CHƯƠNG II · XPhần 22
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Nhà trạm cất lên ở giữa đường từ nhà đến huyệt. Đây là một ngôi nhà nhỏ mới cất lên bởi tang gia. Nhà bằng tre vách nứa lợp lá, nhưng đã được trang-hoàng rất xứng-đáng với đám tang.
Chung quanh vách, bên trong nhà đều căng vải mới. Bên ngoài có cắm cờ ngũ sắc và treo đèn kết hoa.
Ở giữa nhà có đặt bài-vị của ông đồ, trong đó có hai chữ thần chủ thì chữ chủ mới có ba nét như chữ tam.
Ông Tiên-chỉ làng Kim-Đôi, một vị hưu quan có danh tiếng đã được tang-gia mời tới để làm đề-chủ.
Trong nhà trạm có sẵn trầu nước, điếu thuốc để mọi người đưa đám tạm dùng trong lúc nghỉ-ngơi.
Cỗ đòn rồng ngừng ngay trước nhà trạm. Tiếng khóc vẫn không ngừng.
Người nhà tang chủ thận trọng mời mọc mọi người đưa đám vào trong nhà trạm hút thuốc sơi nước. Những người nào không vào nhà trạm đã có người mang cơi giầu bình nước tới tận nơi mời. Tang chủ thật đã chu-đáo.
Ông tiên-chỉ giữ vai đề-chủ đã có trước ở trong nhà trạm.
Việc mời đề-chủ để viết trọn chữ chủ chỉ thấy có trong những đám tang long-trọng, nhất là của các tay văn-tự.
Người đứng đề-chủ phải là một vị quan đang tại chức hoặc một vị hưu-quan nhưng đã đỗ đại khoa. Vị này chỉ lấy bút mực chấm chữ tam thành chữ
CHỦ, nghĩa là phải chấm một nét trên đầu và xổ một dọc thẳng ở dưới.
Đề-chủ có một người phụng-chủ phụ-tá. Người phụng-chủ này bưng bài-vị người chết từ bàn thờ tới chỗ ông đề-chủ ngồi, đợi ông đề-chủ viết xong lại mang bài vị trở lại bàn thờ.
Ông đồ Ngư là một tay văn-học, lại là thày học có nhiều học-trò đã làm nên, bởi vậy dù tang-chủ muốn giản-tiện cũng không được, các học-trò muốn đám tang thày được linh-đình với đủ mọi lễ-nghi để tỏ lòng biết ơn đối với thày. Mọi sự tốn kém các trò cũ mới đều chia nhau chịu.
Lễ-vật đối với vị đề-chủ rất sang-trọng. Thường thường ngoài tiền nong và lễ-vật riêng, vị đề-chủ được hưởng hết những vải lụa căng quanh vách trạm, những đồ-đạc bàn ghế bày trong nhà trạm.
Lễ đề-chủ rất long trọng. Ông tiên-chỉ trịnh trọng cầm bút chấm mực, thoạt đầu chấm nét trên đầu rồi vạch nét xổ.
Tang-chủ, các bạn-hữu ông đồ và cả những học-trò của ông đồ đều xúm quanh vị đề-chủ để xem vị này viết xong nét chấm và nét xổ cho chữ CHỦ.
Sau đó vị phụng-chủ lại bưng bài-vị trở lại bàn thờ.
Tang-chủ cám ơn hai vị đề-chủ và phụng-chủ, một lần nữa mời mọi người ăn trầu, hút thuốc và uống nước, trước khi đám tang lại tiếp-tục diễn-hành.
Đám tang thẳng phía nghĩa-địa làng tiến tới.
Phường tuồng dẫn đường vẫn đi đầu với lũ con trẻ rất đông chạy theo từng bước. Những lá cờ, những câu đối, những bức trướng phấp-phới bay.
Tiếng trống tiếng kèn, nhạc bát-âm hòa điệu cùng tiếng khóc.
Mặt trời đã lên cao. Ánh nắng rung-rinh phản chiếu trên những mặt kính, trên những tờ trang-kim long-lanh của chiếc nhà táng đang chầm chậm
tiến theo bước của bọn đô-tùy.
Các cụ bà đội long-kiều mồm không ngớt niệm Phật, cầu kinh.
Đám tang đi bước một, nhưng thủng-thẳng cũng đã tới huyệt.
Bọn phường tuồng nhảy vào huyệt múa hét. Vai thần Hổ chồm lên, bước xuống ngửi từ phía huyệt như tìm kiếm tà-ma.
Các Thiên tướng đi chung quanh huyệt vừa múa vừa hát những câu bùa trấn-áp.
Sau khi nhảy múa hò-hét một lúc bọn phường tuồng cả năm người đều vội-vã bỏ ra về, mỗi người đi mỗi ngã, không ai trở về lối đã đi.
Bọn đô-tùy cũng vừa khiêng đòn tới huyệt. Họ từ từ hạ cỗ đòn theo hiệu của người chấp-lệnh rất điều-hòa ngay-ngắn.
Bây giờ là lúc phải làm lễ Thổ-thần tại nơi cất mộ.
Đồ lễ cúng Thổ-thần gồm có gà xôi vàng mã. Vị pháp-sư tụng niệm khấn vái, cầu xin với Thổ-thần cho linh-hồn người chết được nương-tựa nơi đây.
Cùng trong lúc ấy, người nhà tang-chủ mang hương tới cắm tại những ngôi mộ ở chung-quanh như có ý để vong-hồn ông đồ làm thân cùng vong-hồn những người đã khuất trước.
Sau đó là lễ hạ-huyệt. Lễ hạ-huyệt cũng có văn-tế riêng.
Những người đô-tùy nâng chiếc nhà táng đặt sang một bên. Chiếc nhà táng sẽ bị hỏa-thiêu để biến thành nhà ở cho ông đồ dưới cõi âm, nhưng cũng như thường xẩy ra, khi hàng giáp mang nhà táng ra đốt, các trẻ em xô nhau vào cướp từng mảnh : đứa này được cái cửa nhà, đứa kia được mảnh giấy sặc-sỡ có dán mấy mảnh kính tròn, đứa thứ ba được cái cuốn góc nhà v.v…
Người ta cũng ngăn cấm chiếu-lệ, và một chiếc nhà táng chỉ cháy được một phần, còn đều bị lũ trẻ nhỏ chia nhau cướp hết. Người ta tin rằng lấy
những giấy nhà táng của những đám tang ông già bà lão thì được khước bởi vậy ít có đám tang giữ chiếc nhà táng được hoàn-toàn hỏa-thiêu.
Khi những người đô-tùy nâng chiếc nhà táng đi, còn trơ trên đòn rồng chiếc áo quan sơn son thiếp vàng, đầu và đuôi có khắc chữ thọ. Trên mặt áo quan những ngọn nến đang cháy dở, có ngọn đã tắt, nhưng nhiều ngọn khác mặc dầu ra trước gió vẫn leo-lét cháy. Giữa mặt áo quan là bát cơm bông với quả trứng luộc đã bóc.
Cả bát cơm lẫn quả trứng đều có người bưng lấy ngay. Theo sự tin-tưởng xưa nay, cơm bông này có thể chữa được bệnh sài mòn cho con trẻ.
Trong đám tang hay có những người tới nhắc bát cơm bông lấy về chữa bệnh cho con.
Sau lễ cúng Thổ-thần, những người đô-tùy cởi thừng chăng chiếc áo quan vào đòn, khiêng để hạ-huyệt.
Lúc này bà đồ kêu gào thảm-thiết, và Tiệp cũng rầm-rì khóc. Thôi từ
đây thật là cách biệt kẻ âm người dương.
Bà đồ lăn cả xuống huyệt, phải có người kéo lên. Bộ quần áo tang của bà lấm-lem màu đất. Tóc bà rũ-rượi, đôi mắt bà sưng mọng.
Tiệp cũng lăn-lộn thương cha. Nàng như muốn ngăn những người đô-tùy không cho chôn xác cha. Người ta phải kéo nàng ra, cũng như kéo bà đồ
sang một bên mới hạ-huyệt được chiếc áo quan của ông đồ.
Chiếc áo quan sơn đỏ của ông đồ từ từ hạ xuống nhờ mấy sợi giây thừng bắt ngang và do mấy người đô-tùy vừa buông dần dần xuống.
Pháp-sư lại tụng-niệm một hồi nữa. Tiếng kèn trống lại vang lên ở
nghĩa-địa.
Sau hồi tụng-niệm, những đống đất cao ở hai bên huyệt được cào xuống, và dần dần, một sẻng đất lại một sẻng đất, một nhát cuốc lại một nhát cuốc, ngôi mộ được đắp xong. Nấm mộ đã cao cao. Những đô-tùy đi đánh thêm những vừng cỏ đặt phủ lên mộ.
Trên đỉnh mộ hai chiếc phù-phất được chống chéo vào nhau.
Bà đồ và Tiệp lại khóc-lóc lăn-lộn trên mồ. Người nhà phải đỡ bà đồ và Khoan phải vào kéo Tiệp ra.
Khoan bảo vợ : « Thôi em, đằng nào thày cũng chết rồi, thày được mồ
yên mả đẹp thế này là tốt, em khóc-lóc làm gì quá, lăn-lộn làm gì nhiều, thày có sống lại được đâu ».
Một nắm hương đốt cắm trên đỉnh mộ.
Bây giờ làm lễ thành-phần, tức là lễ hoàn-tất ngôi mộ.
Tang-quyến lần-lượt đưa nhau vào lễ trước mộ, mỗi người hai lễ rưỡi.
Sau tang-quyến là học-trò ông đồ, rồi tới bạn-bè thân-thuộc. Ai cũng vào lễ
để từ-biệt cùng người khuất.
Cũng như ở nhà Vinh, Mẫn và Khoan lại đứng đáp lễ những thân-bằng cố-hữu.
Sau cuộc lễ, người ta lại đặt bài vị trên linh xa để khiêng ra về.
Tiếng kèn trống nghe buồn tênh. Lúc này người đi xem đã về hết, chỉ
còn lại một số người đi đưa đám.
Họ lặng-lẽ ra về. Cùng tiếng kèn trống uể-oải và một vài tiếng khóc mỏi-mệt của bà đồ và của Tiệp.
Ông đồ đã ra người thiên-cổ, để lại xót-thương cho con cháu.