CHƯƠNG II · VIPhần 18
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Có hai cách chiêu-hồn 3. Thày pháp có thể niệm chú chiêu-hồn người chết qua một tuần hương để hồn nhập vào một tàu chuối cắt thành hình người, nhưng đối với ông đồ, người nhà đã xin thày pháp làm phép « chiêu-hồn bạch ». Thày pháp đắp trên mặt ông đồ một tấm lụa trắng dài 7 thước ta
4 rồi khấn-khứa để hồn vía người chết nhập vào. Tấm lụa trắng được tết nhang-nhác hình người và sẽ được thờ tại linh-sàng.
Lễ chiêu-hồn ông đồ đã xong. Ông thày đã bấm giờ lâm-chung của ông đồ để biết ông đồ có bị nặng giờ không. Ông đồ đã may-mắn chết vào giờ
lành, không bị các ác thần ám-ảnh lại còn được hai cái nhập mộ, tức là chết nhằm giờ có linh thần phù hộ để giữ-gìn chống thần trùng cho người chết.
Theo quan niệm của người Việt-Nam và người Trung-Hoa người chết có thể gặp giờ xấu bị thần trùng tới tra-khảo để bắt chết thêm người nhà, nhất là vợ con, hoặc được những giờ tốt các thần linh phù-hộ, không sợ bị
thần trùng.
Những người bị thần trùng ám, thường thần này tra khảo tại mộ bắt chỉ
cho con cháu. Muốn trị thần trùng phải có pháp-sư làm bùa phép cúng. Ông đồ không bị nặng giờ, con cháu đều mừng.
Sau lễ chiêu-hồn tới lễ khâm-liệm.
Tự tay Vinh quấn vào người ông đồ một tấm vải trắng dài suốt từ cổ tới chân. Trong lúc liệm, thày pháp cũng khấn vái để vong-hồn người quá cố
được rõ.
Liệm xong là lễ nhập-quan. Lễ nhập-quan rất quan-trọng. Cả gia đình đều có mặt tại lễ này. Bà đồ và các con khóc-lóc thảm-thiết. Đã nhập-quan, người nhà không còn được nhìn mặt ông đồ nữa. Từ đây thật là vĩnh-biệt.
Tiệp sấn tới bên thây cha lăn-lộn khóc-lóc. Nàng như cố muốn níu lấy hình dáng của cha già để ghi trong tâm-khảm lần cuối cùng. Rồi đây tiềm thức của nàng sẽ luôn luôn có bóng người cha thân mến.
Lũ học-trò ông đồ cũng tham-dự lễ nhập-quan. Các cô học-trò cũng khóc-lóc như Tiệp. Tình thày trò sâu nặng, thày còn hơn cha.
Lễ nhập-quan xong, người nhà và bọn học-trò ông đồ chia nhau canh gác áo quan. Chiếc áo quan của ông bằng gỗ vàng tâm, sơn son thiếp vàng do chính ông đồ đã sắm từ trước.
Đó là một tục lệ lo xa của người Việt. Mỗi khi tới tuổi già thường tính đến ngày về cõi chết, và thường sắm sẵn bộ áo quan mà các cụ gọi là cỗ thọ.
Trong áo quan có lót một lượt chè mạn thơm. Chè này dùng để ướp xác người chết, giữ cho xác lâu phân chất, và khỏi tỏa ra mùi hôi-hám.
Xác ông đồ được người nhà khiêng đặt vào trong áo quan, trong khi thày pháo niệm chú khẩn-khừa.
Người nhà cho đặt vào áo quan tất cả những đồ dùng thường nhật của ông đồ : quần áo, sách vở, kính, giày v.v… Ngoài ra, thày pháp lại lấy một cổ tổ-tôm rắc lên khắp người ông đồ trước khi nắp áo quan đóng lại. Theo sự tin-tưởng cổ tổ tôm có thể trừ được tà ma.
Áo quan đã đậy nắp. Một bát cơm bông đặt trên nắp áo quan : đấy là một bát cơm thật đầy, có một quả trứng luộc bóc vỏ để trên. Một thanh que tre nhỏ, một đầu được vót dua như một bông hoa cắm qua quả trứng thấu tới bát cơm.
Sau lễ nhập-quan là lễ thành-phục. Nhiều nơi, người ta chiêu-hồn người chết, làm lễ nhập-quan rồi, nếu có con cháu cần cưới chạy tang, lễ
cưới mới cử hành. Lễ cưới chỉ cần xong trước lễ thành-phục tức là lễ phát phục, nói nôm là lễ phát tang. Nếu đám cưới không kịp cử hành trước lễ
phát tang, đôi trai gái phải chờ cho đoạn tang mới được lấy nhau.
Bà đồ khóc-lóc kể-lể thảm-thiết, ôm lấy áo quan kêu gào, rồi lăn-lộn bên cạnh. Các bà con xúm nhau khuyên-giải nhưng nỗi đau đớn của bà phải đâu mỗi lúc vơi được ngay. Bà vẫn khóc. Mắt bà sưng mọng lên.
Tiệp cũng thương cha. Nàng cũng ôm lấy quan tài. Nàng không kêu gào nhiều, nhưng nhìn nàng người ta biết nàng đau-đớn.
Từ bé, luôn luôn ở cạnh cha mẹ, nay mất cha, tuy còn mẹ, nhưng nàng cũng vẫn thấy thiếu-thốn sự trìu-mến nghiêm-khắc, chỉ còn lại sự trìu mến dịu dàng.
Khoan tìm lời an-ủi, nhưng an-ủi nào làm nguôi cho ngay được nỗi đau tử biệt.
Vợ Vinh cũng khóc, nhưng khóc rất lớn và kể-lể rất dài. Nàng tuy có thương cha chồng, nhưng đau-đớn sao bằng bà đồ và Tiệp. Nàng phải khóc theo tục-lệ tang-chế của Việt-Nam, nhưng vì không thấy thấm thía sự xót thương, cho nên trong tiếng khóc, nàng phải lấy lời kể-lể thay vào sự bi ai buồn thảm.
Họa cùng tiếng khóc của mấy mẹ con bà đồ, có những tiếng khóc và lời than của các chị em ông đồ bà đồ, của bà cô bà thím họ hàng xa gần và của
cả các cô học trò vẫn được ông đồ thương mến.
Kể từ lúc nhập quan, người nhà phải luôn luôn có người ngồi cạnh để
canh chừng không cho một sinh vật nào nhẩy qua. Người ta tin rằng, nếu người chết đặt nằm một chỗ, chẳng may có một con vật nào nhẩy qua như
con mèo, con chuột hoặc bất cứ một con gì, người chết có thể bị quỷ-nhập-tràng, nghĩa là bừng sống lại, nhưng đây không phải là hồn người trở lại, mà chính là hồn quỷ sẽ nhập vào xác người. Trong trường hợp này phải có thày pháp cao tay mới ếm bùa trị nổi.
Người nhà họ hàng bà đồ đông, lại thêm học-trò ông đồ cũng nhiều, nên luôn luôn có người ở cạnh áo quan.
Một ban nhạc đám đã được mời tới để thổi kèn đám tang.
Giọng kèn « tò e tí ỏi » dài dài buồn buồn bắt đầu vang lên theo tiếng khóc kể từ lúc tang gia có lễ phát-phục, tức là lễ phát quần áo khăn tang cho con cháu.
Khi ông đồ vừa nằm xuống bà đồ đã nhờ người nhà mua sẵn vải xé khăn và may sẵn tang-phục cũng như mua giàu cau và mọi thứ cần dùng cho tang-lễ.
Có hai loại vải để xé khăn.
Vải sô xé cho vợ, con và dâu. Ngoài khăn tang còn y phục để tang nữa.
Theo lễ ngũ phục, quần áo tang có năm loại khác nhau tùy theo người để tang là con cháu hoặc họ xa gần với người chết.
Vợ, con trai, con gái và dâu người chết ăn mặc « đại tang » và để tang 3
năm. Tang phục của những người nầy gồm một chiếc áo và một chiếc quần bằng vải thô sổ gấu, lưng có may trái sống nghĩa là đường chỉ ở giữa sống lưng may ngược ra ngoài. Trên lưng lại có miếng vải bấu hình vuông tượng trưng sự đau đớn của người để tang. Đằng trước ngực cũng có một miếng vải bấu gọi là thôi, tượng trưng sự nát tim não ruột của kẻ làm vợ làm con.
Người để tang còn mặc ở ngoài bộ quần áo tang, một chiếc áo sô bằng vải màn, cũng may theo kiểu chiếc áo tang để mặc trong lúc tế lễ và đưa đám,
và phải thắt ở ngoài cùng một chiếc giây lưng bằng giây chuối. Chít trên đầu là một chiếc khăn sô, quấn quanh đầu có một vòng và thắt múi dài ở đằng sau, thõng xuống lưng.
Người con trai người chết phải đội một chiếc khăn quấn bằng giây chuối và chống một chiếc gậy tre hoặc gậy vông tùy theo cha hay mẹ chết, trong lúc tế-lễ cũng như trong khi đưa người chết tới nơi an nghỉ cuối cùng.
Người đại tang đi giày cũng phải dùng màu trắng.
Những quần áo đại tang, tang chủ phải giữ trong ba năm. Sau đám tang, tang phục nầy được để ngay dưới bàn thờ người chết và chỉ đốt đi khi đoạn tang sau lễ trừ phục.
Cháu gọi người chết bằng ông bà, con rể để tang bố mẹ vợ, cháu để
tang chú bác, bố mẹ để tang con hoặc dâu, anh chị em ruột để tang nhau gọi là tang « cơ niên ». Người để tang phải chịu tang một năm. Tang-phục gồm khăn trắng và quần áo trắng may theo kiểu thường, bằng một thứ vải nhỏ
mặt đỡ thô hơn loại vải đại tang. Ngày nay người ta thường dùng loại vải thường.
Sau tang cơ niên là tang « đại công », mang trong chín tháng. Chắt để
chở các cụ, anh chị em rể để chở nhau, cháu để chở cô chú họ, anh em con chú con bác để chở nhau mang tang đại công. Trang phục giống như tang cơ
niên, duy có chắt để tang cụ thì chít khăn vàng.
Kế đó là tang « tiểu công » mang trong năm tháng. Cháu để chở cậu và dì, anh em cô cậu hoặc cháu chú cháu bác để chở lẫn nhau, chú và cô để chở
cháu mang tang tiểu công. Tang phục cũng giống như tang cơ niên.
Sau cùng là tang « ty ma » mang trong ba tháng. Người ta còn gọi tang này là tang mọn. Chút để chở các kỵ, cậu và dì để chở cháu, anh em cháu cô cháu cậu để chở lẫn nhau, bố mẹ để chở chàng rể, con để chở mẹ ghẻ hoặc nhủ mẫu mang tang ty ma. Tang phục màu trắng bằng vải thường, nhưng chút để chở kỵ thì chít khăn đỏ.
Ngoài năm loại tang trên, học-trò cũng để tang thày và hàng xóm cũng để tang nhau trong ba ngày, đúng như câu ca dao :
« Hàng xóm để chở ba ngày.
Chồng cô vợ cậu một ngày cũng không ».
Nếu người chết không có con trai, người ăn thừa-tự sẽ để đại tang như
chính người con, cũng như trường hợp người cháu đích-tôn phải để tang ông theo đại tang nếu cha mình đã chết.
Bà đồ đã cho xé khăn và phân-phát quần áo tang cho con cháu họ hàng đúng theo tục-lệ.
Tên họ và tên húy ông đồ được viết trên một tấm lụa hồng dài cùng với chức-tước của ông, để treo lên minh-tinh khi đưa đám.
Đồng thời một tấm lụa màu đỏ cũng viết những chữ như tấm lụa trên, được dán vào bài vị ông đồ.
Linh-sàng và linh-tọa, tức là giường và ghế của người khuất đã được thiết-lập.
Trong lúc làm lễ phát-phục, tất cả quần áo tang được đặt trước bài vị
ông đồ. Nén hương được thắp lên và các con cháu lần lượt mặc tang-phục đứng trước linh-sàng dự lễ.
Lễ phát-phục xong, toàn thể người nhà đều mặc màu trắng. Tiếng kèn kéo dài của dàn kèn, màu trắng đục của quần áo vải sô như tăng nỗi đau-đớn của bà đồ và Tiệp.
Từ đây âm-dương đôi ngả, ông đồ đã ra người thiên cổ. Bộ tang-phục phải chăng đã ngăn cách kẻ khuất với người còn.