Hội đền Hai Bà TrưngPart 5

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Làng Đồng Nhân là nơi có đền thờ Hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, về phía Nam thành phố. Đền thờ Hai Bà ở

ngay trước cửa nhà máy rượu, cách con đường Yersin Hà Nội (Nguyễn Công Trứ) chừng 500 thước.

Kiến trúc theo lối xưa, đền có một vẻ linh tú nghiêm trang, dưới bóng mát cây đa lớn mọc ngay trước cửa đền.

Hàng năm làng Đồng Nhân mở hội từ ngày mồng ba cho đến hết ngày mồng 6 tháng 2 âm lịch, tuy chánh hội là ngày mồng 5 tháng 2.

Dân chúng Hà Nội và các vùng lân cận kéo nhau tới lễ bái và xem hội rất đông.

Khách trẩy hội tới trước nhà máy rượu đã trông thấy cây đa cổ thụ với những bóng cờ đuôi nheo ngũ sắc bay phấp phới cắm trước cửa đền và ở

hai bên lối vào trong đền. Ở cây đa còn có treo lủng lẳng những đôi hài giấy và những bó vàng hương. Những người đi lễ nói đó là vàng và hài để cúng những người hầu cận hai Bà.

Sơ lược lịch sử và thần tích

Sự nghiệp Hai Bà Trưng chống quân Hán, đã là người Việt Nam, hỏi mấy ai là không biết. Hồi đó nước ta đang nội thuộc nước Tàu dưới đời vua Quang Vũ nhà Đông Hán.

Thái thú quận Giao Chỉ là Tô Định vốn người bạo ngược, chính sách lại tàn ác, lòng dân đều oán giận. Năm Canh Tý, Tô Định giết chết ông Thi Sách, người huyện Châu Diên, nay thuộc phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh Phú).

Bà Trưng Trắc vợ ông Thi Sách, con gái quan Lạc Tướng huyện Mê Linh, nay là làng Hạ Lôi, tỉnh Phúc Yên (Vĩnh Phú), liền cùng với em là Trưng Nhị, nổi lên đem quân về đánh Tô Định. Tô Định thua chạy bỏ

trốn về quận Nam Hải.

Lúc bấy giờ các quận Cửu Chân, Nhật Nam, và Hợp Phố cũng nổi lên theo về với Hai Bà. Chẳng bao lâu Hai Bà thu lại được 65 thành trì. Hai bà tự xưng làm vua đóng đô ở Mê Linh.

Năm sau, năm Tân Sửu (41) vua Quang Vũ nhà Hán, sai Phục Ba Tướng Quân là Mã Viện cùng các Phó tướng là Lưu Long và Đoàn Chỉ đem quân sang đánh Trưng Vương.

Hai Bà chống cự nhưng thế yếu phải lui quân về đóng ở Cấm Khê. Quân Mã Viện đánh đuổi theo. Quân Hai Bà tan vỡ. Hai Bà chạy tới xã Hát Môn, nay thuộc huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây (Hà Tây) gieo mình xuống dòng sông Hát tự tử. Bấy giờ vào ngày mồng 6 tháng 2 năm Quý Mão (43).

Theo thần tích làng Đồng Nhân, khi Hai Bà nhảy xuống sông Hát đề

trẫm mình liền hóa thành đá trôi về địa phận bãi Đồng Nhân. Dân chúng liền lập đền thờ ở xứ Vườn Tịch ngay trên bãi sông. Về sau nước to, đê vỡ, đền đổ nát phải di vào trong đê, ở thôn Hướng Viên, xã Đồng Nhân tức là đền thờ ngày nay.

Tục lệ trong những ngày hội

Hàng năm làng Đồng Nhân mở hội để kỷ niệm Hai Bà từ mồng 3 với lễ

mở cửa đền cho đến hết ngày mồng 6 mới rã đám.

Trong những ngày hội có tế lễ, rước xách, múa đèn theo nhịp trống của con đĩ đánh bồng, và dân làng cũng có mở cuộc đánh cờ bỏi, và buổi tối xưa kia có hát chèo để đồng dân mua vui.

Ngoài ra, trong suốt thời gian có hội, các con hương đệ tử tới lễ bái hầu bóng, xin thẻ vân... vân... cũng như ở hầu hết các đền miếu khác.

Rước

Đám rước ở hội đền Hai Bà được cử hành rất long trọng vào ngày mồng 5 tháng hai âm lịch từ đền ra sông Hồng Hà để thánh giá làm lễ mộc dục tức là lễ tắm mình.

Đám rước có cờ quạt phường bát âm đi trước rồi đến kiệu Hai Bà. Theo sau kiệu là bô lão cùng các quan viên chức sắc mặc áo thụng xanh đội mũ tế. Dân làng theo sau cùng và bao giờ cũng đông.

Đám rước ra tới bờ sông thì Thánh Giá được khiêng xuống một chiếc thuyền. Thuyền này bơi ra giữa sông, lấy nước giữa dòng làm lễ mộc

dục.

Lễ mộc dục xong, dân làng lại rước Thánh Giá về đền và sau đó là những cuộc tế lễ hàng năm theo nghi thức cổ truyền.

Trong khi đám rước cử hành từ đền ra sông và từ sông về, các thôn trong xã đều lập hương án ở bên đường để bái vọng.

Tế lễ

Tế lễ tại đền Hai Bà hàng năm được cử hành ngay sau buổi rước theo nghi lễ cổ truyền với văn tế do ban tư văn trong làng cùng soạn.

Thỉnh thoảng có năm dân làng tổ chức tế nữ quan, việc tế do phụ nữ

hoàn toàn đảm trách, từ chủ tế, bồi tế cho đến các chấp sự viên. Nghi thức lễ cũng giống như khi do các quan viên trong làng cử hành.

MÚA ĐÈN VÀ CON ĐĨ ĐÁNH BỒNG

Đặc biệt trong buổi hành lễ, sau đám tế, tại đền có đoàn vũ công múa đèn theo nhịp trống của con đĩ đánh bồng.

Đoàn vũ công gồm trên dưới mười người, mặc áo dài đen thắt lưng đỏ ra ngoài áo, buộc múi chéo sang bên cạnh sườn, sau nghi thức đám tế, cùng nhau vào múa đèn. Đây là những dân làng đã được chọn trước và đã có tập dượt, thường những người được cử vào công việc này năm trước, năm sau lại được lựa chọn để tránh sự mất công luyện tập. Đèn là những chiếc đài hoặc chiếc đĩa chung quanh có cắt giấy hình cánh hoa dán vào, và ở giữa đài là một ngọn nến đang cháy. Mỗi vũ công cầm hai cây đèn ở

hai tay, đi thành hàng, lượn qua lượn lại trước bàn thờ với những điệu múa nhịp nhàng. Hàng vũ công có khi đi nối đuôi nhau, có khi đi theo những hàng lối khác khi chéo khi thẳng, khi vòng tròn, khi kẻ trước gặp người sau, khi là một hàng, khi tách thành hai hàng đối diện nhau trước bàn thờ, gặp nhau trong điệu múa. Điệu múa rất nhịp nhàng, tay lên tay xuống, những ngọn nến chập chờn, lúc tỏ lúc mờ, không bao giờ tắt và ngọn lửa cũng không bao giờ bắt ra những cánh hoa giấy ở chung quanh.

Dẫn đầu đoàn này là một con đĩ đánh bồng. Đây không phải là một người đàn bà, chính là một vũ công, áo the quần trắng khăn lượt, đeo ngang mình, quàng qua vai bằng những dây vải ngũ sắc một chiếc trống cơm. Sau lưng có cắm chéo lên hai vai, hai hoặc bốn lá cờ đuôi nheo nhỏ. Dáng điệu người này thật là ẻo lả mềm mại.

Dẫn đầu đoàn vũ công múa đèn, con đĩ đánh bồng vừa đi vừa đánh chiếc trống cơm bằng hai bàn tay tạo nên những tiếng bập bập bùng làm nhịp cho điệu múa.

Trong lúc đoàn vũ công múa đèn, dân làng đứng trước bàn thờ, xúm nhau lễ bái.

CỜ BỎI VÀ HÁT CHÈO

Ở một thửa ruộng bên cạnh đền, xưa kia có một bàn cờ bỏi để dân làng hoặc các tay danh kỳ tới đánh cờ mua vui.

Và buổi tối, ngay trước đền có ban chèo tới hát để thờ thần và dân làng xem giải trí.

Văn bia và văn thơ tại đền Hai Bà

Hai Bà đánh đuổi quân Tô Định đã được toàn thể dân Việt nhớ ơn, và được lưu truyền rất nhiều trong thơ văn kim cổ. Đáng kể hơn cả là những thi văn đã được ghi ngay tại đền Hai Bà, xã Đồng Nhân.

Khách trẩy hội đi từ ngoài vào đền ắt phải thấy hai cây cột trụ cao ngất mang một đôi câu đối vì phong sương chỉ còn một vế đọc được. Dù chỉ

đọc lên một vế ta cũng thấy tác giả mỉa mai Mã Viện: SƠN TIÊU ĐỒNG TRỤ TƯƠNG AN TẠI

Nghĩa là:

CHỖ NÚI, ĐÃ NÊU CỘT ĐỒNG CÒN ĐÂU NỮA!

Vế câu đối đã mất chắc ý nghĩa nói đến sự nghiệp nghìn thu của Hai Bà.

Rồi từ cổng đi vào, khách phải nhận thấy một tấm bia đặt trên lưng con rùa đá cổ kính. Bài văn bia do cụ Dương Duy Thành, người làng Phú Thị, phủ Khoái Châu tỉnh Hưng Yên (Hải Hưng) cung soạn khi cụ làm Đốc học Hà Nội.

Ông Hoa Bằng đã dịch bản văn bia đó như sau: Trong vòng vũ trụ, sự nghiệp lạ, phần nhiều ra từ những tay đại trượng phu. Kể phận gái mà làm nên sự nghiệp lạ chẳng cũng là bậc nữ trượng phu ư? Thế lại càng đáng ghi chép lắm?

Nhớ Hai Bà Trưng: người Châu Phong, cha làm Lạc tướng, tổ là Hùng Vương. Kể dòng dõi đã không phải là hạng tầm thường ví được. Huống chi Hai Bà đem tấm thân ngọc trắng giá trong, ôm cái chí cung dâu tên cỏ, thì hoài bão ấy lại không phải vừa. Thủ đoạn làm việc lớn lao chẳng ở đây thì ở đâu nữa!

Kể từ khi nước Văn Lang nửa vời sụp đổ, bờ cõi mất về Thục, Triệu và Lưỡng Hán (Tây Hán và Đông Hán) đã đến vài trăm năm.

Thêm nỗi ngọn lửa bạo ngược của Tô Định lại lưng trời ngùn ngụt bốc.

Hai Bà, vợ vì chồng, em vì chị, phừng phừng nổi giận, cùng dấy nghĩa binh, ném trâm thoa mà mặc nhung phục, nhãng gương lược mà cầm can qua, không đầy vài tháng trời đã lược định đoạt năm mươi sáu thành ở

ngoài Ngũ Lĩnh, dựng nước, xưng vương, đóng đô ở Mê Linh: Chẳng phải sự nghiệp lạ là gì đấy!

Đến như Hai Bà phải lưu giữ ở Cẩm Khê, rồi tuẫn tiết ở Hát Giang!

Cũng là bởi trời chi há nên bình luận anh hùng thành hay bại.

Nhưng xét đến gan dạ kia, mưu lược kia và tiết tháo kia thì Hai Bà thật không thẹn là dòng dõi thần minh vậy.

Sau khi mất, chân thân Hai Bà hóa thành hai pho tượng đá, hiền linh ở

phần sông Nhị.

Năm Đại Định thứ ba (1142) vua Lý Anh Tôn sai lập đền ở bãi Đồng Nhân, huyện Thanh Trì để thờ Hai Bà rất linh ứng. Các triều đại đều có sắc phong.

Hoàng triều ta rất hưng thịnh về mặt điển lễ, đã sắc phong rồi.

Năm trước, chỗ đền cũ hư hỏng vì nỗi sông lở, cát bay đã được chỉ dụ

nhà vua cho dời vào xóm Hướng Viên, huyện Thọ Xương để dân xã tắc thờ phụng.

Nghìn thu hương lửa, dằng dặc với trời đất không cùng.

Nay nhân sửa đền lại, tôi xin kính thuật sự tích Hai Bà để khắc vào bia đá truyền lâu dài.

Ngoài bài văn bia này ở trước cửa đền, vào đến trong đền, ta còn thấy để

ngay trên vách trước bàn thờ một bài thơ nôm của cụ Cúc Hương Hoàng Thúc Hối:

Ngựa Gióng đã lên không,[1]

Rừng Thanh voi chửa lồng.[2]

Nẩy chồi hoa nụ Lạc,

Mở mặt nước non Hồng.

Trăng tỏ gương hồ Bạc.

Mây tan dấu cột Đồng.

Nén hương lòng cố quốc.

Xin khấn một lời chung.

Ngoài văn thơ trên, ta được đọc ngay ở đền thờ Hai Bà tại làng Đồng Nhân, còn biết bao văn thơ khác đã nhắc tới Hai Bà.

Cụ Dương Bá Trạc, trước mọi dư luận có ý ám chỉ Hai Bà vì tư thù mà đuổi quân Hán, đã phân tích rõ hành động của Hai Bà là vì nghĩa công chứ không phải thù riêng:

Nước nhà gặp cơn bĩ,

Trách nhiệm gái trai chung.

Quyết lo đền nợ nước,

Há những vị thù chồng!

Tham tàn căm tướng chệch,

Tai mắt tủi nòi Hồng.

Em ơi đứng cùng chị,

Thù riêng mà nghĩa công.

Xin đem phận bồ liễu.

Đánh liều với non sông!

Soạn giả tập sách này, nhân viết tới ngày lễ kỷ niệm Hai Bà, cũng đã xin có bài thơ cung vịnh:

Nêu gương muôn thuở gái Châu Phong,

Chị cũng như em quyết một lòng:

Hận nước lấy binh đao rửa sạch,

Thù nhà đem cung kiếm đền xong.

Ba năm uy trấn miền Nam Việt,

Một trận lừng danh gái Lạc Hồng.

Miếu Hát bên sông còn dấu tích,

Lĩnh Nam cân quốc nữ anh hùng.

Đền xã Hát Môn

Hai Bà là anh hùng dân tộc, việc thờ phụng Hai Bà không phải chỉ riêng ở làng Đồng Nhân, ở nhiều nơi khác cũng có đền thờ.

Xã Hát Môn huyện Phúc Thọ tỉnh Sơn Tây (Hà Tây), nơi Hai Bà trẫm mình, ngay bên bờ sông Hát Giang cũng có đền thờ tục gọi là miếu Hát.

Vị trí địa dư và thần tích theo dân xã Hát Môn Muốn tới miếu Hát, từ Hà Nội phải đi theo quốc lộ Hà Nội, Sơn Tây cho tới cây số 26 rẽ sang tay phải, đi vào con đê một quãng. Xã Hát Môn nằm ngay ven đê.

Xã này là một vị trí chiến lược quan trọng, xưa kia Hai Bà muốn dùng để

quyết định thắng bại sau cùng với quân Mã Viện.

Hát Môn ở ngay cửa sông Đáy, một phụ lưu sông Hồng Hà, và ở quãng này mang tên là sông Hát. Nơi này vừa cách xa nơi đóng quân của Mã Viện ở Tây Hồ và cũng cách xa Mê Linh nay thuộc Phúc Yên nơi đóng đô của Hai Bà. Mê Linh, cách Hát Môn hơn 7 dặm, vào khoảng 30 cây số ngày nay, do Trưng mẫu là bà Man Thiện đóng quân giữ thành. Lúc đó đạo tiền quân của Hai Bà đóng ở Lạng Sơn dưới quyền chỉ huy của bà Thánh Vẽ và bà Phùng Thị Chính, mắc mưu quân giặc đã bị thua ở Bắc Giang Hà Bắc. Hai Bà có một căn cứ thủy quân ở Tây Hồ, nhưng lúc này, sau trận thua quân ở Bắc Giang căn cứ này không còn là hậu cứ yểm trợ cho đạo tiền quân ở Lạng Sơn và đạo tiền quân ở Bạch Đằng nữa, đạo quân ở Bạch Đằng do bà Lê Chân điều khiển. Hai Bà rút quân về

sông Hát, giao quyền chỉ huy đạo quân Tây Hồ cho bà Cao Nhự. Ở Hát Môn, Hai Bà chuẩn bị phòng tuyến thứ nhì chờ ngày chạm địch. Lúc đó

là ngày mồng 4 tháng 9 âm lịch, năm 39 tây lịch. Tại đây Hai Bà cho giết trâu mổ bò khao quân để khích lệ 7 vạn tân binh do bà Man Thiện mới tuyển mộ. Kế hoạch được bố trí, ngày 24 tháng Chạp năm đó, đội quân của bà Cao Nhự đóng ở Tây Hồ, trá bại rút về Mê Linh. Quân Mã Viện đuổi theo nhưng tới cửa sông Hát chúng bị Hai Bà đổ quân ra đánh, và cùng lúc bà Cao Nhự cũng quay lại phản công.

Lưỡng đầu thụ địch, quân Mã Viện đại bại phải lui về Tây Hồ cố thủ để

chờ Lưu Long mang thêm 50.000 quân từ sông Hồng Hà kéo lên mới lại dám tiến đánh vị trí đóng quân của Hai Bà.

Trong trận này, lúc đầu Hai Bà có thắng, nhưng sau vào ngày mồng 6

tháng Ba năm 43, quân Mã Viện kéo tới đông, Hai Bà chống không lại phải gieo mình xuống sông Hát để đền nợ nước. Trận này Mã Viện tuy thắng nhưng cũng bị hao binh tổn tướng.

Thắng quân Hai Bà, Mã Viện tự cho mình là anh hùng, hắn đã ăn cắp chiếc trống đồng Ngọc Lũ của nước Nam, tự đúc tượng mình, một tay cầm gươm, một tay nắm tóc Bà Trưng để tại Liễu Châu khoe công trạng mình. Hắn quên mất rằng, hắn suýt chết dưới lưỡi gươm của Hai Bà đã phải lui quân về Tây Hồ để chờ quân cứu viện.

Sự tích trên, cho tới trước năm 1945, người dân nào ở xã Hát Môn cũng nhớ, họ nhớ như câu chuyện mới xảy ra hôm qua. Họ còn nhắc lại cả

chuyện bà hàng bán bánh trôi đã dâng bánh Hai Bà xơi trước cửa dinh, khi Hai Bà xuất trận lần sau cùng. Và tại miếu Hát, có thêm cả đền thờ

bà hàng bánh trôi, dưới gốc một cây đa cổ thụ.

Giặc đến nhà đàn bà phải đánh, người dân Hát Môn không quên lịch sử

oanh liệt của làng mình đã là nơi dụng binh của hai vị nữ anh hùng dân tộc, và họ truyền tụng nhau thi ca về sự tích Hai Bà: Tay tiên phất ngọn cờ đào,

Sáu mươi thành quách thu vào một tay.

Cơ quân gặp bước không may, Than ôi! Sông Hát, nước nay là mồ!

Mảnh gương tiết nghiã chưa mờ,

Muôn thu giọt nước Tây Hồ vẫn trong!

Theo thần tích trên, Hai Bà đã thua quân tự trẫm mình vào ngày mồng 6

tháng Ba, không phải ngày mồng 6 tháng Hai như sự tích ghi trong sử, chép theo thần tích xã Đồng Nhân.

Những ngày lễ tại Miếu Hát

Dân xã Hát Môn không phải chỉ làm lễ kỷ niệm một ngày mồng 6 tháng Ba, ngày Hai Bà tuẫn quốc, nhưng họ đã làm lễ kỷ niệm một năm ba lần theo ba giai đoạn hành quân của Hai Bà.

Ngày mồng 6 tháng ba

Ngày Hai Bà tuẫn quốc, ngày hôm nay dân làng làm bánh trôi để dâng lên Hai Bà, kỷ niệm ngày Hai Bà từ giã nhưng cũng là kỷ niệm ngày Hai Bà ra quân trận sau cùng, và nhắc lại lòng thành kính của người dân đối với Hai Bà ngay từ lúc sống: một bà hàng bánh trôi đã dâng bánh trôi lên Hai Bà!

Theo dân làng Hát Môn, sự tích bánh trôi của Việt Nam khác hẳn sự tích bánh trôi của người Tàu làm để kỷ niệm Giới Tử Thôi trong ngày Hàn thực.

Bánh trôi Việt Nam dựa theo sự tích trăm trứng nở ra trăm con của bà Âu Cơ. Bởi dựa theo sự tích này nên dân xã Hát Môn nặn bánh trôi theo hình quả trứng. Để dâng Hai Bà bánh được nặn đúng 100 viên rất nhỏ và sau khi tế thân xong dân làng đem 49 viên đặt vào lòng một bông hoa sen thả ra sông Hát để trôi ra biển, người ta nhìn những viên bánh trôi trôi đi…[3]

Trong khi cúng tế Hai Bà, dân xã Hát Môn không quên bà hàng nước.

Họ cũng dâng bánh cúng bà. Đền bà dưới gốc cây đa ở ngay cửa đền Hai Bà.

Tục ăn bánh trôi ở xã Hát Môn

Dân Việt Nam ta thường trong mấy ngày sóc vọng về tháng Ba âm lịch có tục cúng bánh trôi bánh chay, gọi là trôi nước. Cúng vào tháng Ba, nhưng thường bánh trôi xuất hiện ngay từ giữa tháng Hai.

Dân làng Hát Môn không bao giờ và không ai dùng bánh trôi trước ngày mồng 6 tháng Ba.

Ngày hôm đó, trong khi ở đền cúng Hai Bà, tại các tư gia người ta cũng làm bánh trôi để cúng tổ tiên, và chỉ sau những cuộc cúng lễ này, người ta mới ăn bánh trôi.