CHƯƠNG II · XIIPhần 24

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

Thật đúng, như ta thường nói sống lâu mà chết chóng ! Thời gian thấm-thoát trôi qua rất mau lẹ. Kể từ ngày ông đồ nhắm mắt, tang ma xong chẳng mấy chốc tới ngày rằm đầu tiên, rồi lần lần rằm này qua, mồng một đến thoi đưa vùn-vụt đã tới tuần tứ-cửu.

Ngày rằm đầu tiên, bà đồ cho sửa lễ trịnh-trọng để cúng chồng. Cúng ở

nhà rồi lại cúng ở mộ. Bà đồ lại khóc-lóc đau-đớn, và Tiệp cũng lại than-van kể-lể.

Mới có mấy ngày, nghĩa vợ chồng, tình ruột thịt phải đâu dễ khuây trước cảnh đau buồn tử-biệt.

Rằm trước rồi đến rằm sau qua ngày mồng một. Mỗi lần mồng một hay rằm, nhà bà đồ đều có lễ cúng ông đồ, và có mời sư tới tụng kinh cầu nguyện cho vong-hồn ông.

Trong những buổi lễ này, ngoài người nhà cũng có một số học-trò tới cúng thày, chia nhau ra thăm mộ thày.

Thỉnh-thoảng, một người bạn quen ở xa, một người học-trò cũ đang trọng-nhậm tại một nơi sơn cùng thủy tận nào được tin tới viếng lại là một dịp để bà đồ kể-lể nỗi thương đau.

Trước nỗi buồn của bà đồ, khách viếng không khỏi mủi lòng. Người bạn cũ nhắc lại sự thân-mật, tình liên-lạc giữa mình với ông đồ, và bao nhiêu kỷ-niệm cũ được nói tới để khen ngợi người đã khuất và để an-ủi người còn sống.

Còn các học-trò cũ, nhờ ông đồ tác-thành, mà lúc ông đồ trăm tuổi lại không được dự lễ tang tống chung, ai nấy đều ân-hận. Họ lễ trước bàn thờ

thày, họ nhờ người nhà bà đồ đưa ra mộ để họ được lễ mộ thày, đắp thêm một nắm đất, cắm một nén hương.

« Nhất tự vi sư, bán tự vi sư » huống chi ông đồ đã dạy họ suốt ngày này sang ngày khác, rèn luyện để cho họ nên người !

Ngoài những buổi có khách hoặc học-trò cũ của ông đồ tới viếng, cuộc sống ở nhà bà đồ luôn luôn đượm vẻ u buồn, và những buổi chiều tà, những

đêm vắng lặng, bà đồ lại càng nhớ thương chồng, và rất nhiều lúc bà không sao cầm được giọt lệ.

Cảnh nhà hiu-quạnh càng hiu-quạnh thêm, trong những lúc Tiệp về nhà Khoan, trong lúc người nhà phải ra đồng để trông nom ruộng mạ, săn sóc lúa ngô.

Cuộc sống bình-thường sau đám tang bắt buộc phải trở lại.

Bà đồ nhiều lúc như chán-nản, không muốn trông nom lấy việc nhà, giao mọi quyền cho vợ chồng Vinh.

Bà chỉ ngày ngày quanh-quẩn trong nhà lo đèn dầu hương nến bàn thờ

chồng. Có những lúc bà ngắm ảnh ông đồ rất lâu trên bàn thờ rồi òa lên khóc.

Vinh cũng như Tiệp luôn luôn an-ủi mẹ.

Tuần tứ-cửu của ông đồ đã tới.

Tứ-cửu là bốn chín ngày sau đám tang. Những người theo đạo Phật thường nhân ngày này làm chay để cho hương-hồn người chết được siêu độ.

Trong buổi lễ, bài-vị người chết được mang tới chùa làng. Ở đây, các vị sư

tụng kinh sám hối để cầu xin Đức Phật tha-thứ cho mọi tội lỗi của người qua.

Lễ tứ-cửu của ông đồ được cử-hành long-trọng.

Bà đồ muốn vong-hồn chồng được ăn mày nương cửa Phật, và các học-trò đều muốn dự phần trong buổi lễ tứ-cửu của thày.

Ngoài lễ trên chùa, trong nhà cũng làm cỗ bàn để mời dân xã, nhất là những người đã giúp đỡ trong đám tang hoặc đã phụ trách một công việc gì trong buổi đưa đám. Tình đoàn-kết trong dân xã bao giờ cũng có, và sự giúp đỡ của dân làng trong những lúc hoạn-nạn tang ma thật là quý-báu. Nhân ngày tứ-cứu, nhà bà đồ làm cỗ để mời họ hàng làng nước như để tạ ơn mọi sự giúp đỡ trong buổi tang.

Cỗ ở nhà, cỗ ở trên chùa.

Trên chùa là cỗ chay mời thân-bằng cố-hữu cùng các cụ bà đã đội long-kiều và tụng kinh hôm đưa đám ông đồ.

Ngay từ buổi sáng, bài-vị ông đồ đã được đưa lên chùa. Người nhà chia nhau túc-trực ở chùa để tiếp khách và để sửa lễ cúng theo lời chỉ dẫn của các vị sư.

Sau khi lễ-vật đã bày đủ, các vị sư, đúng là bảy vị cùng nhau đọc kinh sám hối. Người nhà luôn thay phiên nhau vào lễ Kinh.

Các khách-khứa, con cháu và học-trò lần lượt vào lễ Phật lễ Kinh rồi lễ

cả bài-vị của ông đồ.

Bọn học-trò nam hôm đó có mặt cả Thúc, và trong bọn học-trò nữ thì có Thảo và Hoài. Tiệp trông gầy đi, nhưng trong cái gầy mảnh-rẻ, nàng càng có duyên hơn và vẻ đẹp càng như quyến-rũ. Đôi mắt long-lanh lệ, trông nàng càng xinh hơn với dáng điệu êm-ái dịu-dàng xưa nay.

Tiệp đưa các cô bạn vào lễ.

Hoài nói : « Trong chị gầy đi. Chắc chị lo nghĩ nhiều ».

Tiệp đáp : « Em thương thày em lắm. Lắm lúc em tưởng như thày em còn sống ».

Thảo hỏi : « Chị đã về đằng nhà anh Khoan chưa ? »

- Em vẫn khi đi khi về. Đẻ em độ rày buồn, nếu em ở lại luôn đằng kia, nhà vắng vẻ, đẻ em càng buồn thêm.

Lễ Phật, lễ Kinh xong hai cô vào lễ bài-vị ông đồ.

Đứng trước bài vị thày học, Hoài nhớ thày hơi rơm-rớm lệ. Tiệp cũng thấy nước mắt tự trào ra.

Từ lúc đến chùa, Thúc vẫn để ý đến Tiệp. Tuy chàng cũng lễ các bàn thờ như những người khác nhưng mắt chàng thường hướng về phía Tiệp.

Chàng thấy Tiệp đủ mọi vẻ đẹp, người yểu-điệu thanh-thoát, điệu-bộ duyên-dáng dịu-dàng, lời nói hiền-từ khả-ái. So-sánh, chàng thấy Tiệp hơn Thảo

nhiều quá. Chàng tự nghĩ nếu Tiệp là vợ chàng có phải cuộc đời chàng đầy-đủ hạnh-phúc biết bao nhiêu !

Tiệp biết Thúc vẫn nhiều theo mình nên vẫn cố ý tránh tầm mắt của Thúc. Tự nhiên nàng thấy sợ Thúc vô cùng. Có Thảo đấy mà Thúc vẫn cứ

nhìn theo nàng. Nàng tránh tầm mắt của Thúc, nhưng Thúc lại cố tìm cớ để

tới gần nàng. Thật là khó xử. Ngộ Thảo hiểu lầm thì thật là một điều phiền.

Nàng bảo Thảo : « Anh chị sống với nhau sung-sướng nhỉ ! »

Thảo cười nói : « Vợ chồng mới, ai chẳng vậy, cứ riêng gì em ».

Tiệp nói : « Ấy thế mà em khác, em chưa sống hẳn bên đằng nhà em.

Đẻ em bảo hết tuần tứ-cửu này của thày em, em sẽ về ở hẳn bên đó ».

Khách-khứa càng đến đông. Tiệp và mấy cô học-trò chia nhau ra tiếp khách mời giàu nước. Trong lúc ấy, Vinh và Khoan vẫn đứng đáp lễ ở bên bài-vị ông đồ, thỉnh-thoảng mới chạy ra.

Tiệp đang mải với các khách, bỗng Thúc tới cạnh. Thúc bảo nàng :

« Chắc chị Tiệp ghét tôi lắm nhỉ ? »

Tiệp không nhìn lên đáp : « Xin anh đừng nghĩ vậy. Tôi chẳng để ý gì cả. Dứt lời, nàng bỏ đi chỗ khác ».

Sau mấy tuần kinh, các khách-khứa ở lại chùa dùng cơm chay, cho đến gần chiều ai nấy mới ra về.

Ở lại chùa chỉ còn tang-quyến lo dọn-dẹp.