CHƯƠNG I · VPart 5
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Lớp học của ông đồ Ngư ồn-ào vang tiếng trẻ học, bé học bài của bé, lớn học bài của lớn. Ông đồ ngồi vắt-vẻo trên chiếc sập, mắt đeo kính, đang chăm-chú đọc một cuốn sách, thỉnh-thoảng lại với lấy chiếc ống điếu chấm hút mồi thuốc. Trông ông nghiêm trang và đạo đức.
Cũng như mọi ngày, các trò lớn vẫn bảo các trò nhỏ trước khi học bài của mình, và các trò sau khi học thuộc bài thì mang sách ra chép bài hoặc viết tập.
Tại lớp học của ông đồ Ngư cũng như tại tất cả các lớp học chữ nho thời xưa, học trò học bài hôm nào thì phải giảng và viết bài ngày hôm đó vào lúc cuối giờ học. Trò nào không thuộc bài hoặc không thuộc nghĩa bài phải ở lại học cho tới thuộc mới được thầy đồ cho về. Vì vậy trong giờ học, trò nào cũng chăm-chỉ học mong cho mau thuộc cả chữ lẫn nghĩa để không phải ở lại.
Đưa mắt nhìn lũ học trò học bài ông đồ lấy làm tự mãn sung-sướng.
Tuy không làm quan cao chức trọng gì, nhưng một mình ông đã đào tạo không biết bao nhiêu người làm nên, hết lớp này đến lớp khác. Những trò nhỏ ngày nay đang ngồi học ngồi viết kia, biết đâu mai sau lại không có kẻ
sẽ mũ cao áo dài, hiển vinh phú quý và sẽ là những bậc lương-đống của quốc-gia.
Học trò chữ nho rất biết ơn thày. Dù ai làm nên danh giá bực nào, quan cao chức trọng đến đâu, khi tới nhà thày, vẫn chỉ là một học trò của thày vẫn chấp tay dưng hầu thày như khi còn đang đi học.
Một lớp học của một ông đồ lại có ban đồng môn để lo mọi công việc nhà thày từ ma chay đến giỗ chạp. Tất cả các môn sinh mới cũ đều phải đóng góp tiền đồng môn mỗi khi nhà thầy có việc, như các con giúp đỡ cha mẹ. Các môn sinh cũ dù đã có tước lộc cao, nhiệm-vụ lớn nhưng vẫn tham-dự đồng-môn. Chỉ những kẻ vô ơn bạc nghĩa mới quên ơn thày. Cha mẹ có công sinh dưỡng nhưng thày học có công dạy dỗ cho mình nên người, công dạy dỗ này theo quan niệm phương Đông còn đứng trên công sinh dưỡng.
Với số học trò đã thành đạt nhiều, ông đồ Ngư được tiếng tăm khắp nơi. Ngồi dạy lũ học trò nhỏ, ông trông ở tương-lai chúng rất nhiều. Trong khi dạy học, ông đoán biết một phần lớn sự thành đạt của học trò. Đứa nào học hành có khiếu ông biết, nhà đứa nào nhiều phúc-đức qua nét mặt sáng-sủa hiền-hậu của nó, ông cũng có thể hy-vọng kết quả tốt đẹp ở nó. Còn những học trò con nhà giàu, con cường-hào ác-bá, dạy chúng học thì ông dạy nhưng thường ông vẫn nghĩ chúng có thể học để mà học, chứ không phải học để thi đậu hiển-vinh.
Hôm đó, giữa lúc ông đang rung đùi ngắm nhìn lũ học trò bổng có khách tới.
Bây giờ vào khoảng giữa giờ Thìn. Khách chẳng phải ai xa lạ, chính là một người làng, bác xã Phiệt. Bác xã Phiệt đến xin học cho con là thằng cu Kiệm lên bảy tuổi.
Xã Phiệt ăn mặc trịnh-trọng. Bác chít trên đầu chiếc khăn lượt đen, mặc áo the thâm và quần trắng, chân bác đi đôi giày Gia-định.
Bác vái ông đồ từ ngoài sân.
Cu Kiệm theo sau bác cũng ăn mặc như cha. Trên đầu cũng quấn chiếc khăn nhiễu tam-giang, cũng áo the quần trắng, cũng đi đôi giầy. Có lẽ nó đi giầy không quen cho nên đôi giầy cứ muốn văng đi trước. Nó thấy bác xã vái ông đó, nó cũng vái theo.
Cùng đi với hai cha con bác xã, có tên người nhà cũng quần áo sạch sẽ, đầu đội mâm đồ lễ gồm có cỗ xôi con gà và trầu cau, chè rượu.
Ông đồ Ngư mời bác xã Phiệt vào trong lớp học.
Bác xã nói : « Hôm nay chúng tôi đưa cháu tới để ăn mày ông đồ ít chữ
của thánh hiền ».
Ông đồ hỏi tên tuổi cu Kiệm biên vào mảnh giấy. Ông bảo ông xã :
« Cửa thánh hiền có hẹp gì. Bác xã cố cho con đi học thế là phải ».
- Thưa ông đồ, cháu nó thích đi học lắm. Thấy các trẻ rủ nhau đi học, nó luôn luôn đòi đi.
Ông đồ cười nói : « Thế thì nhà bác khá. Con trẻ thích đi học tức là điềm nhà thịnh-vượng ».
Ông đồ đưa hai cha con bác xã lên nhà trên. Tên người nhà cũng đội theo mâm đồ lễ.
Trước hết ông đồ bảo tên người nhà bác xã đặt đồ lễ lên trên bàn thờ
thánh-sư, để ông làm lễ.
Ông lấy miếng giấy có tên tuổi cu Kiệm ra xem lại, rồi ông đem đặt vào mâm đồ lễ. Ông thắp nến và ba nén hương cắm trên bàn thờ.
Ông lâm râm khấn rồi lễ. Bác xã Phiệt lễ theo. Bác bảo cu Kiệm vào lễ.
Cu Kiệm súng sính trong bộ quần áo dài lượt-thượt cũng vào lễ trước bàn thờ. Cuộc lễ chỉ đơn giản như vậy nhưng rất trang nghiêm, qua vẻ mặt nghiêm-nghị cùng cử chỉ thận-trọng của ông đồ, cũng như qua điệu bộ cung-kính của bác xã và của cu Kiệm.
Lễ Thánh-sư xong tới lễ bàn thờ tổ tiên nhà ông đồ. Ông đồ cũng khấn lễ, rồi bác xã Phiệt và cu Kiệm cũng vào lễ như trước. Vẫn cái không khí nghiêm-trang ấy, mùi hương tỏa lên ngào-ngạt. Ánh mấy ngọn nến rung rinh như soi tỏ lòng thành-kính của những người làm lễ đối với tiền nhân.
Hai cuộc lễ tại hai bàn thờ có hai ý nghĩa.
Lễ Thánh-sư là có ý trình bày sự nhập môn của một học sinh mới, còn lễ bàn thờ gia tiên là để ông đồ cáo cùng gia tiên việc mới thâu nhập một môn sinh.
Sau cuộc lễ ông đồ mời bác xã Phiệt ngồi chơi ở tràng-kỷ trước bàn thờ. Ông sai Tiệp pha trà, đồng thời ông cũng cho gọi Khoan lên.
Ông bảo bác xã : « Việc học là việc rộng, biển học mênh mông.Con trẻ
chúng đi học, trước hết phải cho chúng học lễ, sau mới nói đến văn bài sách vở. Vì vậy phải có lễ trình Thánh-sư ».
Bác xã vâng vâng dạ dạ.
Ông đồ lại nói : « Tôi dữ đòn lắm. Ai thương con thì không thể cho con học tôi được. Các trẻ con chúng nó còn ham chơi phải lấy roi vọt thúc đẩy chúng nó mới chịu học. Có chịu học chúng mới tấn-tới, mới có thể thấm-nhuần đạo lý của thánh hiền ».
Bác xã thưa : « Trăm sự chúng tôi trông cậy cả ở ông đồ. Chúng tôi chỉ
mong sao cháu nó ăn mày ông đồ được dăm ba chữ để sau này lớn lên đỡ bị
người ta khinh cười là vô học ».
Tiệp đã pha nước bưng tới.
Ông đồ mời bác xã : « Bác xã xơi nước. Đây là chè hảo hạng của thầy Huyện Thanh-Oai gửi biếu ».
Thầy Huyện Thanh Oai tức là một học trò cũ của ông đồ, đã đậu cử-nhân và được bổ tri-huyện Thanh-Oai thuộc tỉnh Hà Đông.
Vừa lúc ấy Khoan cũng ở lớp học bước lên. Đang pha nước, thấy Khoan lên, Tiệp nhẹ đưa mắt nhìn Khoan như muốn nói điều gì. Và Khoan cũng nhìn lại Tiệp mỉm cười.
Khoan thưa với ông đồ : « Thưa thầy gọi con ».
Ông đồ đáp : « Ừ, thầy gọi anh lên để giao cho anh thằng cu con bác xã đây, mới nhập học buổi nay. Con trông nom cho nó cũng như các em khác.
Con cho nó vỡ lòng bằng sách Ấu-học tân thư ».
Ông đồ quay lại bác xã nói : « Đây là anh Khoan, trưởng tràng của tôi.
Anh cũng người làng ta. Anh chịu khó và học hành tấn-tới lắm. Những học trò mới, tôi đều giao cho anh trông nom. Tôi chỉ tự dạy lấy những học-trò lớn ».
Ông lại bảo thằng cu : « Thôi con đi xuống lớp học. Có anh trưởng tràng dạy học cho. Đi học thì phải ngoan-ngoãn, nếu hư-hỏng lười-biếng thì
phải đòn ».
Cu Kiệm khép-nép vâng dạ, cặp mắt ngây thơ nhìn hết ông đồ lại nhìn đến anh trưởng tràng.
Bác xã bảo con : « Con chịu khó học, anh trưởng tràng sẽ dạy con giỏi như thằng Thọ con ông bá Thúy bên cạnh. Buổi trưa tan học, con theo thằng Thọ cùng về ».
Khoan dắt cu Kiệm xuống lớp học. Cu Kiệm đi theo nhưng vẫn quay lại nhìn bác xã và ông đồ.
Từ trong nhà bước ra ngoài sân, Khoan thấy Tiệp lúc đó đã pha nước xong đang đi chậm chậm có ý chờ đợi Khoan.
Khoan nhìn Tiệp như say đắm, Tiệp cũng nhìn Khoan với đôi mắt đầy ý nghĩa.
Khoan nói : « Cô Tiệp dạo này nghỉ học tha hồ nhàn ».
Tiệp đáp : « Nhàn sao được hở anh ? Nhàn việc học nhưng bận việc nhà, anh ơi. Vả lại tôi vẫn thích học lắm. Học với các anh vui lắm, làm công việc nhà vất vả nhiều ». Rồi Tiệp chỉ cu Kiệm nói tiếp : « Anh trưởng tràng lại có thêm một em mới nhập học ».
Cuộc đối đáp chỉ ngắn-ngủi như thế thôi, Khoan dẫn cu Kiệm xuống lớp học còn Tiệp đi thẳng xuống bếp. Gần tới bếp nàng còn quay lại nhìn Khoan. Vừa lúc ấy Khoan cũng dừng chân ở trước cửa lớp học để nhìn theo nàng. Bốn mắt lại gặp nhau, Tiệp vội vàng cúi mặt xuống sau một cái mỉm cười duyên-dáng. Nàng thấy nóng bừng đôi má. Lòng nàng rạo-rực rộn-ràng một niềm vui.
Khoan cũng cười theo nàng, lòng chàng thấy tràn ngập một nỗi yêu đương vô bờ bến đối với Tiệp. Chàng nghĩ đến tương lai, đến ngày chàng được cùng Tiệp sánh đôi.
Bóng Tiệp đã khuất vào trong nhà bếp, Khoan và Kiệm vào lớp học.