Hội Lăng ÔngPart 13
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Như trên đã trình bày, đức Tả quân Lê Văn Duyệt tạ thế ngày 30 tháng 7
năm Nhâm Thìn (1823).
Hàng năm tới ky nhật của Ngài, hội Thượng công quý tế tức là hội trông nom quản trị Lăng Ông có mở hội để làm giỗ Ngài. Tuy ky nhật vào ngày 30 tháng 7, nhưng hội thường kéo dài cho đến hết ngày mồng 3
tháng 8. Trong những ngày hội, năm nào ban quản trị cũng dự trù một chương trình thật là phong phú.
Dân chúng xã Bình Hòa trước tiên rồi đến dân chúng Gia Định, Sài Gòn và toàn cõi Việt Nam tới dự giỗ để chiêm bái Ngài, và nhân thể nhiều người xin quẻ xăm để tìm hỏi về gia sự, bản mệnh công danh v.v...
Suốt trong mấy ngày hội Lăng Ông tấp nập những thiện nam tín nữ tới hành hương chen chúc nhau ở trong đền và ở cả nơi mộ của hai ông bà Tả quân nữa. Già có, trẻ có, nam thanh nữ tú có. Lòng sùng bái vị anh hùng dân tộc ăn sâu vào mọi tầng lớp dân chúng, nên trong ngày giỗ
Ngài, không ai tham công tiếc việc, ai cũng cố bớt chút thì giờ đi lễ.
Hội Lăng ông, ngoài phần lễ bái của dân chúng có gồm các buổi tế lễ
theo nghi thức cổ truyền của dân xã Bình Hòa và nhất là của ban quản trị
hội Thượng công quý tế.
Hội Thượng công quý tế cũng có tổ chức những chầu hát bội cúng đức Thượng công, nhân thể để khách hành hương được mua vui. Để có nơi trình diễn những buổi hát này, ban quản trị phải cho dựng thêm nhà rạp trong mấy ngày hội. Khách đi lễ vừa lễ thần lại vừa được em hát.
Chiêm bái Đức Tả Quân
Thường những người tới lễ Lăng ông trong dịp húy nhật của ngài Tả
quân đều lấy lễ bái làm trọng, cho nên đã tới lăng việc đầu tiên là vào lễ
trong đền và ở ngoài lăng.
Người người mang theo đồ lễ gồm vàng, hương, nến, trầu cau, hoa quả
nhưng cũng nhiều người tới lĩnh vàng hương ngay tại đền để làm lễ.
Khách đi lễ, sau khi bước vào sân đền, những người không mang sẵn đồ
lễ, rẽ vào gian nhà ở bên trái đền chính để lĩnh vàng hương. Nơi đây sắp sẵn thành từng xuất đủ vàng hương nến cho mỗi khách hành hương gồm dăm tờ vàng giấy, một cây nến nhỏ và dăm nến hương.
Khách lĩnh số vàng hương trên không phải trả tiền, ra trước sân, đứng trước những lư hương, quay mặt vào đền, nơi có bàn thờ đức Tả quân, khấn vái, sau khi đã châm nến và đốt hương. Khách cầm cả mấy nén hương đang cháy, vái bốn vái dài, ba vái ngắn. Khách vừa vái vừa thì thầm khấn. Cũng có người vái trước rồi khấn sau, và khi khấn xong lại vái lần thứ hai nữa. Kế đó, họ cắm những nén hương vào các lư hương ở
sân đền, rồi đem mấy tờ vàng giấy ra hóa tại lò hóa vàng.
Lễ ở ngoài sân đền xong, khách lại vào lễ ở trong đền. Nơi đây bàn thờ
khói hương nghi ngút, đèn nến sáng trưng.
Ở hai bên hành lang có những tủ sắt để khách hành hương, ai thành tâm cúng tiền thì bỏ vào.
Vào lễ trong đền, khách có thể xin quẻ thẻ, còn gọi là quẻ xăm đề cầu xin chỉ dẫn một việc gì.
Lễ ở trong đền xong, khách lại ra lễ ở lăng hai ông bà Tả quân mé đằng trước.
Ở trong đền hay ở lăng, khách cũng đều khấn vái.
Trong những ngày hội, khách hành hương đông lắm, phải chen chúc nhau mới vào được trong đền, rồi lại phải chen chúc mới tới được trước lăng. Khói hương bốc lên nghi ngút, vàng giấy được đốt cháy đầy lò.
Khách hành hương nào có mang đồ lễ tới, khi vào tới đền đã có nhân viên trong đền giúp đỡ để đặt đồ lễ lên bàn thờ. Đồ lễ đặt lên bàn thờ
khách cũng khấn vái và lễ trước bàn thờ như những người khác. Có người đứng vái, có người làm lễ hẳn lên gối xuống gối, bốn lễ và ba vái.
Lễ trong đền xong, khách cũng ra yết lăng, thỉnh thoảng cũng có đôi người chỉ lễ ở trong đền không ra lễ ở ngoài lăng.
Lạ có nhiều người nhân ngày hội làm sớ tới cúng vái ở Lăng Ông, cúng xong họ đốt sớ ngay ở lò hoá vàng tại sân đền.
Xin xăm
Một số đông người tới chiêm bái đức Tả quân, có xin xăm.
Vậy xăm là gì?
Người miền Bắc gọi xăm là quẻ thẻ, là một tờ giấy trên có ghi những điều về gia sự, bản mệnh, tài lợi, duyên số v.v... những lời ghi này có thể
ứng vào người lễ bái cầu xin. Mỗi tờ giấy như vậy gọi là một quẻ xăm.
Tại các đình chùa đền miếu thường đều có xăm.
Tại đền Đức Tả quân có tất cả trăm quẻ xăm đánh số từ một đến trăm.
Khách lễ bái muốn xin xăm phải quỳ khấn trước bàn thờ, nói rõ ý mình muốn xin về việc gì, rồi cầm lắc một ống thẻ đựng một trăm thẻ tre cũng
đánh số từ một đến trăm, ghi bằng hai thứ chữ Hán và Việt. Những thẻ
tre này mỏng độ một ly dài độ 15 phân và rộng độ một phân.
Người xin xăm quỳ trước bàn thờ lắc ống thẻ cho tới khi một thẻ tre rơi ra. Nếu có hai ba thẻ cùng rơi ra, phải bỏ vào ống thẻ lắc lại cho tới khi chỉ có một thẻ tre bắn ra. Đương sự nhặt chiếc thẻ tre đó, đọc xem con số
ghi trên thẻ, con số đó là con số quẻ thẻ. Được số quẻ thẻ rồi, người xin lại khấn lễ lần nữa để xin keo xem có đúng đức Tả quân đã ứng cho quẻ
thẻ đó không.
Xin keo tức xin âm dương. Có hai mảnh keo bằng gỗ hình mặt trăng lưỡi liềm, một mặt phẳng và một mặt khum khum vồng lên để phân biệt sấp ngửa. Người xin keo, sau khi khấn vái tung hai thanh keo lên cho rơi xuống chiếu trước bàn thờ, nếu được nhất âm nhất dương, nghĩa là một sấp một ngửa, quẻ thẻ lắc rơi ở ống ra chính là quẻ thẻ đã ứng cho người xin.
Khấn lần thứ nhất xin keo không được nhất âm, nhất dương, khách xin thẻ sẽ khấn lại lần thứ hai rồi lần thứ ba. Nếu cả ba lần đều không được khách sẽ cắm quẻ thẻ vào ống và lắc lại để xin quẻ khác. Được quẻ khác rồi, khách vẫn phải xin keo nếu không được, tức là Thánh không ứng.
Xin đến ba lần thẻ mà keo vẫn không được tức là Thánh không muốn ứng hoặc vì người đi lễ thiếu thành tâm, hoặc vì có sự gì cản trở. Khách phải đợi một ngày khác.
Cũng có người xin keo trước khi lắc ống thẻ, nếu ba lần xin keo không được, tức là Thánh không muốn ứng.
Sau khi đã xin được số quẻ thẻ, khách lễ tạ, lại bốn lễ ba vái hoặc bốn vái dài ba vái ngắn, rồi đi sang gian nhà bên tay mặt đền để lĩnh thẻ. Ở
đây có một hàng tủ để xăm chia làm một trăm ô, mỗi ô để xăm theo một số từ một tới trăm. Khách chọn lấy quẻ xăm theo số thẻ đã xin được ứng trước bàn thờ.
Trước bàn thờ có trải chiếu, có để nhiều ống thẻ và những bộ keo.
Trong ngày hội khách hành hương thi nhau khấn vái xin thẻ. Ai nấy đều quỳ trước bàn thờ khấn vái. Tỉnh có, quê có, già có, trẻ có, nam phụ lão ấu đủ mặt, quốc phục, âu phục không thiếu.
Mỗi người xin xăm cầu một việc. Người xin hỏi về bệnh tật, người xin hỏi về công danh, người xin hỏi về gia cảnh, người xin hỏi về tình duyên, người xin hỏi về con cái v.v...
Xin được quẻ xăm, đọc theo lời trong quẻ xăm mà hiểu. Ai không hiểu, trước đền đã có những người đoán quẻ. Họ đoán theo sách BÀN XĂM
và LỊCH SỬ THƯỢNG CÔNG LÊ TẢ QUÂN của Hội Thượng công Quý Tế. Sách này trước bằng chữ Nho, đã được phiên dịch và xuất bản tại Sài Gòn năm 1949.
Nội dung quẻ xăm
Quẻ xăm ở Lăng Ông cũng giống như hầu hết các quẻ xăm ở các đình chùa đền miếu khác.
Mỗi quẻ xăm gồm hai phần chữ Hán và chữ Việt, nhưng cũng có những quẻ toàn bằng chữ Hán dành cho Hoa Kiều.
Trên đầu quẻ thẻ có ghi bốn chữ Tướng quân linh sấm nghĩa là lời sấm linh thiêng của Tả quân và số quẻ thẻ.
Dưới hàng chữ trên là một bài thơ tổng quát, bằng chữ Hán với lời giải cũng là một bài thơ chữ Hán. Cả hai bài thơ này đều là thơ tứ tuyệt, bài tổng quát ngũ ngôn còn bài sau tứ tự.
Hết phần chữ Hán đến phần chữ Việt, gồm hai bài thơ trên được phiên âm và dịch nghĩa, bài thơ tổng quát ở trên và bài thơ giải ở dưới. Bài thơ
tổng quát được dịch ra thành thơ ngũ ngôn tứ tuyệt còn bài thơ giải được dịch ra văn xuôi.
Đó là mặt trước lá xăm.
Lật lá xăm ra mặt sau, ta thấy lời bàn của quẻ thẻ. Lời bàn này chia ra làm từng mục thơ thứ tự sau:
Bổn mạng - Gia đạo - Mưu sự - Cưới gả - Chiêm bệnh - Cầu tài - Cầu quan - Xuất hành - Kiện cáo và Mất đồ.
Mỗi mục đều có lời bàn rõ ràng để khách xin thẻ muốn cầu điều gì, xem qua mục đó.
Chương trình hội Lăng Ông
Như trên đã trình bày, húy nhật Tả quân Lê Văn Duyệt nhằm ngày 30
tháng 7 âm lịch, nhưng năm nào cũng vậy, hội được tổ chức ba hoặc bốn ngày để khách hành hương đủ thì giờ tới lễ bái, nhất là đối với những người ở nơi xa xôi.
Ban tổ chức hàng năm đều có chương trình cho những ngày hội để khách thập phương tới chiêm bái dự những lễ cúng và những chầu hát cúng đức Thượng công.
Để bạn đọc có một ý niệm và chương trình ngày hội, dưới đây chúng tôi xin lục in lại bản chương trình năm Quý Mão, 1963, chúng tôi còn lưu giữ được.
Ngày 30 tháng 7 Quý Mão (17-9-1963).
7 giờ tới 9 giờ: Bá tánh chiêm bái đức Thượng công và xin xăm.
10 giờ: Đại lễ cúng đức Thượng công. (Diên túc yết)[1]
12 giờ tới 15 giờ: Bá tánh chiêm bái đức Thượng công và xin xăm.
15 giờ: Lễ cúng đức Thượng công
Ngày 1 tháng 8 Quý Mão (18 - 9 - 1963)
15 giờ: Lễ cúng đức Thượng công
7 giờ tới 10 giờ: Bá tánh chiêm bái đức Thượng công và xin xăm.
10 giờ: Lễ cúng đức Thượng công
14 giờ 30: Hát tuồng Ngữ Vân Thiện thất thành Nam Dương Ngày 2 tháng 8 Quý Mão (19-9-1963)
7 giờ tới 10 giờ: Bá tánh chiêm bái đức Thượng công và xin xăm 10 giờ: Lễ cúng đức Thượng công và chiến sĩ trận vong.
14 giờ 30: Hát tuồng: Tống tửu Ô Hắc Lợi đến lúc xử án Bàng Quí phi Ngày 3 tháng 8 Quý Mão (20-9-1963)
7 giờ tới 10 giờ: Bá tánh chiêm bái đức Thượng công và xin xăm Qua bản chương trình trên, ta thấy ban tổ chức đã dành rất nhiều thì giờ
cho dân chúng tới chiêm bái đức Tả quân và xin xăm. Mặc dầu thì giờ
nhiều nhưng trong suốt mấy ngày hội lúc nào lăng và đền cũng đông nghẹt người tới lễ bái và thường phải chen chúc nhau. Khi xin xăm khách phải chờ đợi kẻ trước người sau để quỳ khấn xin keo và lắc ống thẻ.
Lòng dân ta rất sùng kính những vị anh hùng, đức Tả quân Lê Văn Duyệt là một bậc tôi trung lại có công với dân với nước nên được đời đời hương khói phụng thờ, và dân chúng luôn luôn tới lễ đền Ngài, viếng mộ
Ngài, không những trong dịp húy nhật của Ngài mà suốt quanh năm nhất là vào dịp đầu xuân và những ngày ước vọng tuần tiết.
Chút ít sử liệu
Nói tới ngày hội Lăng Ông, lẽ tất nhiên phải nói qua tới thân thế và sự
nghiệp oanh liệt của Ngài.
TIỂU SỬ - Ông Lê Văn Duyệt sinh năm 1764 tại Rạch Gầm, nay là xã Long Hưng, gần rạch Ông Hổ, tỉnh Định Tường (Tiền Giang) nhưng
nguyên quán ông tại xã Tề Lỗ, huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh Phú).
Theo Tiên Đàm trong tạp chí Tri Tân, nội tổ đức Tả quân can tội ngộ sát, phải bỏ làng Tề Lỗ vào sinh cư tại làng Bồ Đề, huyện Mộ Đức tỉnh Quảng Ngãi, nhưng về sau lại vào xã Hòa Khánh thành Định Tường (Tiền Giang).
Đến đời thân phụ Ngài là ông Lê Văn Toại gia đình họ Lê lại rời Hoà Khánh để tới lập nghiệp ở Rạch Gầm.
Tả quân là trưởng nam và có ba em trai.
Lúc nhỏ Ngài có học chữ, nhưng Ngài không ham văn, chỉ chuộng võ, ưa leo cây săn bắn, chọi gà và đánh nhau với trẻ cùng tuổi.
Sách chép rằng, Ngài có ẩn tật tại bộ phận sinh dục. Có lẽ vì thế nên Ngài không chịu nổi đời sống tù hãm với sách vở, chỉ ưa hoạt động.
Năm 16 tuổi, Ngài gặp vua Gia Long, và từ đó Ngài theo nhà vua khi sang Xiêm, lúc về nước lập được nhiều công trạng trong công cuộc chống Tây Sơn cho đến khi vua Gia Long thống nhất sơn hà.
Sắc phong Ngài là Duyệt Quận công cử giữ chức Khâm Sai Gia Định thành Tổng trấn.
Ngài trải thờ hai đời vua Gia Long, Minh Mạng, và mất ngày 30 tháng 7
năm Nhâm Thìn, thọ 69 tuổi, vào năm Minh Mạng thứ 13 (1823).
Ngài được truy tặng chức Thái Bảo và an táng tại làng Bình Hòa nay là làng sở tại tỉnh Gia Định (quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh).
Công lao của Tả Quân với Miền Nam nước Việt Xưa kia vua nước Việt là Câu Tiễn có thù với vua Ngô nước láng giềng là Phù Sai, đem việc đánh báo thù bàn với quần thần.
Quan Thái sư là Văn Chủng tâu rằng:
''Tâu nhà vua, trước khi nghĩ đến đánh báo thù nước Ngô, xin nhà vua hãy tính đến việc no lòng người dân Việt đã. Nước lấy dân làm gốc, dân lấy ăn làm đầu. Dân Việt ta sau mấy năm loạn lạc đang cần được no lòng.''
Quan Thái sư Văn Chủng nghĩ đến cái ăn của dân, nên nước Việt xưa kia đã trở nên mạnh.
Khi là Tổng trấn Gia Định thành, Tả quân Lê Văn Duyệt cũng luôn luôn nghĩ tới việc nuôi dân, Ngài thường nói:
''Muốn trừ trộm cướp không gì bằng nuôi dân... Muốn nuôi dân không gì bằng cho dân ruộng đất để cày cấy.''
Và Ngài cũng đã thực hành lời nói ấy. Năm Minh Mạng nguyên niên, Ngài đã xin với nhà vua cho lập đồn điền trước là để nuôi những kẻ lưu vong, những quân gian phi ra đầu thú sau là để khai khẩn đất hoang của nước nhà. Chính sách này của Ngài đã thành công. Những lưu dân đã chiêu tập những đất đai đã được khai khẩn, rừng đã được phá thành ruộng.
Trấn Gia Định nhờ chính sách này đã được mở mang và trở nên màu mỡ
phì nhiêu. Dân chúng được thịnh vượng phú cường, những phường trộm cắp được dẹp yên, và bờ cõi, với các đồn điền mở rộng cũng lan về phía Cao Miên.
Nhân dân rất cảm mến đức Tả quân và không ai là không biết ơn Ngài.
Sau này, về đời vua Tự Đức, khi cụ Nguyễn Công Trứ lập đồn điền tại các miền Kim Sơn, Tiền Hải cũng là theo gương Tả quân Lê Văn Duyệt đã thi hành ở phương Nam.
[1] Cung yết kính mời