CHƯƠNG II · IXPart 21
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Phường tuồng dẫn đường trị-huyệt đi đầu, sau đó là pháp-sư.
Pháp-sư cũng yểm đường trị-huyệt bằng bùa chú của mình.
Đám tang nào cũng có pháp-sư. Chỉ những đám tang long-trọng mới có phường tuồng dẫn đường trị-huyệt.
Pháp-sư đi nghiêm-chỉnh tay cầm cờ phép, vẻ mặt đăm chiêu, miệng lâm-râm tụng-niệm đọc những câu chú.
Liền ngay sau pháp-sư, có hai người vác hai Phương-tướng, tức là hai hình nhân bằng giấy màu sặc-sở với nét mặt dữ-tợn. Hai Phương-tướng này
đã được pháp-sư niệm chú hộ phép. Tà-ma quỷ-quái gặp hai Phương-tướng này đều phải tránh xa, nhường đường cho đám tang đi yên ổn.
Sau hai Phương-tướng là một lá thế-kỳ bằng vải trắng chữ đen lồng treo vào một chiếc khung. Hai bên khung lủng lẳng hai chiếc đèn lồng tròn như hai quả bóng có ghi chức tước và địa vị của ông đồ.
Kế tiếp thế-kỳ là minh-tinh do bốn người khiêng. Minh-tinh kết bằng lụa hồng dài tám thước. Minh-tinh giống như biển căn cước của người khuất. Trên tấm lụa minh-tinh có ghi danh-tính địa-vị của ông đồ.
Minh-tinh treo trong một chiếc khung cao bằng tre phết giấy trắng có vẽ màu sặc-sở. Những chữ viết trên tấm lụa minh-tinh, tang chủ phải tính sao để số chữ có thể chia được với bốn, hoặc chia xong với bốn còn thừa lại ba. Theo sự tín-ngưỡng của người mình khi viết những chữ đó, người ta đếm theo bốn chữ « Quỷ Khốc linh thính ». Minh-tinh phải mang một số chữ đủ
để tránh chữ cuối cùng không đúng vào hai chữ « Quỷ » và « Khốc », nếu chẳng may chữ cuối cùng rơi vào hai chữ này, tang quyến sẽ gặp nhiều sự
không may.
Đi theo minh-tinh là những người hàng xóm, hàng xã mang đối trướng.
Đám tang ông đồ Ngư nhiều đối trướng lắm. Dân làng xem nhìn không chán mắt những bức trướng đủ màu, có dán những mảnh gương tròn óng ánh, hoặc những mảnh giấy trang-kim vàng chói-lọi. Người ta khen ngợi bức trướng này đẹp, người ta ngắm-nghía đôi câu đối kia mỹ-thuật.
Rồi người ta đọc những vế câu đối, những chữ đại tự trên các bức trướng. Văn đã hay, chữ lại tốt, những hàng chữ ca tụng đủ mọi đức tính của ông đồ, đề cao mọi sự nghiệp của ông.
Nhiều đối trướng lắm. Một hàng dài, đi song song hai người một mà mãi không hết. Câu đối của con cháu, câu đối của học-trò, trướng của dân làng, trướng của bạn-hữu.
Hết hàng câu đối, tới một hương-án, trên có bày một bộ đồ thờ thất sự
bằng đồng sáng choang. Trầm hương bốc khói, tỏa qua nắp đỉnh, và hai ngọn nến cháy chập-chờn như muốn tắt trước gió ngoài trời.
Hương-án dẫn trước để các thực-án theo sau. Nhiều thực-án lắm. Đây là những chiếc án-thư, trên có để những đồ ăn cúng hương-hồn người quá-cố. Những thức ăn này, lúc đám tang trở về, tang chủ sẽ dùng làm phần biếu các quan viên trong làng và hàng phe, hàng giáp đi đưa đám.
Qua những thực-án, ai cũng khen ông đồ Ngư tốt phúc, sống sao chết vậy, lúc chết vẫn được con cháu, học-trò và bạn-bè quý mến như lúc sống, ma-chay linh-đình, cỗ bàn to-tát.
Đây là một chiếc án-thư trên đặt một con lợn quay vàng rộm, mùi thơm phưng-phức như đánh thức dạ-dày của người đi xem đám ; đây là một cỗ xôi gạo nếp cái vừa dẻo vừa ngon, và trên cỗ xôi nằm hiên-ngang một con gà thiến béo ngậy da căng những mỡ.
Rồi những án-thư hoa quả, những án-thư bánh trái. Rất nhiều, nhiều lắm. Phần nhiều những đồ ăn trái quả bày trên các thực-án đều là những lễ
viếng của bạn-bè và nhất là học-trò cũ ngày nay đã làm nên danh vọng.
Hết lượt các thực-án, ban nhạc đám dẫn-diệu đi. Cùng với ban nhạc đám hôm nay lại có cả phường bát âm của hàng xã đưa tiễn ông đồ đến nơi an-nghỉ cuối cùng.
Tiếng trống kèn của ban nhạc hòa hợp nên một điệu buồn thảm, nhắc cảnh đau thương tử-biệt. Tiếng trống lẫn tiếng kèn, thợ trống trước thợ kèn.
Trong khi người thợ kèn phùng má trợn mép, vừa đi vừa thổi những điệu kèn « tò e tĩ ỏi » thì người thợ trống cũng luôn tay dùi, lựa cho tiếng trống ăn với tiếng kèn.
Những hồi kèn trống dứt, là điệu bát-âm ai-oán nổi lên. Dân làng muốn tiễn đưa ông đồ trong tiếng đàn tiếng sáo, nhưng đàn sáo đây phải nhiễm màu tang-tóc đau-thương.
Phương bát âm đi ! Họ đi trước hai người vác hai chiếc đan-biển mang hai chữ « Trung-tín » để biểu tả lòng trung-thực của người khuất.
Liền sau hai đan-biển là chiếc linh-xa, trên có bát hương tỏa khói nghi-ngút, trước một tấm hình thô-sơ trong y-phục chững-chạc của ông đồ.
Gió rung tấm lụa linh-xa. Khói hương uốn theo gió nhẹ.
Bốn người khiêng chiếc linh xa đi chậm chậm, vừa đi vừa như cố ý đợi chiếc đòn rồng đi kế sau, do ba mươi sáu đô-tùy khiêng theo mệnh-lệnh người chấp-lệnh. Trên cỗ đòn rồng là chiếc quan-tài gỗ vàng-tâm, cỗ hậu do ông đồ đã sắm từ lúc sinh-thời để khi chết yên-nghỉ trong đó. Phủ lên chiếc quan tài này là chiếc nhà táng hình thuyền bát-nhã màu sặc-sỡ.
Một tấm lụa dài buộc vắt qua nhà táng từ bên này sang bên kia cỗ đòn.
Đi liền ngay cỗ đòn, hai người mang hai chiếc phù-phất áp lấy hai bên nhà táng. Hai chiếc phù-phất này sẽ cắm trên mộ ông đồ.
Vinh và Mẫn đầu đội khăn quấn bằng giây chuối, áo tang chống mỗi người một chiếc gậy tre đi dật lùi đằng trước quan-ải. Có nơi thì « cha đưa mẹ đón » nghĩa là khi đưa đám cha thì theo sau áo quan, khi đi đám đưa mẹ
thì chống gậy đi lùi đằng trước, nhưng tục làng Kim-Đôi, cũng như phần nhiều các xã tỉnh Bắc-Ninh, dù đám tang cha hay tang mẹ, các con trai cũng đều chống gậy tre đi đón trước áo quan.
Cùng đi lùi trước áo quan, nhưng không chống gậy, đầu chít khăn tang trắng và y phục trắng là Khoan và mấy người học-trò cũ của ông đồ. Khoan là con rể phải đi trước áo quan theo tục lệ, còn mấy người kia là do tình thày trò thâm trọng. Thờ thày cũng như thờ cha mẹ, lúc thày chết, trò cũng mặc tang phục để tỏ lòng thành-kính biết-ơn.
Trông Vinh buồn-rầu lắm. Đôi mắt Vinh sưng mọng lên, chứng tỏ Vinh đã khóc nhiều. Vinh có vẻ mệt-nhọc, hai bên có hai người học-trò của ông đồ sốc cánh để Vinh đi.
Mẫn tuy ít tuổi, nhưng Mẫn cũng đau đớn trước tang cha. Một người học-trò khác đi kèm với Mẫn trong đám tang.
Sau cỗ đòn tới một chiếc màn trắng, gọi là « bạch-mạc » hoặc
« phương-du ». Chiếc màn để che cho con cháu ông đồ đi đưa đám.
Bà đồ khóc lăn lộn. Tiệp cũng khóc-lóc như mẹ. Rồi đây chỉ trong vài giờ nữa, ông đồ sẽ được vùi sâu dưới ba thước đất, và âm-dương sẽ hoàn-
toàn cách-biệt. Ai là không đau-đớn, ai có thể thản-nhiên trước cảnh tử-biệt của người thân.
Bà con, chị em, họ hàng cũng khóc-lóc đau thương. Tiếng khóc vang dội một quảng đường. Nhiều người đi xem cũng mủi lòng rơi lệ.
Đám tang đi từ từ dần dần, bước một.
Sau chiếc bạch-mạc với con cháu ông đồ là tất cả bạn-bè hàng xóm láng giềng, người quen thuộc, học-trò cũ mới của ông đồ. Nghĩa tử là nghĩa tận, ai cũng muốn đi đưa ông đồ một quãng đường tới nơi an-nghỉ cuối cùng.
Sau cùng là các cụ bà cùng nhau đội một chiếc long-kiều bằng vải vừa đi vừa niệm Phật tụng kinh để cầu cho hương-hồn ông đồ được siêu-sinh tịnh-độ.
Long-kiều là một chiếc cầu vải, có chữ nhà Phật.
Những người theo Phật giáo, các bà già đi quy, lúc chết được các bà già đồng-đạo đi đưa, đội chiếc long-kiều có ý muốn cầu chúc cho người chết mau tới cõi Phật.
Các cụ bà vừa đi vừa niệm Phật. Tiếng niệm Phật lâm-râm, nhưng không át nổi tiếng khóc xót-thương của con cháu.
Đám tang đi, đi chậm chậm từ đầu đến cuối, và tạm ngừng khi tới nhà trạm.
Đàn-bà trẻ con đi xem cũng rầm-rộ tiến theo đám tang. Và cũng có những người đàn ông nữa. Đàn ông thì đọc và phê-bình những đôi câu đối, câu nào hay, câu nào nhiều ý-nghĩa, câu nào lắm điển v.v…
Còn đàn-bà thì nghe người nhà đám khóc rồi cùng nhau bàn tán. Nào tiếng khóc của bà đồ thì thảm-thiết, tiếng khóc của Tiệp thì não-nùng, còn tiếng khóc của vợ Vinh thì thờ-ơ. Những tiếng khóc nhạt như nước lã là của các bà cô bà dì, chỉ có chiều dài chẳng có chiều thương.
Trẻ con chạy theo đám phường tuồng dẫn đường để xem họ hát và nhảy múa. Chúng cùng nhau cũng chỉ trỏ như người lớn.
Có nhiều đứa chăm chú vào chiếc nhà táng, dự-định lát nữa tới mộ, chúng sẽ cướp lấy những mảnh giấy đẹp, những cánh cửa trang kim, những chiếc hoa ngũ sắc, và tất cả những chiếc dua đang rung-rinh theo đà bước của bọn đô-tùy.
Đám tang tiến tới nhà trạm.
Trong lúc đám tang dẫn diệu đi, tang-gia thuê những người gánh theo nước uống để các người đi đưa đám có khát thì dùng. Thỉnh thoảng lại có người nhà bưng cơi trầu tới mời từng người.
Đám tang đã tới nhà trạm. Có một người nhà mang theo một gánh những thỏi vàng hồ để rắc ở dọc đường cho các tà-thần, ma, quỷ chia nhau.