Hội đền Hùng mở từ ngày đầu tháng cho đến hết ngày mồng 10 mới rã đám.Part 8
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Trong ngày hội có rước xách tế lễ và trong các buổi tế lễ có buổi quốc tế
vào sáng ngày mồng 10 do vị Đại diện triều đình, thường là vị Tỉnh hiến Phú Thọ, làm chủ tế. Trong buổi tế này có đông đủ các quan chức địa phương tới dự.
Ngoài ra còn có rất nhiều các trò vui cổ truyền. Cụ Vân Toàn Dương Tự
Như, một bậc khoa bảng trước đây, trong bài thơ tả quang cảnh ngày hội đền Hùng, đã có đoạn nhắc đến các cuộc vui cổ truyền đó:
…
Ai ơi tới hội mà trông,
Nơi tung diều sáo, nơi trồng đu tiên;
Nào cờ, nào trống, nào đèn,
Nào xe, nào ngựa, như len chật đường.
Leo dây, múa rối đủ phường,
Đánh cờ treo giải lạ thường vui thay.
…
Qua đoạn thơ trên, ta thấy trong ngày hội có leo dây, múa rối, thi diều sáo, treo đèn, đu tiên và đánh cờ. Cụ Vân Toàn quên không nói tới đánh còn, một trò chơi rất thú vị của phụ nữ Phong Châu mà chính chúng tôi đã được dự kiến khi đi lễ Tổ vào năm Tân Tỵ (1941).
Leo dây
Đây là một trò chơi giống như ngày nay các đoàn xiếc thường biểu diễn.
Một chiếc dây được căng trên hai chiếc cột, rồi có người đi lên trên, vừa đi vừa múa. Thường người này trong tay cầm một chiếc gậy để giữ thăng bằng trong lúc biểu diễn. Cũng có khi một chiếc dây được cột trên một chiếc xà cao buông thõng xuống để người biểu diễn leo lên làm trò.
Múa rối
Xin xem trong bài nói về Hội Chùa Thầy ở Chương Hai.
Đánh Cờ
Đã trình bày trong Nếp cũ: THÚ VUI TAO NHÃ.
Thi diều sáo
Ngoài Bắc, chơi diều là một thú rất say mê của người lớn. Đây không phải là những chiếc diều nhỏ có đuôi như diều trẻ em, mà là những chiếc diều thật lớn bề ngang, có khi tới sải rưỡi tay và có mang một hoặc nhiều chiếc sáo. Khung diều làm bằng cật tre, giấy phất vào diều bằng cậy.
Diều thả bằng dây tre vót nhỏ hoặc bằng dây mây. Mấy hồi về sau có dây thép, nhiều tay chơi diều dùng dây thép nhỏ.
Sáo diều có ba loại chính phân theo tiếng kêu: Sáo CỒNG, tiếng kêu vang vang như tiếng cồng thu quân của một vị
tướng quân. Những tiếng du du, dòn dòn dõng dạc.
Sáo ĐẨU, tiếng kêu rên rỉ, dài dài như lời than của một nàng cung phi thời xưa bị sống trong cảnh lạnh lẽo cô phòng.
Sáo CÒI, tiếng kêu the thé dài như tiếng còi.
Thi diều sáo, ban giám khảo có thể chấm theo tiếng sáo, nhưng trước tiên bao giờ cũng phải xem diều có lên bổng, dây điều căng hay võng, nhất là lúc ở trên không diều có lắc lư đảo ngang đảo dọc không.
Treo đèn
Tháng ngày hội từ đền Hạ lên đến đền Thượng chùa và các lăng miếu đều có chăng đèn. Buổi tối đèn thắp lên rất vui mắt.
Đu tiên
Đu tiên không giống như cây đu thường tám cọc mọi người vẫn hằng thấy. Người lên đu tiên không phải rướn, và cũng không đứng trên bàn đu, trái lại ngồi trên ghế đu. Đu tiên có nhiều người cùng đu một lúc.
Đu tiên gồm hai chiếc cột cao có trục bắc ngang. Chiếc trục này ăn ra hai chiếc vành như một chiếc bánh xe lớn. Mắc và hai chiếc vành này là những chiếc ghế buông thõng xuống để các nàng tiên ngồi. Những ghế
này cũng có trục bắc vào vành đu, khi đu quay, ghế không quay theo, vẫn giữ nguyên một chiều. Các nàng tiên ngồi trên đu vừa đu vừa hát những bài ca cổ truyền theo nhịp đu quay.
Những nàng tiên là các cô thôn nữ do dân làng cắt cử sẵn. Lên đu, các cô ăn mặc diêm dúa như những nàng tiên.
Các cô ngồi trên ghế đu, một loạt, có người quay chiếc vành đu để các cô lên cao lại xuống thấp trông rất ngoạn mục.
Đánh còn
Đánh còn là một môn giải trí lưu truyền từ đời Hùng Vương, nghĩa là từ
khi có các Quan Lang và các cô Mỵ Nương. Còn là một trò chơi quý
phái của quý tộc thời xưa, là một thú chơi riêng của nữ nhi, hay đúng hơn, là một thú chơi riêng của các tiểu thư con các Lạc hầu, Lạc tướng.
Lưu truyền tới thế kỷ XX, môn du hí này vẫn giữ nguyên nếp chơi của thời trước và rất được thịnh hành tại các vùng sơn cước miền Bắc.
Trong các hội, mồng 9 tháng Giêng ở Đồng Mỏ thuộc châu Ôn tỉnh Lạng Sơn, mồng 10 tháng 3 tại đền Hùng và nhiều nơi khác tại các tỉnh Thượng du miền Bắc, các cô sơn nữ dắt nhau tới hội là tìm hát lượn và đánh còn.
CÒN là một trái cầu to bằng quả cam lớn khâu bằng vải, trong ruột là bông, cỏ mềm hay vải vụn. Còn bọc bằng vải mầu và tua ngũ sắc sặc sỡ
rất đẹp.
Đánh còn thường được tổ chức ở một khoảng đất rộng gọi là sân còn.
Giữa khoảng đất này có trồng một cột tre cao bằng cả cây tre. Trên ngọn cột tre ngoài những lá cờ đuôi nheo ngũ sắc phấp phới, biểu hiệu của đình đám ngày xuân, có một vòng tròn đường kính ước độ già hai tấc gọi là vòng còn. Các thiếu nữ chơi Còn đứng về hai phía sân Còn, đối diện nhau để lần lượt thi ném quả Còn cho lọt qua vòng Còn, hai mặt vòng Còn hướng về phía các cô ở hai bên. Khán giả đứng xem vây chung quanh sân Còn.
Muốn ném Còn, các thiếu nữ cầm rua Còn đưa tay văng vụt lên. Trái Còn lướt qua ngọn cột tre, những dây rua cũng lướt xòe ra trông rất ngoạn mục. Thường thường trái Còn chỉ lướt qua cạnh vòng Còn, ít khi trúng vào giữa vòng. Mỗi lần trái Còn trúng giữa vòng Còn, khán giả
thường hò reo khen ngợi khuyến khích.
Tưởng cũng cần nói thêm, vòng Còn có dán giấy, thường là giấy đỏ. Còn ném trúng vòng xuyên thủng tờ giấy, rồi rớt xuống phía đối diện. Các cô bên này lại nhặt Còn ném trở lại.
Các thiếu nữ say mê ném Còn, ganh đua nhau mong ném quả Còn qua giữa vòng Còn. Ném trúng đích, các cô hãnh diện không những với các
bạn chơi Còn, đem thắng lợi về cho bên mình, mà còn hãnh diện với cả
khách đứng xem, nhất là với những chàng trai đã cùng các cô hát lượn, trong những ngày hội có hát lượn. Các chàng trai gọi tên các cô để ngợi khen, mắt các cô sáng lên, má các cô ửng hồng, miệng các cô cười và các cô cố gắng hơn.
Trái Còn văng đi, trái Còn văng lại, những tầm con mắt ngước theo đà Còn, và những trái tim hồi hộp khi trái Còn lướt tới chiếc vòng Còn.
Cuộc chơi ném Còn thường kéo dài suốt mấy ngày hội, và các cô hàng ngày trong thời gian ấy chỉ ngưng cuộc vui khi bóng đêm đã xuống, không cho phép các cô ném được tinh tường nữa.
Đánh Còn cũng vui ra phết.
Sơ lược lịch sử đền Hùng
Thần tích tại đền Hùng chính là lịch sử nước Văn Lang, với họ Hồng Bàng gồm mười tám đời Hùng Vương. Nhắc tới đoạn lịch sử đầu tiên này, chúng tôi nghĩ không gì bằng chép lại ra đây những trang đầu tập Đại Nam Quốc sử diễn ca của các ông Phạm Đình Toái và Lê Ngô Cát: Kể từ trời mở viêm bang,
Sơ đầu có họ Hàng Bàng mới ra;
Cháu đời Viêm đế thứ ba.
Nối dòng hỏa đức, gọi là Đế Minh.
Quang phong khi giá Nam hành,
Hay đâu Mai Lĩnh, duyên sinh Lam Kiều.
Vu tiên vừa thuở đào yêu,
Xe loan nối gót, tơ điều kết duyên.
Dòng Thần sánh với người Tiên, Tinh anh nhóm lại, thánh hiền nối ra.
Phong làm quân trưởng nước ta,
Tên là Lộc Tục, hiệu là Kinh Dương.
Hóa Cơ dựng mối luân thường,
Động đình sớm kết với nàng Thần Long.
Bến hoa ứng vẻ lưu hồng,
Sinh con là hiệu Lạc Long trị vì?
Lạc Long lại sánh Âu Ky,
Trăm trai điềm ứng hùng bi lạ dường,
Noãn bào dù truyện hoang đường,
Ví xem huyền diệu sinh thương khác gì?
Đến điều tan hợp cùng kỳ,
Há vì thủy hỏa sinh ly như lời.
Chia con cũng sự lạ đời,
Quy sơn, quy hải khác người biệt ly.
Lạc Long về chốn Nam Thùy,
Âu Cơ sang nẻo Ba Vì Tản Viên.
Chủ trương chọn một con hiền,
Sửa sang việc rước nối lên ngôi rồng.
Hùng Vương đô ở Châu Phong, Ấy nơi Bạch Hạc, hợp dòng Thao Giang.
Đặt tên là nước Văn Lang,
Chia mười lăm bộ, bản chương cũng liền.
Sinh viên với ngày giỗ tổ
Trong mọi việc gây tinh thần cao đẹp cho dân tộc, bao giờ anh em sinh viên cũng giữ một vai trò quan trọng. Viết tới ngày hội đền Hùng chúng tôi không quên một việc làm của sinh viên cách đây mấy chục năm: Năm 1941, giữa lúc dân tộc Việt Nam đang bị đè nén dưới hai gọng kìm đế quốc Pháp và quân phiệt Nhật, nhân ngày giỗ tổ để nhắc nhở đồng bào khỏi quên nguồn gốc, anh chị em sinh viên ở Hà Nội đã tổ chức một cuộc đi thăm lăng miếu Tổ rất nhộn nhịp. Trong dịp đi thăm mộ Tổ này, một sinh viên sinh quán miền Nam (anh Lưu Hữu Phước) đã soạn bài hát Đi hội đền Hùng. Và bài hát này đã được Tổng hội Sinh viên cho in và phát không ngay tại đền Hùng cho những ai đi lễ Tổ. Bài hát đã làm rung động con tim bao người.
I
Chúng ta cùng nhau đi viếng thăm
Nơi cố hương của giống Tiên Rồng;
Chúng ta cùng nhau đi viếng thăm
Những vết xưa của núi sông,
In dấu chân biết bao anh hùng,
Cùng với nhau Bắc, Nam, Trung.
Chúng ta về thăm mộ Tổ ta,
Cho vẻ vang với nước non nhà.
II
Biết bao đời Tiên vương nổi lên,
Để chống ai đắp lũy xây thành,
Biết bao đời Tiên vương nổi lên
Giữ núi sông trong thanh danh,
Xây nước non với tôi trung thành.
Cùng khắc tên trên sử xanh,
Hiến thân mình để lo quốc gia,
Cho vẻ vang với nước non nhà.
III
Chúng ta cùng vui ca hát lên,
Ta hát lên trước cảnh huy hoàng,
Chúng ta cùng vui ca hát lên,
Lễ Tổ tiên, người Văn Lang,
Ta hát lên khúc ca nhịp nhàng,
Cùng với nhau lên mấy tiếng vang
Chúng ta cùng nhau lên tiếng ca
Cho vẻ vang thêm nước non nhà.
Báo chí với ngày giỗ tổ
Tổ là Tổ chung của mọi tầng lớp dân tộc Việt Nam, đối với giới lao động chân tay cũng như giới lao động trí thức. Thời thường giới cầm bút, các nhà thơ, nhà văn, nhà báo, bao giờ cũng là giới đi tiên phong cùng với anh chị em sinh viên trong những công tác đề cao tinh thần dân tộc, và lòng yêu nước, mở con đường cho các giới khác theo sau.
Các nhà làm báo ở Hà Nội trong năm 1953 đã làm một việc vô cùng đẹp đẽ và đầy ý nghĩa: làng báo xứ Bắc năm đó đã quyết định lấy ngày đại đoàn kết của tất cả các ký giả khắp trong nước, ngày thiêng liêng để lớp người cầm bút hướng về Tổ Hùng Vương.
Ban tổ chức của làng báo đã trình bày bài diễn văn đọc nhân ngày giỗ Tổ
năm Quý Tỵ (1953), lý do việc làm của mình:
Chúng tôi đã chọn ngày đó là đã cố tâm muốn được anh hồn tổ tiên của nòi giống Lạc Hồng ấp ủ lên công việc của báo chí nâng đỡ phù hộ cho báo chí ngày một phát triển và trở nên dụng cụ tranh đấu thiết thực nhất của dân chúng trong Quốc gia và của Quốc gia trong thế giới.
Chúng tôi chọn ngày đó là muốn chiêm ngưỡng tiền nhân mà nhớ đến tiền nhân là nhớ rằng bổn phận mình là ở bên cạnh dân chúng, và vun đắp vào công việc chung làm cho quốc gia Việt Nam xứng đáng với những trang sử oanh liệt của tiền nhân.
Trong năm Quý Tỵ (1953) cũng như năm sau Giáp Ngọ, báo chí đã nghỉ
ngày giỗ Tổ và cho xuất bản một số ĐẶC BIỆT HỢP NHẤT BÁO CHÍ.
Trong số báo đặc biệt này, ngoài phần tin tức có các bài khác viết rất nhiều về ngày giỗ Tổ.
Trong số đặc biệt năm Giáp Ngọ, thi sĩ Xuân Tiên có một bài thơ rất cảm động về ngày giỗ Tổ, sau đây là đoạn kết:
Đứng trước ngọn lửa thiêng rừng rực
Đỉnh trầm hương sực nức khói hương