CHƯƠNG II · XIPart 23

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Linh-xa ông đồ đã khiêng về tới nhà.

Hàng thôn, hàng giáp, dự cuộc đưa đám cũng lần lượt về dần.

Câu đối trướng lại được treo lên vách.

Bài-vị ông đồ được đặt lên bàn thờ đã kê sẵn từ trước dành để thờ ông cho đến ngày giỗ hết.

Những trai-tráng trong thôn, trong giáp đã phụ-trách trong công việc đưa đám ông đồ, sau một tuần nước cũng ra về.

Chấp-lệnh và đô-tùy khiêng đòn đã rở cỗ đòn đầu rồng cất vào nhà đòn hàng xã.

Đám táng hầu như đã xong.

Giờ đây, tại nhà đám, có lễ « tế ngu » tức là một cuộc tế để cầu nguyện cho linh-hồn người khuất được yên-nghỉ bình yên.

Lại tiếng kèn, tiếng trống, tiếng khóc của tang-gia.

Lễ tế ngu xong khách-khứa không còn ai, chỉ còn lại những người trong tang-quyến.

Nhà cửa như vắng-vẻ, mối đau buồn như muốn lan-tràn rộng hơn và ăn sâu vào tâm-hồn mỗi người.

Thỉnh-thoảng cũng còn một đôi người khách phương xa tới viếng, trống kèn lại rung lên và tiếng khóc lại rầu-rĩ kể-lể nỗi nhớ thương của những người còn sống.

Buổi chiều hôm đó, lúc bữa cơm, con cháu làm lễ dâng cơm lên hương-hồn ông đồ.

Bà đồ khóc-lóc sới cơm đặt lên bàn thờ chồng. Bà run-run vì đau đớn, bà tê-tái vì nhớ thương. Bữa dâng cơm này, bà đồ đã cho nấu nướng những món ăn khi sinh-thời ông đồ ưng-ý. Các con cháu vẫn khóc-lóc theo điệu trống kèn.

Và cả đám học-trò cũng lại có người có mặt để lễ thày. Bữa cơm chiều xong, Vinh, Khoan và mấy người nhà trở ra mộ ông đồ để ấp-mộ nghĩa là đem tình thân quyến lại cho ngôi mộ đỡ lạnh-lùng.

Việc ấp-mộ thực-hiện luôn trong ba ngày sau đám tang. Mỗi buổi sáng và mỗi buổi chiều con cháu ông đồ đều ra viếng mộ, thắp hương cắm lên mộ, và mỗi ngày đều cuốc đất chung-quanh đắp cho mộ thêm to.

Trong mọi đám tang thường thường sau lễ tế ngu, tang-chủ trả tiền cho phường kèn trống ra về, nhưng đám tang ông đồ là một đám long-trọng, nên ngoài lễ tế ngu, gọi là sơ-ngu còn lễ tái-ngu và lễ tam-ngu nữa.

Lễ tái-ngu cử hành ngày hôm sau, và lễ tam-ngu cử hành ngày thứ ba sau ngày đưa đám.

Trong những cuộc tế sơ-ngu, tái-ngu và tam-ngu, ngoài tang gia, học-trò ông đồ cũng có mặt đông lắm.

Luôn trong ba ngày, mỗi khi tới giờ cơm, bữa sáng cũng như bữa chiều lại có lễ dâng cơm.

Và chiều ngày thứ ba, sau bữa dâng cơm cuối cùng Vinh, Khoan, Mẫn và một số các người nhà cũng ra mộ để ấp-mộ lần chót.

Hôm nay, mộ được đắp kỹ-lưỡng lắm, vì từ đây chỉ tới những ngày mồng một hoặc ngày rằm người nhà mới lại đi thăm mộ.

Tang-lễ được kể như chấm dứt.

Sáng ngày thứ tư cảnh nhà ông đồ thật là buồn vắng. Trên bàn thờ mùi hương như nhắc nhở lại mọi hình ảnh cuộc sống đã qua của ông đồ. Hương hồn ông như hình phảng-phất đâu đây.

Người sống còn luyến thương người chết, tất nhiên người chết dù có qua cõi Phật cũng không mỗi lúc hết ngay sự quyến-luyến với người thân.

Bà đồ buồn-bã ít nói. Ngày ngày thắp hương ở bàn thờ nhìn lên tấm ảnh thô-sơ của chồng bà lại òa khóc.

Ôi ! mấy chục năm chung sống, giờ đây chỉ là dĩ-vãng. Ngọn gió hiu-hiu lung-lay khói hương đang bốc tỏa. Mùi hương ngào-ngạt, ngọn nến trên bàn thờ le-lói. Phải chăng hương-hồn ông vẫn về để nhận cơm canh vợ con thường dâng ! Phải chăng hương-hồn ông đồ chưa thể lìa khỏi nhà mình vì tình quấn-quít với vợ con. Cảnh nhà càng hiu-quạnh. Bà đồ càng buồn. Lắm lúc nhìn Mẫn bâng-khuâng ngó lên bức ảnh cha trên bàn thờ, lòng bà đồ

càng se lại. Mẫn còn thơ dại lắm, đã biết chi đâu, ấy thế mà đã mồ côi, tang tóc.

Nghĩ lại lúc ông đồ lâm-chung, nghĩ lại những lời trối-trăng của chồng, bà đồ không thể cầm được giọt lệ. Chết đi ông đồ vẫn như chưa yên-tâm vì

đứa con thơ. Ông đã căn-dặn mọi người phải săn-sóc Mẫn. Ông đã giao phó cho Khoan nhiệm-vụ dạy bảo Mẫn học-hành.

Nghĩ tới Khoan bà lại liên-tưởng nghĩ tới Tiệp, Tiệp thật là ngoan-ngoãn. Trông nét mặt thật là hiền-hậu, vậy mà cũng chẳng gặp may-mắn gì.

Cả đời chỉ có một việc vui-mừng trọng đại nhất là lấy chồng thì nàng lại cưới chạy tang. Chẳng hiểu sau này, đời nàng có được sung-sướng không, hay đã không may trong việc cưới, nàng sẽ gặp nhiều không may khác trong tương-lai.

Ngày hai buổi bà đồ thắp hương khấn chồng. Bà không quên những sở-thích thường ngày của ông, nên trong những buổi thắp hương bà vẫn dâng cúng ông những món ăn xưa ông ưa-thích, bà vẫn pha thứ trà xưa ông hay dùng.

Sống ở trong nhà vợ hầu con hạ, nay thác đi trên nấm mộ lạnh-lùng ngoài nghĩa-địa ai là người săn-sóc cho ông. Thật là cô-quạnh, thật là lạnh-lẽo ! Bà đồ lại càng buồn.

Vinh thấy mẹ buồn thường khuyên giải. Nghĩa tử sinh sống gửi thác về, ai không phải chết. Mặc những lời khuyên-giải bà đồ quên làm sao được những ngày chung sống với chồng.

Cũng có hôm Tiệp thắp hương khấn cha thay mẹ và anh. Nàng cũng nhìn ảnh cha, nàng cũng đau-đớn nhưng nhờ mối duyên mới, nỗi đau khổ

cũng đỡ được phần nào.

Từ ngày ông đồ chết, Tiệp vẫn đi về đằng nhà chồng hoặc ở nhà mình.

Thực ra bà đồ cũng muốn Tiệp thỉnh thoảng lui tới nhà mình cho đỡ

hiu-quạnh, nhưng bà vẫn luôn nhắc Tiệp phải về nhà chồng để cho tròn bổn-phận nàng dâu.

Tiệp về nhà chồng thấy lạ-lùng bỡ-ngỡ nhất là những lúc Khoan đi vắng. Ở đây nếp sống khác hẳn ở nhà nàng, nhưng nàng bao giờ cũng tỏ ra khéo-léo đối với bố mẹ chồng cũng như đối với Khoan.

Thường khi nàng nói chuyện với bà đồ, bà đồ vẫn dạy bảo nàng mọi cách ăn ở đối xử với nhà chồng cho phải đạo và đúng theo nền nếp của con nhà có giáo dục.

Học-trò của ông đồ nghỉ học trong ít lâu thì Khoan lại tuân di mệnh ông đồ tiếp-tục việc dạy bảo các đàn em.

Học lực của Khoan đã cao, nên chỉ có mấy anh học-trò lớn như Đáp mới nghỉ học, còn phần đông các trò bé khác vẫn đi học đông như cũ.

Khoan vẫn dạy học ở gian phòng học trước, và vẫn với những sách của ông đồ để lại.

Mỗi lần lui tới nhà học, Khoan lại nhớ tới cha vợ, với nét mặt nghiêm khắc nhưng đầy phúc-đức. Khoan không bao giờ quên được lòng thương của ông đồ đối với mình, và chính cũng vì lòng thương ấy mà mối lương-duyên giữa chàng và Tiệp thành-tựu. Chàng nguyện sẽ ăn-ở sao cho xứng-đáng với đạo-đức của ông đồ cũng như xứng-đáng với sự tác-thành của ông.

Đối với Mẫn, Khoan đặc biệt săn-sóc, theo rõi cho Mẫn học.

Nhờ lớp học, ban ngày bà đồ cũng thấy nhà đỡ vắng-vẻ, và thỉnh-thoảng bà cũng ngó qua lớp học để nhìn thấy gương mặt sáng-sủa của các trò nhỏ như muốn nhớ lại dĩ-vãng thời xa xưa khi bà cũng còn là cô đồ như

Tiệp ngày nay.

Và Tiệp những khi trở lại nhà mình cũng thỉnh-thoảng ghé vào lớp học.

Vẫn những « chi hồ dã giả », vẫn những giọng ê-a như ngày xưa, chỉ

khác ngày nay ông đồ không còn đây, và trên chiếc sập gụ của ông đồ ấy là Khoan.

Khoan cũng áo the khăn lượt, cũng vẻ mặt nghiêm-trang như cha vợ

xưa. Ngày ngày chàng dạy bảo lũ trò nhỏ, và không bao giờ chàng quên trau-dồi học-thức riêng cho mình.

Khoan nghĩ tới ngày « vãng anh đi trước, vãng nàng đi sau ».