.

Dấu thơm từ trước vẫn còn,

Tiên Rồng lại nở ra con Tiên Rồng.

Ai ơi tới hội mà trông!

Nơi tung diều sáo, nơi giồng đu tiên.

Nào cờ, nào trống, nào đèn,

Nào xe, nào ngựa như len chật đường.

Leo dây múa rối đủ phường

Đánh cờ treo giải lạ nhường vui thay!

Khen ai khéo mở hội này,

Phải chăng tỉnh hiến là người chủ trương?

Kìa hội nghị, nọ trình chương,

Công cao đức cả làm gương đó mà!

Muôn ngàn cháu chắt gần xa,

Rủ nhau thăm Tổ ngày là hôm nay.

Văn minh kết quả sau này,

Hỏi ai ăn quả nhớ cây ai giồng.

Sinh ra Nam quốc giống dòng,

Đọc Nam ca khúc để đồng bào nghe.

Đó là ngày hội đền Hùng tại xã Hy Cương hằng năm vào ngày Giỗ Tổ, dân chúng khắp nơi nô nức tới Yết Tổ để nhớ

ghi công đức của Người. Dù sao dời, vật đổi, lòng người nhớ

Tổ trăm nghìn năm vẫn không đổi không thay.

Đôi câu đối tại đền Hùng luôn luôn nhắc nhở tới điều đó: Vật đổi sao dời, phúc tổ vẫn lưu nền Cổ Tích, Nước nguồn cây cội, đạo người nên nhớ mộ Hùng Vương.

Đã nói đến câu đối ắt hẳn những người đã từng đi trẩy hội phải nhớ tới câu đối sau đây của cụ Nguyễn Kỳ Nam cung đề đền Thượng, tức là ngôi đền trên đỉnh núi:

Đồ vương tranh bá, thôi nói chi lịch đổi số trời, hỏi trước sau trên bốn nghìn năm, nước biếc non xanh, bờ cõi ai xây bờ cõi ấy,

Vấn tổ tầm tông, nay vẫn còn lăng xưa miếu cũ, kể nhiều ít hai mươi nhăm triệu, con đàn cháu đống, cỗi cành đâu chẳng cỗi cành đây.

Đền Thượng là một ngôi đền cổ làm đã lâu đời, năm 1914, có được sửa chữa lại trước ngày Giỗ Tổ, cụ Vân Toàn, tác giả bài thơ lục bát trên, cũng có một bài đường luật để ghi công đức của đức Tổ nhân dịp sửa chữa này.

Miền Tây cao ngất núi vua Hùng,

Đất ấy xưa là đất Lạc Long.

Mười tám đời vua gây mãi giống,

Bốn ngàn năm cháu chửa quên ông.

Xây lăng sửa miếu khen ai khéo,

Ăn quả trèo cây nhớ kẻ giồng.

Đất Tổ dấu thơm còn mãi đó,

Làm bia ghi tạc với non sông.

Sau cụ Vân Toàn Dương Tự Nhu, năm 1923, cụ cử Thái Phong Vũ Khắc Tiệp có lên viếng đền Hùng và cũng đã ghi lại cảnh đền trong NéT MựC GIANG Hồ:

Từng từng dạo bước lên non,

Nhìn xem miếu mạo nghiêm tôn khác thường,

Rằng đây là miếu Hùng Vương,

Ấy là thủy tổ Nam phương nước nhà.

Kể từ gây dựng sơn hà,

Đô là Bạch Hạc, nước là Văn Lang.

Nối truyền một mối Hồng Bàng,

Sử xanh ghi chép rõ ràng còn đây.

Bốn ngàn năm lẻ tới nay,

Con con cháu cháu mỗi ngày thêm đông.

Đều là khí huyết Lạc Long,

Khắp Trung Nam Bắc cùng chung máu đào.

Ngoài bài thơ tả cảnh đền Hùng trên, cụ Thái Phong còn có một bài thơ vịnh riêng về ngôi mộ vua Hùng, xây trên đỉnh núi, gần đền Thượng, không rõ đây là ngôi mộ của vua Hùng Vương thứ mấy:

Trong khoảng Thanh minh tiết tháng Ba,

Lên thăm mộ Tổ nước non nhà.

Bốn nghìn năm lẻ bao mưa gió,

Ba thước nền xưa rợp cỏ hoa.

Tản, Đảo đôi bên rồng hổ cuốn(1)

Lô, Thao phía trước đỏ xanh pha(2)

Nòi vàng con cháu ngày đông đúc

Được đất từ đây hẳn thế a?

Đã đi đến đền Hùng, đã thăm mộ vua Hùng, đã ngắm nhìn phong cảnh hùng vĩ của đền Hùng, đố một nhà thơ nào lại không gieo một vài vần thơ để ghi lấy cảnh đẹp; để nhớ ơn đức Tổ, để lòng thành kính đối với tiền nhân, hoặc để nói lên niềm uất hận khi đất nước thuộc ngoại bang.

Cụ Tuyết Huy Dương Bá Trạc cách đây gần năm chục năm, trong lúc nước nhà đang chịu ách thống trị của người Pháp, đã lên thăm đền Hùng và đã cảm khái thốt ra những câu thơ thật là bi tráng:

Đền Vua, lăng Tổ, đế đô xưa,

Lên núi lòng ai luống ngẩn ngơ!

Muôn dặm Thục đô, quyên khóc mãi!

Nghìn năm hoa biển, hạc về chưa?

Miếu cũ lăng xưa khí vẫn hùng,

Lô xanh Tản biếc diễn bao vòng.

Rặng non la liệt hằng con cháu,

Nguồn nước tuôn trào đức tổ tông.

Một dải giang sơn dầm máu cuốc

Muôn năm cơ nghiệp tủi nòi rồng.

1 Núi Tản Viên và núi Tam Đảo.

2 Sông Lô và sông Thao.

Quốc hồn vơ vẩn đi đâu tá,

Hỏi núi Hùng kia có biết không?

Cái cảnh nước mất nhà tan thật là đau đớn. Đã thế, người trong nước, những tên vô liêm sỉ lại đi theo ngoại tộc làm hại lẫn nhau, quên rằng mình chung nguồn gốc, chung đất nước, chung một ông Tổ, và mình là chung con cháu một nhà.

Cụ Phan Bội Châu trong bài Hải Ngoại Huyết Thư gửi cho đồng bào trước đây đã nhắc lại những điều đó, khuyên đồng bào phải thân ái đoàn kết, cùng nhau phấn đấu bảo vệ lấy đất nước cũ tổ tiên để lại:

Kể chuyện cũ ai làm nên nước

Giang sơn này khai thác từ xưa,

Công trình kể tự bao giờ

Nghìn năm quanh vẫn nước nhà tổ tông.

Ta là lũ cháu con một họ

Nước dân ta là của gia tài,

Chữ rằng: “Tổ nghiệp di lai”

Của ta, ta giữ chắc ai giữ cùng.

Có hợp lực cùng nhau để giữ gìn non nước, chúng ta mới xứng đáng là con Lạc, cháu Hồng.

Và đã là con Lạc, cháu Hồng, ta chớ quên ngày giỗ Tổ.

Nhớ đến giỗ Tổ, ta cầu khẩn Tổ phù hộ cho nước mạnh dân hùng, ngõ hầu dân tộc có thể chen vai thích cánh với năm châu. Chúng ta hãy nghe cụ Nguyễn Hữu Chiểu Khấn đền Hùng, nhân dịp đi lễ đền Hùng:

Đem tức tâm thành đến tận nơi,

Cúc cung xin khấn một đôi lời:

Dân hai mươi triệu còn ngây dại,

Nước bốn nghìn năm đã đổi dời.

Thuở trước tổ tông riêng đất cõi,

Ngày nay con cháu hổ tôi ngươi.

Chứng minh kia có mười phương phật,