CHƯƠNG II · VIIPart 19
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Suốt từ trong nhà tới rạp dựng ngoài sân, hai bên tường treo la liệt những câu đối, những bức trướng của con cháu trong nhà, của bạn-bè thân-thuộc và của học-trò kính viếng ông đồ.
Câu đối của con cháu trong nhà viết bằng chữ đen trên vải trắng, còn những bức trướng và câu đối của bạn-bè thân-thuộc và học-trò đều bằng vải màu xanh, vàng, trắng hoặc đen có thêu hay dán chữ. Chung quanh lại có
viền chỉ màu sặc-sỡ và có thêu những cảnh Bát-tiên quá hải, hoặc sơn thủy để tăng vẻ thẩm-mỹ cho đối-trướng.
Người đến viếng ông đồ đông lắm, người trong làng, người hàng tổng và cả bạn-bè các tỉnh xa nữa.
Tin ông đồ chết được loan đi, học-trò cũ của ông kẻ xa người gần đều về viếng lễ thày, chỉ những người nào thật mắc bận, không thể về được mới phải chịu. Thày học cũng như cha. Đạo thày trò nghĩa trọng, về viếng tang thày cũng là một cách để tỏ lòng kính mến và biết ơn.
Trong nhà đám đông những người. Tiếng nói ồn-ào. Khách tới viếng cùng nhắc lại những tính hay điều tốt lúc sinh thời của ông đồ.
Con cháu trong nhà chạy tíu-tít để pha trà, bưng trầu và cơm rượu.
Những mâm rượu đặt ngay ở hai bên áo quan, ở ngoài rạp, ở cả những căn nhà ngang, và ngay cả nhà học.
Mỗi lần có khách tới viếng, phường kèn trống lại nổi lên một điệu kèn trống thờ nghe buồn và kéo dài tiếng ngân áo-não.
Cùng với tiếng kèn trống, tiếng khóc của người nhà cũng vang lên, rền-rỉ đau-thương.
Kèn không thể thổi suốt đám tang, cũng như con cháu không thể khóc suốt ngày, chỉ lúc nào có khách viếng kèn mới lại nổi lên, và con cháu mới luân-phiên nhau khóc theo nhịp kèn thờ. Tuy vậy, có người gào khóc nhiều đã khan tiếng, và đôi mắt đỏ mọng sưng húp.
Đám thợ kèn thợ trống ngồi ở một góc nhà, trông ngay ra trước linh-sàng. Có khách tới viếng họ thấy ngay. Trống rung lên, và tiếng kèn cũng bắt đầu.
Nghe tiếng trống rung kèn thổi, con cháu dù đang ăn uống hoặc tiếp một bọn khách khác cũng phải cắt người ra để khóc theo tiếng kèn, và cử
người đứng đáp lễ.
Tục lệ như vậy, có người viếng phải có tiếng khóc. Bởi thế nên nhiều đám tang, thiếu con cháu phải thuê người khóc mướn. Người khóc mướn chỉ
kêu gào kể-lể, và tiếng khóc chỉ có chiều dài, không có tình thương.
Người viếng sau khi trao lễ viếng, đứng lễ trước bàn thờ người chết.
Con cháu người chết phải đáp lễ. Khách viếng sau khi lễ người chết, được người sống đáp lễ, cũng phải quay về phía người đáp lễ vái lại.
Xác người chết còn nằm trong nhà, khách viếng chỉ phải lễ hai lễ và ba vái như khi lễ một người sống. Khi đã cất đám, khách đến viếng sau đám tang, lễ trước bài vị người chết bốn lễ ba vái, như trong một đám cúng hoặc đám giỗ.
Khách viếng thường mang theo đồ lễ, nhưng cũng có khách gửi đồ lễ
tới trước và tới viếng sau. Đồ lễ viếng gồm câu đối, trướng, trầu cau, trà nến, vàng hương, và ở nhà quê chỗ thân tình người ta thường dùng lễ viếng bằng cả cỗ xôi con gà hoặc cỗ xôi thủ lợn. Cũng có người viếng bằng tiền. Đây là một cách giúp đỡ tang-chủ, và cũng là một cách để dành, vì sau này nếu người đi viếng có việc hiếu hỷ, tang chủ lúc đó sẽ lại mang tiền tới chia vui hoặc chia buồn.
Bà đồ, vợ chồng Vinh và Tiệp thật vất vả. Nào tiếp khách, nào lo cỗ
bàn mời khách, nào lo việc khóc mỗi khi có trống kèn nổi lên.
Đáp lễ khách thường là Vinh, nhưng nhiều lúc Vinh mệt quá. Khoan phải đứng lễ thay anh vợ. Mẫn tuy bé cũng phải đứng đáp lễ. Đôi khi, có những học-trò của ông đồ đã làm nên cũng mặc tang-phục, quần áo trắng, khăn trắng đứng đáp lễ những người tới viếng lễ thày.
Trên giường thờ khói hương nghi-ngút. Người nhà chạy đi chạy lại, xen lẫn vào trong đám khách viếng, mời khách trầu, nước và cơm rượu.
Ma chê cưới trách, người nhà đám phải luôn luôn săn sóc khách khứa để tránh mọi sự chê-bai.
Thỉnh-thoảng mệt mỏi quá, bà đồ, vợ Vinh và Tiệp lại chia nhau vào trong buồng nằm nghỉ.
Đã hơn một ngày nay, Tiệp mệt quá, không ăn cơm. Nàng chỉ ăn cháo.
Phần vì mỏi-mệt không muốn ăn, phần vì đau-đớn thương cha, ăn không
thấy ngon. Đôi mắt nàng mọng sưng. Trông nàng trong bộ sô gai thật đáng thương hại.
Khoan bảo nàng : « Em phải cố gắng ăn uống, kẻo nhịn ăn mệt-mỏi, ốm đau thêm khổ ! »
Tiệp nhìn Khoan âu-yếm. Lòng tràn ngập yêu đương, nàng thầm cám ơn Khoan. Phải chi ông đồ còn sống, những ngày mới cưới của nàng sẽ tươi đẹp, tưng-bừng bao nhiêu. Nỗi sung-sướng ngày nay không sao át nổi sự
đau đớn mất cha của nàng.
Nàng bảo Khoan : « Trong mình mệt em muốn ăn không được. Vả lại khách khứa luôn luôn, người ta tới lễ thày phải có người khóc ! »
Thật ra cả nhà đám ai cũng mệt-mỏi, nhưng bà đồ và Tiệp vất-vả hơn cả.
Khách viếng đông và tới luôn luôn. Rồi hàng ngõ, hàng xóm, hàng phe, hàng giáp đến, nhóm nào cũng muốn tế ông đồ một tuần rượu.
Lúc sinh thời, mỗi khi trong làng có đám tang, ông đồ vẫn là người viết câu đối giúp tang chủ, cho chữ những ai xin câu đối hoặc trướng đi viếng.
Cũng lại chính ông làm những bản văn-tế để dân làng tế người quá cố. Dân làng ai cũng kính mến ông. Nay ông mất, nghĩa tình lân-lý, tình hàng phe hàng giáp, tình thôn trên xã dưới, họ đều mong được tế ông một tuần gọi là tiễn đưa ông đồ về cõi Phật.
Lẽ ra, đám tang đã cử hành sớm, nhưng vì có nhiều cuộc tế-lễ, người nhà phải đình lại một ngày.
Một cuộc tế, người nhà lại phải khóc trả lễ, khóc vì nghi-lễ cũng có nhưng cũng khóc chính vì những lời thống-thiết chân-thành trong các bài văn-tế.
Và đám học-trò cũ của ông đồ đã làm nên, lại đám học-trò đang học, ai cũng muốn dâng hương hồn ông đồ một tuần hương để gọi là tỏ chút lòng biết ơn đối với thày học đã tác-thành cho mình.
Khách tới nhà đám sau khi lễ viếng, thường cùng nhau thưởng-thức bình phẩm những đôi câu đối viếng treo hai bên tường nhà hoặc hai bên vách rạp.
Những câu đối viếng ông đồ đều là những đôi câu đối hay rất nhiều ý nghĩa, của các tay đại-khoa có, danh-sĩ có và của cả những học-trò giỏi của ông đồ.
Và người ta cũng nhắc lại những câu trong văn-tế đã nêu lên bao nhiêu đức-tính của ông đồ, bao nhiêu sự giúp đỡ lân-bang làng xóm của ông, và tất cả những sự-nghiệp tiếng tăm ông đã có.
Các bà trong làng gặp bà đồ, thường an-ủi : « Ông đồ đã tới số về với các cụ, bà cũng chẳng nên quá ưu-sầu ».
Bà đồ cảm ơn họ, đôi giòng lệ tràn ra theo lời nói. Tình chồng vợ, kẻ
khuất, người còn nguôi sao được.
Cũng như khi ông đồ còn sống, ngày hai lần tới bữa có lễ cúng cơm.
Trong lúc lễ cử-hành, lại kèn trống, lại tiếng khóc. Chủ lễ là Vinh. Vinh là con trưởng, được đứng mời hương-hồn ông đồ dùng bữa.
Người sới cơm hoặc là bà đồ hoặc là vợ Vinh. Đó là bổn-phận của người vợ và người con dâu trưởng, nhưng đây cũng là đặc quyền của những bực chính-thất và của nàng dâu.
Trong những buổi lễ dâng cơm như vậy tất cả tang-quyến đều đến lễ
trước bàn thờ. Lòng thành-kính thương nhớ của người sống đối với người chết được chứng tỏ trong mọi lễ-nghi.
Xác ông đồ quàn ở trong nhà đã hai ngày, kể từ khi lễ thành phục. Chỉ
còn đêm nay nữa, sớm hôm sau đám tang sẽ cử-hành. Suốt trong hai ngày, nhà đám luôn luôn tấp-nập nhộn-nhịp cho tới khuya. Tiếng kèn trống, tiếng khóc than, tiếng chuyện trò ồn-ào của khách-khứa. Nhà trên, nhà ngang, nhà bếp, những người là người. Người ăn cỗ, người làm giúp, người hầu-hạ !
Khuya, khách khứa vãn, cảnh tang-gia đượm một vẻ buồn.
Chiếc quan tài nằm giữa nhà nhắc-nhở sự chia-ly vĩnh-viễn kẻ khuất người còn. Mùi hương tỏa ra ảm-đạm.
Lúc khuya này vãn khách viếng, con cháu mới lần lượt nhờ phường kèn thổi những bài kèn thờ để tỏ nỗi lòng thương nhớ. Tiếng kèn kéo dài não-nuột, vang trong đêm vắng lan mãi xa xa.
Vợ khóc chồng bằng một bài kèn, con khóc cha cũng một bài kèn, rồi cháu khóc chú, em khóc anh đều có bản kèn riêng.
Phường kèn thổi những bài khóc này đem hết tài nghệ để điệu kèn nghe càng buồn-rầu, hòa với tiếng khóc lúc đêm hôm thảm-thiết. Mỗi bài kèn khóc thờ đều có tiền thưởng riêng của gia chủ.
Nhà càng vắng, các bài kèn nghe càng buồn thấm-thía, và cảnh tử-biệt càng thấy bi-ai.
Trong hai đêm quàn xác ông đồ ở trong nhà, con cháu và học-trò phải cắt phiên nhau thức canh chừng. Hương hết phải thắp thêm nén khác, nến hết phải nối ngay ngọn sau.