Lễ kỷ niệm Nguyễn Trung TrựcPart 15

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Hạnh dùng để qua mặt ty kiểm duyệt của chính quyền Sài Gòn thời bấy giờ.

[2] Trong Nam gọi là cái lu

Lễ kỷ niệm Nguyễn Trung Trực

Tại xã Long Kiên, quận Chợ Mới, tỉnh An Giang hiện nay có đền thờ

ông Nguyễn Trung Trực, người đã dấy binh chống Pháp vào những năm 1860.

Hàng năm trong những ngày 18, 19 và 20 tháng Mười tại đền Ngài có lễ

kỷ niệm rất trọng thể.

Vài dòng tiểu sử

Nguyễn Trung Trực là một vị anh hùng của dân tộc, người đã hy sinh thân thế chống giặc Pháp xâm lăng. Dưới đây là tiểu sử của Ngài theo Nguyễn Thành Nhuận ở Long Xuyên đã đăng trên nhật báo Tiền Tuyến:

“Sanh trưởng trong một gia đình chuyên nghề chài lưới tại Mỹ Tho, Nguyễn Trung Trực có tên thật là Nguyễn Văn Lịch. Mồ côi cha từ thuở

bé, ngài sống với mẹ già trong cảnh thanh bần với tấm lòng hiếu thảo hiếm có. Tánh tình điềm đạm, hình vóc trung trung, ngài có vẻ nho sinh hơn võ tướng. Vì hoàn cảnh gia đình thiếu thốn và cô đơn ngài cam chịu kém phần khoa cử nhưng rất tinh thông võ nghệ.

''Nhằm lúc nước nhà gặp cơn khốn đốn vì giặc Pháp xâm lăng, vốn có lòng ưu quân ái quốc, ngài không thể ngồi nhìn cảnh giang sơn bị giày xéo, đồng bào bị đau khổ, nên cùng người bạn là Nguyễn Văn Cầm chiêu binh mãi mã lập đội Nghĩa binh chống lại quân thù.

''Nhận thấy cụ Nguyễn Tri Phương là danh tướng đương thời có đồn lũy kiên cố mà không thể ngăn chặn được sức tấn công của giặc, ngài không áp dụng theo lối đánh công khai mà xoay qua thế du kích và chiến lược tiêu hao.

''Ngày 11-12-1861, ngài chỉ huy đột kích tàu Espérance tại vàm Nhật Tảo, tiêu diệt tất cả địch quân và chính tay ngài đã bêu đầu Trung tá Parfait. Đây là chiến thắng oanh liệt nhất lúc bấy giờ, được vua Tự Đức tuyên dương công trạng và chiếu chỉ sửa đổi tên ngài lại là Nguyễn Trung Trực.

''Sau đó ngài liền họp với cụ Trương Công Định tại Gò Công tiếp tục đánh phá những đồn bót của địch trong vùng Thuộc Nhiêu, Thủ Thừa, Bến Lức, Mỹ Hạnh, Phước Lý, Long Thạnh, Phú Lâm, Bà Hom.

''Vì lầm mưu tên phản bội Huỳnh Công Tấn tục gọi là Lãnh binh Tấn, cụ

Trương Công Định bị sát hại đêm 20-8-1864 và hàng ngũ kháng địch do đó bị tổn hại khá nhiều.

''Qua năm 1867, ba tỉnh miền Tây Nam Việt lọt vào tay quân Pháp. Thế

nhưng ngài không nản lòng thối chí. Lúc bấy giờ, Thủ Khoa Huân khởi nghĩa tại Định Tường; Thiên Hộ Dương phất cờ vùng Đồng Tháp, còn ngài thì chuyển binh về khắp miền Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá, Hà Tiên. Ngài đi khắp vùng Thất Sơn đến Vịnh Thái Lan, có lúc về ẩn náu vùng Cù Lao Ông Chưởng.

''Đang hoạt động tại miền An Giang kế được tin bạn là Nguyễn Văn Cầm bị giặc bắt tại đồn Kiên Giang, ngài liền tới Hòn Chồng huy động binh sĩ

vào đánh lấy đồn này. Với sự trợ lực hăng say của Cai Thoại một nghĩa binh có sức mạnh phi thường, bà Điền một bà già bán quán tại Trà Niên làm liên lạc và tình báo, và Bếp Cân trong hàng ngũ lính mã tà của Pháp làm nội tuyến, ngài đã hạ đồn Kiên Giang trong một đêm làm cho quân địch không kịp trở tay.

''Để ca tụng hai chiến công hiển hách trên, cụ Huỳnh Mẫn Đạt thời ấy có làm hai câu đối cho đến ngày nay vẫn còn truyền tụng: Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa

Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần

''Một thời gian sau binh cứu viện của giặc từ Sài Gòn kéo đến. Thế giặc khá mạnh làm cho ngài không chống cự nổi phải rút binh ra Phú Quốc.

Quân Pháp đuổi theo giao chiến liên tiếp. Trong cơn binh lửa, người chăn gối với Ngài lâm bồn thọ bệnh đến chết, đứa con thơ không người chăm nuôi săn sóc cũng chết theo mẹ.

''Lãnh binh Tấn thừa lệnh của giặc ra tận Phú Quốc tìm ngài để khuyên dụ. Không thể gặp ngài, Tấn kiếm bắt mẹ ngài tra tấn tàn bạo bắt buộc chỉ nơi ngài ẩn trú. Không đành để mẹ mình chịu đau khổ và dân làng bị

hành hạ, ngài từ chối tất cả mọi vinh quang phú quý của Pháp đem ra mua chuộc để nhận lấy cái chết ngang nhiên cho trọn niêm trung quân vương, hiếu phụ mẫu. Ngài bị xử tử tại Kiên Giang vào tháng 11 năm 1868.

''Trước giờ bị hành quyết, Ngài có làm một bài thi tứ tuyệt như sau: Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên,

Yêu gian đảm khí hữu long tuyền,

Anh hùng nhược ngộ vô dụng địa,

Báo hận thâm cừu bất đái thiên.

* *

*

Theo việc binh nhung tự thuở trai,

Phong trần hăng hái tuốt gươm mài,

Anh hùng gặp phải hồi không đất,

Thù hận chan chan chẳng đội trời.

''Thế rồi lưỡi dao đao thủ phủ chém xuống, đầu ngài rơi nhưng hai tay của ngài đưa lên hứng lấy đặt ngay chỗ cũ, 2 mắt của ngài vẫn trừng

trùng sáng quắc làm cho ai nấy cũng phải kinh hoàng và thán phục.

''Khi triều đình Huế nhận được tin này, vua Tự Đức có dạy làm lễ truy điệu.

''Tuy ngài đã chết nhưng khí hùng của ngài vẫn sống muôn đời. Tuy cuộc tranh đấu của ngài không thành công nhưng gương trung nghĩa của ngài vẫn lưu truyền hậu thế.

''Để noi gương anh dũng ấy, tên của ngài được đức Huỳnh giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo dùng đặt cho một bộ đội cách mạng kháng Pháp từ năm 1946.

''Vào năm 1952, bộ đội Nguyễn Trung Trực có xây cất tại xã Long Kiên quận Chợ Mới (An Giang) một đền thờ để tưởng niệm và tri ân ngài mà hàng năm đều có làm lễ giỗ.

''Tại tỉnh lỵ Rạch Giá tỉnh Kiên Giang cũng có đền thờ ông Nguyễn Trung Trực''.